Diễn Đàn Tuổi Trẻ Việt Nam Uhm.VN - Tình yêu qua ca dao Việt Nam (tt1)

Diễn Đàn Tuổi Trẻ Việt Nam Uhm.VN

Phiên bản đầy đủ: Tình yêu qua ca dao Việt Nam (tt1)
Bạn đang xem phiên bản rút gọn. Xem phiên bản đầy đủ với định dạng thích hợp.
Ai Chèo ghe bí qua sông.
Đạo vợ nghĩa chồng nặng lắm anh ôi.

Anh đi ghe rổi chín chèo,
Bởi anh thua bạc nên nghèo nợ treo.
Nợ treo mặc kệ nợ treo,
Em bán bánh bèo trả nợ cho anh.
Anh mất cây quạt, anh nực đà quá nực,
Anh dang tay đấm ngực đau đà quá đâm,
Đũa so le đôi chiếc khó cầm,
Liệu sao em liệu, thương thầm khó thương.
Ba năm cốt rụi xương tàn,
Dầu ai ve bậu, bậu làm bậu ăn.
Cầu mô cao bằng cầu danh vọng,
Nghĩa mô nặng bằng nghĩa chồng con.
Ví dầu nước chảy đá mòn,
Xa nhau nghìn dặm, lòng còn nhớ thương.
Con cua không sợ, anh sợ con còng,
Dao phay không sợ, sợ gái hai lòng hại anh.
Chim kia còn thỏ thẻ trên cành,
Nghe em nói vậy đã không đành rẽ phân.
Chín con chưa gọi rằng chồng,
Huống chi em bậu tay không mới về.
Chim chuyền nhành ớt rớt xuống nhành mai,
Vợ chồng xa cách làm ai cũng buồn.
Chim quyên đứng dựa bụi riềng,
Kiếm nơi đức hạnh trai hiền gởi thân.
Chồng chuồi, vợ dệt chiếu hoa,
Tay trao khổ dệt đôi đà đáng đôi.
Chồng Hồ, vợ Hớn, giả như nước lớn tràn bờ,
Lớn thời lớn vội một giờ cũng tan.
Chết ba năm sống lại một giờ,
Để xem người nghĩa phượng thờ làm sao.
Chuột kêu chút chít trong rương,
Anh đi cho khéo đụng giường mẹ hay.
Dĩa bàn than bịt vàng đốm chả,
Phụ mẫu em nghèo khoan đã bớ anh.
Dĩa bàn than tôm càng dựng đứng,
Phụ mẫu em nghèo không xứng sui gia.
Đèn ai leo lét bên sông,
Hay đèn mẹ chồng đi rước nàng dâu.
ĐÓ có đủ đôi ăn rồi lại ngủ,
Đây có một mình thức đủ năm canh.
Đờn ông đi biển có đôi,
Đờn bà đi biển mồ côi một mình.
Hạc thời đối hổ, hạc đổ nhành mai,
Hèn lâu gái mới gặp trai,
Chàng mà gặp thiếp như bài liền pho?
Anh thương em núi chảy thành tro, biển cạn thành gò,
Sông sâu chín lạch, sao đò còn đưa.
Vái trời chồng cũ vợ xưa,
Kết duyên phu phụ, nắng mưa có trời.
Lên voi túc một tiếng còi,
Thương con nhớ vợ, lịnh đòi anh phải đi.
Một mình lo tảo lo tần,
Lo phần sưu thuế lo phần chồng con.
Mình ơi, ta hỏi thiệt mình,
Còn thương nhau nữa hay tình muốn thôi?
Mất mẹ mất của anh đà khó kiếm,
Mất vợ mất chồng dễ kiếm như chơi.
Mới quần mới áo thì hay,
Chứ mới vợ mới chồng thì không ra gì.

Nước mắt nhỏ sa lấy khăn mu soa em chằm,
Cái điệu vợ chồng ngàn dặm chóng quên.
Ngó lên am tự chùa vàng,
Tu thời đặng đó, bỏ nàng ai nuôi.
Nhạn lạc bầy nhắm hướng nó bay,
Chớ chồng xa vợ may hay rủi nhờ.
Ớ người không quen ơi,
Nghe anh, em cũng muốn thương nhiều.
Nhưng hoa đà có chủ khó chiều dạ anh.


