﻿﻿﻿<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0" xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/" xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">
	<channel>
		<title><![CDATA[Diễn Đàn Tuổi Trẻ Việt Nam Uhm.VN - Triết học]]></title>
		<link>https://uhm.vn/forum/</link>
		<description><![CDATA[Diễn Đàn Tuổi Trẻ Việt Nam Uhm.VN - https://uhm.vn/forum]]></description>
		<pubDate>Sat, 23 May 2026 21:15:37 +0000</pubDate>
		<generator>MyBB</generator>
		<item>
			<title><![CDATA[Tìm hiểu tư tưởng nhân văn Chủ tịch Hồ Chí Minh]]></title>
			<link>https://uhm.vn/forum/Thread-T%C3%ACm-hi%E1%BB%83u-t%C6%B0-t%C6%B0%E1%BB%9Fng-nh%C3%A2n-v%C4%83n-Ch%E1%BB%A7-t%E1%BB%8Bch-H%E1%BB%93-Ch%C3%AD-Minh</link>
			<pubDate>Mon, 02 Aug 2021 17:30:11 +0700</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://uhm.vn/forum/member.php?action=profile&uid=6">Uhm.Vn</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://uhm.vn/forum/Thread-T%C3%ACm-hi%E1%BB%83u-t%C6%B0-t%C6%B0%E1%BB%9Fng-nh%C3%A2n-v%C4%83n-Ch%E1%BB%A7-t%E1%BB%8Bch-H%E1%BB%93-Ch%C3%AD-Minh</guid>
			<description><![CDATA[<div style="text-align: center;" class="mycode_align"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b"><span style="font-size: 1pt;" class="mycode_size"><span style="font-family: 'Helvetica Neue', Helvetica, Arial, sans-serif;" class="mycode_font">Tìm hiểu tư tưởng nhân văn Chủ tịch Hồ Chí Minh</span></span></span></div>
<span style="font-size: medium;" class="mycode_size"><span style="font-family: 'Helvetica Neue', Helvetica, Arial, sans-serif;" class="mycode_font"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b"><strong>                          ThS. Ngô Thị Thu Hà<br />
Phó Hiệu trưởng</span></strong></span><br />
</span><br />
<div style="text-align: justify;" class="mycode_align"><span style="font-family: 'Helvetica Neue', Helvetica, Arial, sans-serif;" class="mycode_font">Chủ tịch Hồ Chí Minh - anh hùng giải phóng dân tộc, người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, nhà văn hoá lớn của nhân loại đã đi xa, nhưng đã để lại cho chúng ta tài sản tinh thần to lớn, đó là tư tưởng Hồ Chí Minh mang giá trị nhân văn cao cả. Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống các quan điểm toàn diện, sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, với nội dung cốt lõi, xuyên suốt là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tất cả vì mục đích giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và giải phóng con người. Cả cuộc đời và sự nghiệp của Người là tấm gương sáng về sự cống hiến hy sinh cho độc lập dân tộc, hạnh phúc của nhân dân. Tư tưởng nhân văn là một nội dung quan trọng trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng đó đến nay vẫn còn giữ nguyên giá trị, là cơ sở để Đảng và Nhà nước ta hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách phát triển con người toàn diện trong sự nghiệp đổi mới hiện nay. Ở bài viết này, người viết chỉ đề cập một số nội dung cơ bản trong tư tưởng nhân văn của Người.<br />
Nhân văn chính là những tư tưởng, quan điểm, tình cảm khi bàn về các giá trị sống của con người như phẩm giá, tình cảm, trí tuệ, vẻ đẹp, sức mạnh. Xét thực chất nhân văn là giá trị mang tính phổ quát, hướng con người đến các giá trị chân- thiện - mỹ.<br />
Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh là “<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">toàn bộ suy nghĩ và tình cảm đã chi phối suốt cả cuộc đời của Người, một cuộc đời đấu tranh không mệt mỏi cho độc lập dân tộc và hạnh phúc của nhân dân, cho sự giải phóng của cả nhân loại và của mỗi con người</span>”<a href="http://truongleduan.quangtri.gov.vn/vi/hoat-dong-khoa-hoc/Nghien-cuu-trao-doi/tim-hieu-tu-tuong-nhan-van-chu-tich-ho-chi-minh-319.html#_ftn1" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="color: #205fa0;" class="mycode_color">[1]</span></a>.<br />
Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh bắt nguồn từ những truyền thống tốt đẹp được hun đúc trong quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam như sự nhân ái, khoan dung và lòng yêu thương con người sâu sắc. Trên cơ sở truyền thống nhân nghĩa của dân tộc và tinh hoa văn hoá nhân loại cùng với chủ nghĩa nhân đạo cộng sản đã làm cho tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh có bước chuyển hoá về chất, nâng lên tầm cao mới trở thành tư tưởng nhân văn cộng sản.<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b"><strong><span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Thứ nhất, tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh là hướng tới giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người</span></span></strong><br />
Đây là đặc trưng cơ bản, xuyên suốt và nhất quán mang tính nhân văn trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh. Muốn giải phóng con người thì trước hết phải giải phóng dân tộc. Bởi vì, giải phóng con người không thể tách rời giải phóng dân tộc, không thể có con người tự do trong đất nước bị nô lệ, lầm than. Vì vậy, tháng 7 năm 1920, Nguyễn Ái Quốc khi bắt gặp “Những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin” đăng trên báo L Humanite. Người đã nhận thấy đây là con đường duy nhất của cách mạng Việt Nam. Người viết “<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Luận cương của Lênin làm tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang đứng trước quần chúng đồng bào: “Hỡi đồng bào bị đoạ đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta</span>”<a href="http://truongleduan.quangtri.gov.vn/vi/hoat-dong-khoa-hoc/Nghien-cuu-trao-doi/tim-hieu-tu-tuong-nhan-van-chu-tich-ho-chi-minh-319.html#_ftn2" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="color: #205fa0;" class="mycode_color">[2]</span></a>.<br />
Theo Hồ Chí Minh, chỉ có độc lập dân tộc thực sự mới có nền hoà bình chân chính, mới có độc lập dân tộc hoàn toàn. Không thể có độc lập dân tộc thực sự khi đất nước vẫn còn sự lệ thuộc. Người khẳng định, toàn thể nhân dân Việt Nam kiên quyết đấu tranh giành cho được độc lập, khi giành được độc lập dân tộc thì cả nước phải tiến lên chủ nghĩa xã hội. Bởi vì đất nước độc lập mà người dân không được hưởng tự do, hạnh phúc, thì độc lập ấy cũng chẳng có ý nghĩa gì. Người dân chỉ biết rõ giá trị của độc lập, tự do khi mà họ được ăn no, mặc ấm. Vì vậy, chủ nghĩa xã hội là con đường duy nhất có thể giải phóng triệt để người dân khỏi thân phận nô lệ, bất công xã hội, nghèo đói, Người đã nhiều lần khẳng định: “<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên toàn thế giới khỏi ách nô lệ”<a href="http://truongleduan.quangtri.gov.vn/vi/hoat-dong-khoa-hoc/Nghien-cuu-trao-doi/tim-hieu-tu-tuong-nhan-van-chu-tich-ho-chi-minh-319.html#_ftn3" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="color: #205fa0;" class="mycode_color"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b"><strong>[3]</span></strong></span></a>.</span><br />
Để thực sự giải phóng được nhân dân lao động ở nước ta, theo Hồ Chí Minh: “<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Chúng ta phải xây dựng một xã hội hoàn toàn mới xưa nay chưa từng có trong lịch sử dân tộc ta. Chúng ta phải tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công thương nghiệp tư nhân, đối với thủ công nghiệp. Chúng ta phải biến một nước dốt nát, cực khổ thành một nước văn hoá cao và đời sống vui tươi hạnh phúc. Chúng ta lại phải tiến hành những nhiệm vụ đó trong điều kiện đặc biệt của nước ta, nghĩa là trên cơ sở của một xã hội vừa thoát khỏi ách thực dân phong kiến, hết sức lạc hậu</span>”<a href="http://truongleduan.quangtri.gov.vn/vi/hoat-dong-khoa-hoc/Nghien-cuu-trao-doi/tim-hieu-tu-tuong-nhan-van-chu-tich-ho-chi-minh-319.html#_ftn4" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="color: #205fa0;" class="mycode_color">[4]</span></a>. Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, chủ nghĩa xã hội mang trong bản thân nó bản chất nhân văn.<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b"><strong><span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Thứ hai, tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh thể hiện lòng yêu thương con người sâu sắc</span></span></strong>.<br />
Yêu thương con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh xuất phát từ truyền thống nhân nghĩa của dân tộc, nhân văn của nhân loại và chủ nghĩa nhân đạo cộng sản. Hồ Chí Minh coi yêu thương con người là phẩm chất đạo đức cao đẹp nhất. Tình yêu thương ấy trước hết đối với những người lao động, những người nghèo khổ, những người bị áp bức bóc lột. Trải qua quá trình tìm đường cứu nước, đi bốn biển năm châu đặt chân đến gần 30 nước, Người rút ra kết luận trên thế giới chỉ có hai loại người: người bóc lột và người bị bóc lột. Người đi sâu phân tích tìm ra nguyên nhân gây ra nỗi thống khổ của nhân dân lao động do áp bức, bóc lột giai cấp và áp bức dân tộc, chủ nghĩa đế quốc như con đỉa hai vòi, một vòi hút máu giai cấp vô sản ở nước chính quốc và một vòi hút máu ở các nước thuộc địa.<br />
Yêu thương con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh không có sự phân biệt quốc tịch, màu da, châu lục, dù là người da vàng, da đen hay da trắng nếu là nhân dân lao động, những người bị áp bức, bị bóc lột thì Bác vẫn luôn dành tình cảm yêu thương. Bởi theo Người, họ là những người bạn “cùng khổ”, đều là “anh em”.<br />
Yêu thương, quý trọng con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh không dừng lại ở sự đồng cảm chia sẻ, mà đứng trên lập trường của giai cấp công nhân và chủ nghĩa nhân đạo cộng sản chân chính. Tình yêu thương ấy luôn gắn với những hành động cụ thể, không chỉ giới hạn trong phạm vi dân tộc mà còn vươn tới tầm nhân loại. Vì vậy, chỉ có con đường cách mạng vô sản mới có thể đấu tranh để giải phóng những người lao động, những người bị áp bức bóc lột khỏi ách nô lệ, khỏi thân phận trâu ngựa để có cuộc sống thật sự đúng nghĩa là một con người. Đó là tình yêu thương, tính nhân văn sâu sắc mà nhân loại đã ngợi ca “<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Bất cứ nơi nào chiến đấu cho độc lập tự do, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Bất cứ ở đâu chiến đấu cho hòa bình và công lý, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Ở bất cứ đâu, nhân dân chiến đấu cho một thế giới mới, chống lại đói nghèo, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao</span>”<a href="http://truongleduan.quangtri.gov.vn/vi/hoat-dong-khoa-hoc/Nghien-cuu-trao-doi/tim-hieu-tu-tuong-nhan-van-chu-tich-ho-chi-minh-319.html#_ftn5" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="color: #205fa0;" class="mycode_color">[5]</span></a><br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b"><strong><span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Thứ ba, tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh khẳng định con người vừa là mục tiêu, vừa động lực cho sự phát triển.</span></span></strong><br />
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh “<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn, nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng hơn nữa là cả loài người</span>”. Con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh còn là sự thống nhất giữa con người cá nhân và con người xã hội. Mỗi người là một cá nhân, một chỉnh thể đơn nhất mang những phẩm chất riêng, vừa mang những giá trị, đặc điểm chung của cộng đồng xã hội, đó là mối quan hệ biện chứng thống nhất giữa cái chung và cái riêng.<br />