Phụng hoàng đua se sẻ cũng đua,
Anh chơi trước miếu sau chùa,
Dụng người buôn bán quê mùa thiếu chi.
Rắp toan cưỡi ngựa ra về,
Chàng đề câu đối, thiếp đề câu thơ.
Rồi đây anh cũng tính mua đồ,
Mua một cặp cua, đôi ba cặp vịt;
Cam quít, bưởi bòng, vài gói ô long,
Vài phong Bổn Lập, cây dù máy sập;
Đôi võng thêu cườm, khăn lụa vàng lườm,
Dầu chanh thơm ngát
Trước kính thăm cô bác,
Sau thăm nhạc mẫu ở nhà,
Dù, giày, khăn, võng gởi mà cho em.
Súp lê một còn than còn thở,
Súp lê hai còn đợi còn chờ,
Súp lê ba tàu ra biển Bắc,
Tay vịn song sắt, miệng chắc lười kêu trời.
Chồng nam vợ bắc sống đời được đâu.
Sông Ngân há dễ bắc cầu,
Trai vong vợ cũ, gái sầu chồng xưa.
Sóng trào cho chiếc lá nhồi,
Căn dươn (duyên) trắc trở đứng ngồi sao yên.
Trăm năm ai chớ bỏ ai,
Chỉ thêu nên phụng, sắt mài nên kim.
Trăm năm trăm tuổi may rủi một chồng,
Dầu ai thêu phụng vẽ rồng mặc ai.
Thương ai mà chẳng thương chồng,
Bới chồng bạc đạo nên trong lòng không thương.
Vịt nằm bờ mía rỉa lông,
Cám cảnh thương chồng đi học đường xa.
Vợ lớn đánh vợ nhỏ,
Chạy ra cửa ngỏ,
Cắn cỏ kêu trời,
Nhứt phu lưỡng phụ ở đời đặng đâu.
Vợ xa chồng cây ngã đá tan,
Chồng ôi mà xa vợ trời âm cang mưa hoài.
Vai mang khăn gói theo chồng,
Mẹ kêu con dạ, trở vào lạy mẹ cùng cha.
Xưa kia con ở nội gia,
Bây giờ còn xuất giá tùng phu, xuất gia tùng phụ,
Sách có chữ: tam cang ngũ thường,
Ngoài bìa có chữ phu phụ đạo đồng,
Thương cha, nhớ mẹ, đạo thương chồng phải theo.


Những nét trữ tình trong ca dao
Đây là phần phong phú nhất trong nền thi ca nhân gian Việt Nam. Chính những bài hát ca dao trữ tình này đã làm tài liệu cho những cuộc hát trống quân, hát quan họ.
Tình cảm trong ca dao là những đóa hoa hương sắc muôn màu, tô điểm cho đời sống dẫu cho nỗi lòng mang đầy những giọt nước mắt sót xa, những nhớ nhung giận hờn, những háo hức vui mừng… nhưng đôi khi cũng làm dịu bớt cái khắc khe đen tối trong đời sống người dân dã.
Như nhà biên khảo văn học Minh Hương đã viết trong bộ sách Tìm Về Nguồn Cội: ”Trên địa hạt ca dao, nếu đi sâu vào việc nghiên cứu, chúng ta có thể gặt hái được nhiều thỏa mãn kỳ thú bất ngờ vì tình cảm thể hiện trong tục ngữ ca dao không quá đơn giản, thô kệch như xưa nay có người lầm tưởng mà thực ra thì rất sinh động về hình thức và rất ý nhị bổ ích về nội dung.”
Qua ca dao, ta ta khám phá được những kỳ thú bất ngờ, ý nhị, lãng mạng… đôi khi khá táo bạo. Những nếp tình, những nét cảm của người dân dã không chỉ thu hẹp trong phạm vi thất tình (mừng, giận, thương, ghét, buồn, sợ, muốn), mà những nếp tình nét cảm ấy được thể hiện qua:
– Hương thơm dìu dịu thoang thoảng, đủ các hương vị để diễn tả sự trong trắng trinh nguyên, lòng chung tình chung thủy và nếp tình thâm trầm sâu sắc cũng như phong tư đạo đức.
– Tình cảm cũng thường được lồng trong không gian và thời gian, gắn bó với thời thế.
– Cái ngộ nghĩnh của ca dao là tình cảm cũng được cụ thể hóa qua loài vật, cây cỏ và cả những vật vô tri vô giác.