Để lý giải mối quan hệ cái chung - cái riêng, Bác Hồ đã nói: “<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Mỗi người đều có hoàn cảnh riêng, lợi ích riêng, nếu cái riêng không xâm hại lợi ích tập thể thì không phải là xấu, cần được bảo vệ. Chúng ta chống chủ nghĩa cá nhân nhưng không giày xéo lên lợi ích cá nhân”<a href="http://truongleduan.quangtri.gov.vn/vi/hoat-dong-khoa-hoc/Nghien-cuu-trao-doi/tim-hieu-tu-tuong-nhan-van-chu-tich-ho-chi-minh-319.html#_ftn6" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="color: #205fa0;" class="mycode_color"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b"><strong>[6]</span></strong></span></a>. </span>Chính vì vậy, Hồ Chí Minh khẳng định chủ nghĩa xã hội không hề phủ nhận cá nhân, chà đạp lên lợi ích cá nhân, mà ngược lại luôn tôn trọng lợi ích cá nhân, tạo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển tự do và toàn diện của mỗi cá nhân. Người luôn sâu sát, tìm hiểu và quan tâm đến mỗi con người cụ thể, thấu hiểu lợi ích của mỗi giai cấp, tầng lớp, lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp khác nhau, để phát huy được thế mạnh, năng lực, đồng thời khắc phục những hạn chế của các giai tầng này.<br />
Bác xem con người vừa là mục tiêu vừa là động lực cho sự phát triển của xã hội, tin tưởng tuyệt đối vào nhân dân, bởi lẽ Người đã thấy được sức mạnh vĩ đại của nhân dân. Nhiều lần Người khẳng định sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp “phải đem sức ta mà giải phóng cho ta”. Sau khi giành được độc lập, Người khẳng định:<br />
 “Nước ta là nước dân chủ.<br />
Bao nhiêu lợi ích đều vì dân.<br />
Bao nhiêu quyền hạn đều của dân.<br />
Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra…<br />
Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”<a href="http://truongleduan.quangtri.gov.vn/vi/hoat-dong-khoa-hoc/Nghien-cuu-trao-doi/tim-hieu-tu-tuong-nhan-van-chu-tich-ho-chi-minh-319.html#_ftn7" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="color: #205fa0;" class="mycode_color">[7]</span></a><br />
Trong bản Di chúc, Người còn căn dặn thêm<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">“Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hoá, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân</span>”. Điều này thể hiện tính nhân văn, vì con người, do con người và cho con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Mỗi suy nghĩ, mỗi hành động của Bác đều bắt nguồn từ lòng yêu thương con người và đấu tranh cho hạnh phúc của con người. Như vậy, từ quan niệm về con người, đến con người vừa là mục tiêu giải phóng, vừa là động lực của cách mạng, chúng ta thấy được tấm lòng bao dung, độ lượng, niềm tin, tình yêu thương con người ở Hồ Chí Minh được nâng lên tầm cao mới trở thành tư tưởng chỉ đạo Đảng, Nhà nước ta trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.<br />
Công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng vào năm 1986 đã mở ra bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhiều chủ trương, chính sách liên quan đến xây dựng phát triển kinh tế- xã hội, xây dựng con người mới được thực hiện. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII đã khẳng định: <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b"><strong><span style="font-style: italic;" class="mycode_i">“</span></span></strong><span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện phải trở thành một mục tiêu của chiến lược phát triển. Đúc kết và xây dựng hệ giá trị chuẩn mực của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội  nhập quốc tế<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b"><strong>”<a href="http://truongleduan.quangtri.gov.vn/vi/hoat-dong-khoa-hoc/Nghien-cuu-trao-doi/tim-hieu-tu-tuong-nhan-van-chu-tich-ho-chi-minh-319.html#_ftn8" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="color: #205fa0;" class="mycode_color">[b][b][8]</span></strong></span></a>. [/b][/b]</span>Chính vì vậy, chúng ta đã huy động được mọi nguồn lực, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại nên đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay.<br />