Những luống tình, những gợi cảm ấy nẩy nở một cách phong phú, đa dạng:
– Đôi lúc thật đơn sơ, ngây ngô bình dị, thật hơn thành.
– Đôi lúc diễn tả thật sâu sắc nổi ước mơ của người nam, của người nữ.
– Để rồi mang lòng nhớ mong, phải ôm niềm đau sót sầu khổ
– Để rồi canh cánh lo âu vì gia cảnh không tương xứng, vì tương lai mờ mịt, vì cái phong kiến bất công…
– Để rồi đành than thở thương thân trách phận hay trách móc, giận hờn, và cũng không thiếu lòng ghen ghét thường tình.

Anh nói em cũng nghe anh,
Bát cơm đã trót chan canh mất rồi.
Nuốt đi đắng lắm anh ơi,
Bỏ ra thì để tội trời ai mang.
Anh về, em nắm cổ tay,
Em dặn câu này, anh chớ có quên.
Đôi ta đã trót thề nguyền,
Chớ xa xôi mặt mà quên tấm lòng.
Ăn chanh, ngồi gốc cây chanh
Khuyên cội, khuyên cành, khuyên lá, khuyên lung.
Khuyên cho đấy vợ, đây chồng,
Đấy bế con gái, đây bồng con trai.
Ắy ai đắt mối tơ mành,
Cho thuyền quen bến, cho anh quen nàng.
Tơ tằm đã vấn thì vương,
Đã trót dan díu thì thương nhau cùng.
Bươm bướm mà đậu cành hồng,
Đã bế con chị, lại bồng con em.
Bây giờ mận mới hỏi đào:
Vườn hồng, đã có ai vào hay chưa?
Mận hỏi thì đào xin thưa:
Vườn hồng có lối, nhưng chưa ai vào.
Bướm già thì bướm có râu,
Thấy bông hoa nọ, cuối đầu bướm châm.
Bướm châm nhưng bướm lại nhầm,
Có bông hoa nọ, ong châm mất rồi!
Bạc sao bạc, chẳng vừa thôi,
Để cho nước chảy, hoa trôi lở làng.
Tin sang, chẳng thấy người sang,
Hẹn ba, bốn hẹn, lòng càng xót xa
Đoạn tràng phải bước chân ra,
Gió xuân hiu hắc, sương sa lạnh lùng.
Cách nhau một bức rào thưa,
Tay chùi nước mắt, tay đưa miếng trầu.
Cây đa lá rụng sân đình,
Bao nhiêu lá rụng, thương mình bấy nhiêu.
Có chồng, em nói rằng chưa
Tội riêng em chịu, chẳng lừa nổi anh.
Có trầu, có vỏ, có vôi
Có chăn, có chiếu, không người nằm chung!
Con đò đậu gốc cây đa,
Cây đa bến cũ chẳng xa con đò!
Còn duyên, đóng cửa kén tằm,
Hết duyên, ngồi dưới gốc hồng, nhặt hoa.
Còn duyên kẻ dón, người đua
Hết duyên, đi sớm, về trưa mặc lòng.

Con chim nho nhỏ,
Cái lông nó đỏ,
Cái mỏ nó vàng,
Nó kêu người ở trong làng,
Đừng tham là lụa, phụ phàng vải thưa.
Cầu này, cầu ái, cầu ân
Một trăm con gái rửa chân cầu này!
Có rửa thì rửa chân tay,
Chớ rửa lông mày, chết cá ao anh.
Có yêu thì nói rằng yêu,
Chẳng yêu thì nói một điều cho xong!
Làm chi dở **, dở trong
Lờ lờ bến nước cho lòng tương tư.
Còn đêm nay nữa, anh đi,
Lượng vàng không tiếc, tiếc khi ngồi kề.
Còn đêm nay nữa, mai về
Lạng vàng không tiếc, tiếc kề môi son.
Cô kia cắt cỏ bên sông,
Có muốn ăn nhãn, thì lồng sang đây.
Sang đây, anh nắm cổ tay,
Anh hỏi câu này: có lấy anh không?
Cô kia cắt cỏ một mình,
Cho anh cắt với, chung tình làm đôi.
Cô còn cắt nữa hay thôi?
Cho anh vắt với, làm đôi vợ chồng.
Cô kia khăn trắng tang ai?
Nhất tang cha mẹ, thứ hai tang chồng.
Tang chồng thì vứt khăn đi,
Tang cha, tang mẹ, ta thì tang chung.
Có thương thì thuơng cho chắc,
Còn trục trặc thì trục trặc cho luôn!
Đừng như con thỏ đầu truông,
Khi vui giỡn bóg, khi buồn giỡn trăng.
Cầu Tràng Tiền, sáu vầy mười hai nhịp,
Anh qua không kịp, tội lắm em ơi!
Bấy lâu ni, chịu tiếng, mang lời
Dẫu có xa nhau đi nữa, cũng bởi ông trời mà ra.
Cô thương nhớ ai, ngơ ngẩn đầu cầu?
Lược thưa biếng chải, gương tàu biếng soi.
Sập đá hoa, bỏ vắng chẳng ai ngồi!
Buồng hương lạnh lẽo để cho người quay tơ!
Cô thương nhớ ai ra ngẩn, vào ngơ?
Đêm quên giấc ngủ, ngày mơ trận cười.
Đêm năm canh, ngày sáu khắc chàng ơi!
Chàng cười nửa miệng, thiếp tôi nửa lòng.
Cái quạt mười tám cái nan,
Ở giữa phất giấy, hai nan hai đầu
Quạt này anh để che đầu,
Đêm đi ngủ, chung nhau quạt này.
Ước gì chung mẹ chung thầy,
Để em giữ lấy quạt này làm thân.
Rồi ta chung gối chung chăn,
Chung quần, chung áo, chung khăn đội đầu.
Nằm thời chung cái giường tàu,
Dậy thời chung cái hộp trầu, ống vôi.
Ăn cơm chung cả một nồi,
Gội đầu, chung cả dầu hồi, nước hoa.
Chải đầu chung cái lược ngà,
Soi gương, chung cả ngành hoa dắt đầu.
Canh một thơ thẩn vào ra,
Chờ trăng, trăng xế, chờ hoa, hoa tàn.
Canh hai thắp ngọn đèn loan,
Chờ người quân tử, thở than đôi lời.
Canh ba, đang nói đang cười,
Còn hai canh nữa, mỗi người mỗi phương.
Canh tư ghi chép lời nguyền,
Khứ lai minh bạch cho truyền thủy chung.
Canh năm, cờ phất, trống rung,
Tiếng gà giục giã, ta cùng chia tay
Cầm lược thì nhớ đến gương,
Nằm chăn nhớ chiếu, nằm giường nhớ nhau.
Con chim buồn, con chim bay về cội,
Con cá buồn, con cá lội trong sông.
Em buồn, em đứng em trông,
Ngõ thì thấy ngõ, người không thấy người!
Chàng về để áo lại đây,
Phòng khi em nhớ, cầm tay đỡ buồn.
Chàng về để thiếp xin đưa,
Xin trời lại nắng, đừng mưa trơn đường.
Chẳng chè, chẳng chén , sao say?
Chẳng thương, chẳng nhớ, sao hay đi tìm.
Chẳng nên tình trước nghĩa sau,
Có con ta gả cho nhau thiệt gì.
Chim quyên ăn trái nhãn lồng,
Thia lia quen chậu, vợ vhồng quen hơi.
Chim quyên xuống núi tha mồi,
Thấy em lao khổ, anh ngồi sao yên.
Chiều nay có kẻ thất tình,
Tựa mai, mai ngã, tựa đình, đình xiêu.
Chớ chê em xấu, em đen,
Em như nước đục, đánh phèn lại trong.
Chim buồn, chim bay về núi,
Cá buồn, cá chúi xuống sông.
Người buồn, ra ngõ đứng trông.
Ngõ thì thấy ngõ, người không thấy người.
Chim xa bầy, thương cây nhớ cội,
Người xa người, tội lắm! người ơi!
Chẳng thà không biết thì thôi,
Biết nhau rồi mỗi đứa một nơi sao đành.
Chim xanh ăn trái xoài xanh,
Ăn no tắm mát, đậu cành cây đa.
Cực lòng em phải nói ra,
Chờ trăng xế, chờ hoa, hoa tàn.
Chiều nay trước bến Vân Lâu,
Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm?
Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông?
Thuyền ai thấp thoáng bên sông,
Đưa câu mái đẩy, chạch lòng núi non!
Chén tình là chén say sưa,
Nón tình em đội nắng mưa trên đầu.
Lược tình em chải trên đầu,
Gương tìng soi mặt là làu sáng trong.
Ngồi buồn nghĩ đến hình dong,
Con dao lá trúc cắt lòng đôi ta.
Duyên đôi ta, thề nguyền từ trước,
Biết bao giờ ta được cùng nhau?
Tương tư mắc phải mối sầu,
Em đây vẫn giữ một màu đợi anh.
Dao vàng, dọc lá trầu vàng,
Mắt anh, anh liếc, mắt nàng, nàng đưa.
Dế kêu cho giải cơn sầu,
Mấy lời em nói, bạc đầu không quên.
Duyên kia ai đợi mà chờ,
Tình kia ai tưởng mà tơ tưởng tình.