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII tiếp tục khẳng định: “<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Phát huy tối đa nhân tố con người, con người là trung tâm, chủ thể, là nguồn lực chủ yếu và mục tiêu của sự phát triển. Xây dựng  con người Việt Nam phát triển toàn diện, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại</span>”<a href="http://truongleduan.quangtri.gov.vn/vi/hoat-dong-khoa-hoc/Nghien-cuu-trao-doi/tim-hieu-tu-tuong-nhan-van-chu-tich-ho-chi-minh-319.html#_ftn9" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="color: #205fa0;" class="mycode_color">[9]</span></a><br />
Như chúng ta đã biết, năm 2020 và 2021, đại dịch Covid-19 đã và đang hoành hành trên 200 nước và vùng lãnh thổ. Khi đại dịch đi qua, dù ở nước phát triển hay đang phát triển, dù nước giàu hay nghèo, dù thể chế chính trị cộng hoà hay dân chủ đều phải có những chính sách và những biện pháp chống dịch phù hợp với điều kiện. Thực tế đã chứng minh, dù là quốc gia phát triển, với các thiết bị y tế hiện đại thì cũng không ngăn chặn được số người nhiễm lên đến hàng chục triệu người và số người chết cũng không dưới hàng trăm ngàn người. Trong khủng hoảng vì đại dịch Covid-19 này, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra những chính sách và giải pháp kịp thời nhằm đảm bảo quyền được sống của mỗi người dân. Thật cảm động khi Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã ra lời kêu gọi toàn dân đoàn kết chống dịch, Thủ tướng đã khẳng định quyết tâm “<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">chống dịch như chống giặc</span>” với mục tiêu “<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">không có ai bị bỏ lại phía sau</span>”. Chính sự quyết tâm và những giải pháp linh hoạt phù hợp nên đất nước ta đã đạt được mục tiêu kép vừa phát triển kinh tế vừa bảo vệ sức khỏe của nhân dân. Điều này đã thể hiện tính nhân văn và bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa - một chế độ xã hội tất cả vì con người, vì quyền được sống - quyền cơ bản, đầu tiên và thiêng liêng nhất của mỗi con người.<br />
Có thể khẳng định tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh là một nội dung quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng nhân văn của Người chứa đựng nhiều giá trị vừa mang tính giai cấp, tính dân tộc và thời đại hướng tới giải phóng con người, vì hạnh phúc của con người.<br />
Mỗi năm, cứ đúng vào tháng 5 -  có ngày sinh nhật Bác, là dịp để chúng ta tìm hiểu, khẳng định lại một lần nữa tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị. Tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác-Lênin mãi mãi là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta để xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, giàu mạnh và ngày càng phát triển phồn vinh. Mượn lời thơ của nhà thơ Tố Hữu để kết thúc bài viết:<br />
“Ôi lòng Bác vậy cứ thương ta.<br />
Thương cuộc đời chung thương cỏ hoa.<br />
Chỉ biết quên mình cho hết thảy,<br />
Như dòng sông chảy nặng phù sa”.</span></div>
<span style="font-family: 'Helvetica Neue', Helvetica, Arial, sans-serif;" class="mycode_font"> </span><br />