Dù ai cho bạc cho vàng,
Chẳng bằng trông thấy mặt chàng hôm nay.
Dù ai cho nhẫn đeo tay,
Chẳng bằng trông thấy mặt ngay bây giờ.
Đêm qua, nằm dưới bóng trăng,
Thương cha, nhớ mẹ, không bằng nhớ em.
Đêm nằm lưng chảng tới giường
Mong cho mau sáng , ra đường gặp em.
Đêm qua ra đứng bờ ao,
Trông cá, cá lặn, trông sao, sao mờ.
Buồn trông con nhện giăng tơ,
Nhện ơi! Nhện Hỡi! Nhện chờ mối ai?
Buồn trông chênh chếch sao mai,
Sao ơi! Sao hỡi! Nhớ ai sao mờ?
Đêm đêm tưởng dải Ngân Hà,
Mối sầu tính đã đâu ba năm tròn.
Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn,
Tào khê nước chảy vẫn còn trơ trơ.
Đi đâu để nhện giăng mùng,
Để đôi chiếu lạnh, để phòng quạnh hiu.
Đi qua thấy búp hoa đào,
Muốn vào mà bẻ, sợ rào lắm gai.
Đi ngang thấy ngọn đèn chong,
Thấy em nho nhỏ, muốn bồng mà ru…
Đi ngang nhà má,
Cái tay tôi xá,
Cái cẳng tôi quỳ,
Lòng thương con má, xá gì thân tôi!






Tình yêu là bản chất thiêng liêng và tự nhiên của con người cho nên dù ở thời đại nào, tình yêu bao giờ cũng là đề tài bất tận cho những áng văn chương.
Việt Nam chúng ta từ ngàn xưa là một quốc gia nông nghiệp. Với hình thể chữ S mềm mại uốn cong ven bờ Thái Bình Dương, với cảnh vật thiên nhiên kỳ tú như cỏ cây hoa lá, như núi cả sông sâu, như lũy tre xanh, như đồng ruộng óng ả lúa vàng,... hòa với tâm tình và lịch sử của dân tộc, quê hương Việt Nam đã có một nền văn chương bình dân hay bác học hết sức phong phú đầy nét vẽ chân thành pha lẫn những điểm tế nhị và sâu sắc.
Trong cái tình cảm đa dạng đó của dân tộc, tình yêu nam nữ đã vươn lên như cánh hoa nở trong vườn đời, tạo nên biết bao câu ca giao tình tứ , bao vần thơ truyền khẩu lãng mạn.

I. Giai đoạn tỏ tình.
Tình yêu đã nảy nở trong những buổi rạng đông khi sương mai còn ướt đẫm cỏ cây, khi chim muông còn đang ngại ngùng trong giấc ngủ, hay trong những buổi chiều tà khi mặt trời đã gác non đoài, với những đoàn trai gái trong làng vác cày rửa hái để trở về mái nhà tranh sau một ngày làm việc. Những làn khói cơm chiều lan tỏa vươn trong giải mây tím hòa lẫn với tiếng hát của trẻ mục đồng đang dắt trâu trở về, đã phác họa cho chúng ta hình ảnh một miền quê êm ả thanh bình.
Trên trời dưới nước, thấp thoáng sau lũy tre xanh, quanh co bên bờ đê ấp yêu ruộng đồng, rì rào bên sóng lúa chín vàng, mênh mang trong tiếng sáo diều vi vu... tất cả những hình ảnh đẹp đó đã gợi nên những vần thơ trao hỏi ý tình giữa trai gái trong làng.
Hãy nghe chàng trai mở đầu, hỏi người thôn nữ bằng một câu hỏi ỡm ờ, gợi ý xa xôi:
Hôm qua tát nước đầu đình
Để quên chiếc áo trên cành hoa sen
Em được thì cho anh xin
Hay là em để làm tin trong nhà.

Người con trai thật sự chưa chắc đã để quên cái áo, nhưng chàng cố ý gài người thôn nữ vào thế phải trả lời khi tỏ ý ngờ rằng nàng đã giữ cái áo của mình để làm tin.
Cũng có khi chỉ là một câu hỏi bâng quơ nhưng diễn đạt bằng những câu thơ thật trữ tình của một đêm trăng sáng, chàng trai có nhiều hi vọng để được cô gái trả lời:
Hỡi cô tát nước đầu làng
Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi

Nhiều khi chàng mạnh dạn hơn:

Cô kia cắt cỏ một mình
Cho tôi cắt với chung tình làm đôi
Cô còn cắt nữa hay thôi
Cho tôi cắt với làm đôi vợ chồng

Nhưng thường thì các chàng trai làng hỏi dọ ý một cách nhẹ nhàng hơn, không dùng hai chữ “vợ chồng” nghe có vẻ suồng sã, mà dùng hai chữ “kết duyên”, có vẻ thơ mộng hơn:
Hỏi xa anh lại hỏi gần
Hỏi em phỏng độ đương xuân thế nào
Thấy em là gái má đào
Lòng anh chỉ muốn ra vào kết duyên

Phía bên con gái, các thôn nữ không phải lúc nào cũng chỉ biết e lệ làm thinh, mà đôi khi cũng rất bạo dạn để ngỏ lời trước:
Hỡi anh đi đường cái quan
Dừng chân đứng lại em than vài lời.

Các cô bạo dạn, nhưng bạo dạn trong hồn nhiên:
Vào vườn hái quả cau xanh
Bổ ra làm sáu mời anh xơi trầu

Cử chỉ mời trầu đó không có tính cách lơi lả, mà chỉ chứng tỏ rằng người thôn nữ muốn sống thành thật với chính mình. Hai chữ “cau xanh” chỉ mối tình son trẻ, hai chữ “xơi trầu” có ý nghĩa trân trọng. Và bốn chữ ghép lại thành hai chữ “trầu cau” chỉ sự mong ước cho một mối duyên Tấn Tần. Người con trai chắc chắn không thể nào không nhận miếng trầu mời bởi người con gái trong cái cung cách lịch sự ấy.
Nhưng các cô thôn nữ nhiều khi sợ mình yêu mà chưa chắc đã được yêu, hay sợ tình yêu của mình đến chậm chăng, nên đôi lúc các cô cũng quanh co rào trước đón sau:
Anh đà có vợ con chưa
Mà anh ăn nói ngọt ngào có duyên
Mẹ già anh ở nơi nao
Để em tìm vào hầu hạ thay anh.

Những câu tỏ tình như đã kể trên thường chỉ là những câu mà trong lúc vắng vẻ, hai người đã hỏi ý cùng nhau. Tất cả đều là những câu mộc mạc chân tình, nhưng không kém vẻ lãng mạn trữ tình.
Trong những dịp hội hè có hát đối giữa hai nhóm trai gái của hai làng kế cận, những câu tỏ tình được gợi ra thật nhẹ nhàng bóng bẩy, như có chất thơ.
Bên con trai hỏi:
Bây giờ mận mới hỏi đào
Vườn hồng đã có ai vào hay chưa

Bên con gái đáp:
Mận hỏi thì đào xin thưa
Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào

Hay lãng mạn hơn:
Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ trước gió biết vào tay ai

Thật là những câu đối đáp hết sức thi vị, mượn ngoại cảnh để nói lên nỗi lòng. Bảo rằng văn chương bình dân, nhưng nhiều khi còn trữ tình và thơ mộng hơn văn chương bác học. Chẳng hạn như nói tới lứa tuổi đôi mươi của người thôn nữ, phong cảnh đồng nội hữu tình đã được lồng trong ước mộng vàng son của lứa đôi:
Ngọc còn ẩn bóng cây tùng
Thuyền quyên còn đợi anh hùng sánh vai.

Người con gái cũng như bông hoa còn đang giấu nhụy để chờ ngày khoe sắc với chàng bướm lang quân.

II. Giai đoạn tình yêu.
Sau giai đoạn tỏ tình là đến giai đoạn yêu đương và đây là thời gian thơ mộng nhất cũng như đầy thử thách nhất. Nào yêu thương, nào nhớ nhung, nào giận hờn, nào xa cách, nào đợi chờ...
Hãy nghe chàng và nàng thủ thỉ bên nhau những lời âu yếm:

Thương anh, em để ở đâu
Để trong cuốn sách để đầu trang thơ
Thương em, anh để ở đâu
Để trong tay áo lâu lâu lại dòm

Khi phải tạm xa nhau, chàng trai luyến tiếc những giây phút cận kề:
Còn đêm nay nữa mai đi
Lạng vàng không tiếc, tiếc khi ngồi kề.