<span style="font-family: 'Helvetica Neue', Helvetica, Arial, sans-serif;" class="mycode_font">Tài liệu tham khảo:</span><br />
<span style="font-family: 'Helvetica Neue', Helvetica, Arial, sans-serif;" class="mycode_font"> 1.Đảng Cộng sản Việt Nam (2016),</span><span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-family: 'Helvetica Neue', Helvetica, Arial, sans-serif;" class="mycode_font">Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII</span></span><span style="font-family: 'Helvetica Neue', Helvetica, Arial, sans-serif;" class="mycode_font">, Văn phòng Trung ương Đảng, HN.</span><br />
<span style="font-family: 'Helvetica Neue', Helvetica, Arial, sans-serif;" class="mycode_font">2.Đảng Cộng sản Việt Nam (2021),</span><span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-family: 'Helvetica Neue', Helvetica, Arial, sans-serif;" class="mycode_font">Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII</span></span><span style="font-family: 'Helvetica Neue', Helvetica, Arial, sans-serif;" class="mycode_font">, NXBCTQG, HN, Tập 1.</span><br />
<span style="font-family: 'Helvetica Neue', Helvetica, Arial, sans-serif;" class="mycode_font">3.Viện Hồ Chí Minh(1993), </span><span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-family: 'Helvetica Neue', Helvetica, Arial, sans-serif;" class="mycode_font">Hồ Chí Minh sống mãi trong trái tim nhân loại</span></span><span style="font-family: 'Helvetica Neue', Helvetica, Arial, sans-serif;" class="mycode_font">, NXBLao động-NXBQĐND, HN</span><br />
<span style="font-family: 'Helvetica Neue', Helvetica, Arial, sans-serif;" class="mycode_font">4.Hồ Chí Minh toàn tập (2000), NXBCTQG, HN Tập 5.</span><br />
<span style="font-family: 'Helvetica Neue', Helvetica, Arial, sans-serif;" class="mycode_font">5.Hồ Chí Minh toàn tập(2011) Nxb CTQG, HN, T12.</span><br />
<span style="font-family: 'Helvetica Neue', Helvetica, Arial, sans-serif;" class="mycode_font">6. Hội đồng Lý luận Trung ương (2005), </span><span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-family: 'Helvetica Neue', Helvetica, Arial, sans-serif;" class="mycode_font">Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh</span></span><span style="font-family: 'Helvetica Neue', Helvetica, Arial, sans-serif;" class="mycode_font">, NXBCTQG, HN.</span><br />
<span style="font-family: 'Helvetica Neue', Helvetica, Arial, sans-serif;" class="mycode_font">7. PGS.TS Phạm Ngọc Anh, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, </span><span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-family: 'Helvetica Neue', Helvetica, Arial, sans-serif;" class="mycode_font">Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh- bản chất và những đặc trưng tổng quát.</span></span><br />
<span style="font-family: 'Helvetica Neue', Helvetica, Arial, sans-serif;" class="mycode_font">8. PGS.TS Doãn Thị Chín, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, </span><span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-family: 'Helvetica Neue', Helvetica, Arial, sans-serif;" class="mycode_font">Những dặc trưng nhân văn cơ bản trong tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh</span></span><br />
<span style="font-family: 'Helvetica Neue', Helvetica, Arial, sans-serif;" class="mycode_font"> </span><br />
<hr class="mycode_hr" />
<span style="font-size: medium;" class="mycode_size"><span style="font-family: 'Helvetica Neue', Helvetica, Arial, sans-serif;" class="mycode_font"><a href="http://truongleduan.quangtri.gov.vn/vi/hoat-dong-khoa-hoc/Nghien-cuu-trao-doi/tim-hieu-tu-tuong-nhan-van-chu-tich-ho-chi-minh-319.html#_ftnref1" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="color: #205fa0;" class="mycode_color">[1]</span></a> Hội đồng Lý luận Trung ương (2005), Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh, NXBCTQG, HN Tr 374<br />