Trời đã sáng, những gặp gỡ hàn huyên đêm qua giờ chỉ còn là kỷ niệm mong manh để làm hành trang cho cuộc đăng trình.
Còn nàng thôn nữ thì cũng nức nở trong ngấn lệ đầy vơi:

Có đêm thơ thẩn một mình
Ở đây thức cả năm canh rõ ràng
Có đêm tạc đá ghi vàng
Ngày nào em chả nhớ chàng, chàng ơi.

Đi đâu, làm gì, nàng đều cảm thấy nỗi nhớ đeo đẳng và vương dấu tích khắp nơi khiến xao lãng cả công việc thường ngày:
Chiều chiều mang giỏ hái dâu
Hái dâu chả hái, nhớ câu ân tình

Những nhớ nhung đó đã đong đầy thêm tình yêu, để khi gặp lại thì hai người vội vã ước hẹn cho những mộng ước mai sau:
Nàng thì:

Ước gì chung mẹ chung thầy
Để em giữ cái quạt này làm thân

Và tình tứ hơn nữa:
Chải đầu chung cái lược ngà
Soi gương chung cả cành hoa giắt đầu

Còn chàng thì cũng dùng cái quạt để xẻ chia hương nồng:

Quạt này anh để che đầu
Đêm đêm đi ngủ chung nhau quạt này

Hay vẽ ra những âu yếm trang trọng mà chàng sẽ dành cho nàng:
Ước gì ta lấy được nàng
Để ta mua gạch Bát Tràng về xây
Xây dọc rồi lại xây ngang
Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân

Thật là cao sang, cầu kỳ và thơ mộng. Rồi thì cuối cùng cả hai cùng cầu nguyện cho một ngày vui mau pháo đỏ nhuộm đường:
Nấu chè van vái Nguyệt hà
Khiến cho sum hiệp một nhà phụng loan.

III. Giai đoạn tình nghĩa phu thê.

Rồi năm tháng qua, bánh xe tình yêu đã đưa đôi nam nữ đến bến bờ của yêu đương hạnh phúc. Bây giờ tình yêu không còn thuần túy là thương mây khóc gió hay vẩn vơ nhung nhớ nữa mà tình yêu đã đi chung với bổn phận và trách nhiệm.
Có những cuộc hôn nhân đem lại hạnh phúc và thủy chung, nhưng cũng có những cuộc hôn nhân chỉ đem đến đắng cay và chán chường.

1) Những cuộc hôn nhân hạnh phúc.
Sau ngày cưới, có những cuộc sống chung vẫn luôn luôn tốt đẹp. Đó là nhờ sự cố gắng yêu thương và nhường nhịn của cả đôi bên, nhưng phần lớn là nhờ ở người vợ với những đức tính hiền hòa, nhu mì và biết lẽ thủy chung.
Hãy ngắm nhìn hình ảnh đẹp của một đôi vợ chồng nông dân trong công việc đồng áng tuy vất vả nhưng luôn luôn có nhau để tạo dựng cuộc sống:
Trên đồng cạn dưới đồng sâu
Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa.

Hình ảnh đó đã phản ảnh lời cùng nhau hứa hẹn khi đang chuẩn bị cho cuộc hôn nhân

Làm sao nên nghĩa phu thê
Đó chồng đây vợ ra về có đôi.

hoặc sự hòa thuận xẻ chia gánh nặng đường đời:

Thuận vợ thuận chồng
Tát bể đông cũng cạn.

Nhưng để đi đến hạnh phúc ấy, cả hai vợ chồng đều phải nương cậy và nhường nhịn lẫn nhau:
Tay bưng dĩa muối chấm gừng
Gừng cay muối mặn xin đừng bỏ nhau.

Nhất là người vợ, với ảnh hưởng của nền luân lý đạo Nho, đạo Khổng:

Chồng ta áo rách ta thương
Chồng người áo gấm xông hương mặc người.

Chiều chồng và lo lắng món ăn thức uống cho chồng cũng là đức tính của người phụ nữ Đông phương. Họ cảm thấy đó là niềm vui, là bổn phận tự nguyện và xa hơn nữa, là hạnh phúc:
Đốt than nướng cá cho vàng
Đem tiền mua rượu cho chàng uống chơi.

Xem như thế, từ lúc gợi ý quen nhau đến lúc yêu thương và cuối cùng là cuộc sống chung lứa đôi, người dân Việt Nam đã hoàn toàn nêu gương tốt về sự yêu thương và chung thủy:
Dẫu cho đá nát vàng phai
Trăm năm duyên nợ chẳng phai chút nào.

2) Những cuộc hôn nhân không hạnh phúc.
Có những cuộc hôn nhân không đem lại hạnh phúc, do việc ép gả của mẹ cha, nhiều khi chỉ vì “môn đăng hộ đối” mà quên đi sự lựa chọn cần thiết của chính con mình:
Mẹ em ham thúng xôi dền
Tham con lợn béo tham tiền Cảnh Hưng
Bây giờ kẻ thấp người cao
Như đôi đũa lệch so sao cho bằng.

Hay người chồng về sau bỗng sinh “mèo chuột” và bỏ bê vợ con trong nỗi cô đơn mong chờ:
Gió đưa bụi chuối sau hè
Anh mê vợ bé bỏ bè con thơ.

Cũng đôi khi do tại người chồng bỗng nhiên va phải những thói hư tật xấu như cờ bạc hay rượu chè khiến hạnh phúc gia đình chỉ còn là hình ảnh đã phôi pha:
Chồng em nó chẳng ra gì
Tổ tôm xốc đĩa nó thì chơi hoang.

Danh từ “nó” dùng để chỉ người chồng, chứng tỏ rằng người vợ không còn tìm thấy ở chồng mình những điểm để nàng thương yêu hay kính trọng. Tuy nhiên vì sợ hàng xóm chê cười nên nàng đành cam chịu số phận hẩm hiu:
Nói ra xấu thiếp hổ chàng
Nó giận nó phá tan hoang cửa nhà
Đắng cay ngậm quả bồ hòn
Con nhà gia thế chồng con kém người.

Về phần những người chồng hiền lành, nhiều khi cũng rất buồn vì người vợ đã thiếu mặn nồng trong tình yêu. Nguyên do cũng vì tục tảo hôn, được cha mẹ gả cho một người vợ không yêu mình vì nàng đã có trước một người yêu:
Lấy chồng chẳng biết mặt chồng
Đêm nằm tơ tưởng đến ông láng giềng.

Hay có những bà vợ, tưởng rằng đã lấy nhau rồi thì không còn gì mà phải giữ gìn sắc đẹp, chỉ cần lo nội trợ là đủ. Họ đâu nghĩ rằng nếu ăn mặc bê bối hoặc để nhan sắc tàn phai, sẽ làm người chồng chóng chán và hạnh phúc gia đình cũng vì thế mà nhạt phai:
Chửa chồng nón thúng quai thao
Chồng rồi nón rách quai nào thì quai
Chửa chồng yếm thắm đeo hoa
Chồng rồi hai vú bỏ ra tày giành

Và những lời thở than chung về những cuộc hôn nhân không đẹp mà hiện tại chỉ là một gánh nặng:
Gái có chồng như gông đeo cổ
Trai có vợ như nhợ buộc chân

Hay:
Chồng gì anh, vợ gì tôi
Chẳng qua lá cái nợ đời chi đây

IV. Kết luận
Tình yêu và hôn nhân, cũng như mọi chuyện trên thế gian, đều có những bề mặt trái không tốt đẹp. Tuy nhiên những bề mặt trái đó chỉ là thiểu số và so với các quốc gia Tây phương, tình yêu và hôn nhân của người Việt Nam chúng ta có rất nhiều điểm đáng ngưỡng mộ.
Trước tiên, tình yêu của người Việt chúng ta nặng nhiều về mặt tình cảm và nhẹ nhiều hơn về mặt vật chất. Tình yêu của chúng ta lãng mạn hơn và trữ tình hơn. Nhục dục không phải là vấn đề trên trước. Cho nên đã có câu:

Thấy em đẹp nói đẹp cười
Đẹp người đẹp nết ra vào đoan trang
Vậy nên anh gửi thư sang
Dù sao anh quyết lấy nàng mà thôi.

Về mặt hôn nhân, những đức tính nhường nhịn, dĩ hòa vi quý và thủy chung vẫn còn ảnh hưởng sâu đậm trong lề lối suy nghĩ và cư xử của chúng ta. Phải chăng nền luân lý thâm sâu của Nho giáo từ ngàn xưa trong lịch sử 4000 năm văn hiến vẫn chưa nhạt mờ trong tâm huyết:
Em ơi chua ngọt đã từng
Non xanh nước bạc ta đừng quên nhau

hay:
Trăm năm lòng gắn dạ ghi
Dẫu ai đem bạc đổi chì cũng không.