<a href="http://truongleduan.quangtri.gov.vn/vi/hoat-dong-khoa-hoc/Nghien-cuu-trao-doi/tim-hieu-tu-tuong-nhan-van-chu-tich-ho-chi-minh-319.html#_ftnref2" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="color: #205fa0;" class="mycode_color">[2]</span></a> Hồ Chí Minh toàn tập(2011) Nxb CTQG, HN,  T12 Tr562<br />
<a href="http://truongleduan.quangtri.gov.vn/vi/hoat-dong-khoa-hoc/Nghien-cuu-trao-doi/tim-hieu-tu-tuong-nhan-van-chu-tich-ho-chi-minh-319.html#_ftnref3" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="color: #205fa0;" class="mycode_color">[3]</span></a> Hồ Chí Minh toàn tập(2011) Nxb CTQG, HN , T12 Tr563<br />
<a href="http://truongleduan.quangtri.gov.vn/vi/hoat-dong-khoa-hoc/Nghien-cuu-trao-doi/tim-hieu-tu-tuong-nhan-van-chu-tich-ho-chi-minh-319.html#_ftnref4" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="color: #205fa0;" class="mycode_color">[4]</span></a> Hồ Chí Minh toàn tập(2011) Nxb CTQG, HN, T12 Tr 562<br />
<a href="http://truongleduan.quangtri.gov.vn/vi/hoat-dong-khoa-hoc/Nghien-cuu-trao-doi/tim-hieu-tu-tuong-nhan-van-chu-tich-ho-chi-minh-319.html#_ftnref5" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="color: #205fa0;" class="mycode_color">[5]</span></a> Viện Hồ CHí Minh(1993), Hồ Chí Minh sống mãi trong trái tim nhân loại, NXBLao động-NXBQĐND, HN Tr 90<br />
<a href="http://truongleduan.quangtri.gov.vn/vi/hoat-dong-khoa-hoc/Nghien-cuu-trao-doi/tim-hieu-tu-tuong-nhan-van-chu-tich-ho-chi-minh-319.html#_ftnref6" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="color: #205fa0;" class="mycode_color">[6]</span></a> Hồ Chí Minh toàn tập(2011) Nxb CTQG, HN, T12 Tr 576<br />
<a href="http://truongleduan.quangtri.gov.vn/vi/hoat-dong-khoa-hoc/Nghien-cuu-trao-doi/tim-hieu-tu-tuong-nhan-van-chu-tich-ho-chi-minh-319.html#_ftnref7" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="color: #205fa0;" class="mycode_color">[7]</span></a> Hồ Chí Minh toàn tập (2000), NXBCTQG, HN Tập 5 Tr698<br />
<a href="http://truongleduan.quangtri.gov.vn/vi/hoat-dong-khoa-hoc/Nghien-cuu-trao-doi/tim-hieu-tu-tuong-nhan-van-chu-tich-ho-chi-minh-319.html#_ftnref8" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="color: #205fa0;" class="mycode_color">[8]</span></a> Đảng Cộng sản Việt Nam (2016)Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, HN  Tr126<br />
<a href="http://truongleduan.quangtri.gov.vn/vi/hoat-dong-khoa-hoc/Nghien-cuu-trao-doi/tim-hieu-tu-tuong-nhan-van-chu-tich-ho-chi-minh-319.html#_ftnref9" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="color: #205fa0;" class="mycode_color">[9]</span></a> Đảng Cộng sản Việt Nam (2021)Văn Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, NXBCTQG, HN, Tập 1, Tr47</span><br />
<br />
<br />
Theo: truongleduan.quangtri.gov.vn/vi/hoat-dong-khoa-hoc/Nghien-cuu-trao-doi/tim-hieu-tu-tuong-nhan-van-chu-tich-ho-chi-minh-319.html<br />
<br />
</span>]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div style="text-align: center;" class="mycode_align"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b"><span style="font-size: 1pt;" class="mycode_size"><span style="font-family: 'Helvetica Neue', Helvetica, Arial, sans-serif;" class="mycode_font">Tìm hiểu tư tưởng nhân văn Chủ tịch Hồ Chí Minh</span></span></span></div>
<span style="font-size: medium;" class="mycode_size"><span style="font-family: 'Helvetica Neue', Helvetica, Arial, sans-serif;" class="mycode_font"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b"><strong>                          ThS. Ngô Thị Thu Hà<br />
Phó Hiệu trưởng</span></strong></span><br />
</span><br />
<div style="text-align: justify;" class="mycode_align"><span style="font-family: 'Helvetica Neue', Helvetica, Arial, sans-serif;" class="mycode_font">Chủ tịch Hồ Chí Minh - anh hùng giải phóng dân tộc, người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, nhà văn hoá lớn của nhân loại đã đi xa, nhưng đã để lại cho chúng ta tài sản tinh thần to lớn, đó là tư tưởng Hồ Chí Minh mang giá trị nhân văn cao cả. Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống các quan điểm toàn diện, sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, với nội dung cốt lõi, xuyên suốt là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tất cả vì mục đích giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và giải phóng con người. Cả cuộc đời và sự nghiệp của Người là tấm gương sáng về sự cống hiến hy sinh cho độc lập dân tộc, hạnh phúc của nhân dân. Tư tưởng nhân văn là một nội dung quan trọng trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng đó đến nay vẫn còn giữ nguyên giá trị, là cơ sở để Đảng và Nhà nước ta hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách phát triển con người toàn diện trong sự nghiệp đổi mới hiện nay. Ở bài viết này, người viết chỉ đề cập một số nội dung cơ bản trong tư tưởng nhân văn của Người.<br />
Nhân văn chính là những tư tưởng, quan điểm, tình cảm khi bàn về các giá trị sống của con người như phẩm giá, tình cảm, trí tuệ, vẻ đẹp, sức mạnh. Xét thực chất nhân văn là giá trị mang tính phổ quát, hướng con người đến các giá trị chân- thiện - mỹ.<br />
Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh là “<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">toàn bộ suy nghĩ và tình cảm đã chi phối suốt cả cuộc đời của Người, một cuộc đời đấu tranh không mệt mỏi cho độc lập dân tộc và hạnh phúc của nhân dân, cho sự giải phóng của cả nhân loại và của mỗi con người</span>”<a href="http://truongleduan.quangtri.gov.vn/vi/hoat-dong-khoa-hoc/Nghien-cuu-trao-doi/tim-hieu-tu-tuong-nhan-van-chu-tich-ho-chi-minh-319.html#_ftn1" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="color: #205fa0;" class="mycode_color">[1]</span></a>.<br />
Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh bắt nguồn từ những truyền thống tốt đẹp được hun đúc trong quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam như sự nhân ái, khoan dung và lòng yêu thương con người sâu sắc. Trên cơ sở truyền thống nhân nghĩa của dân tộc và tinh hoa văn hoá nhân loại cùng với chủ nghĩa nhân đạo cộng sản đã làm cho tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh có bước chuyển hoá về chất, nâng lên tầm cao mới trở thành tư tưởng nhân văn cộng sản.<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b"><strong><span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Thứ nhất, tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh là hướng tới giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người</span></span></strong><br />
Đây là đặc trưng cơ bản, xuyên suốt và nhất quán mang tính nhân văn trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh. Muốn giải phóng con người thì trước hết phải giải phóng dân tộc. Bởi vì, giải phóng con người không thể tách rời giải phóng dân tộc, không thể có con người tự do trong đất nước bị nô lệ, lầm than. Vì vậy, tháng 7 năm 1920, Nguyễn Ái Quốc khi bắt gặp “Những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin” đăng trên báo L Humanite. Người đã nhận thấy đây là con đường duy nhất của cách mạng Việt Nam. Người viết “<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Luận cương của Lênin làm tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang đứng trước quần chúng đồng bào: “Hỡi đồng bào bị đoạ đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta</span>”<a href="http://truongleduan.quangtri.gov.vn/vi/hoat-dong-khoa-hoc/Nghien-cuu-trao-doi/tim-hieu-tu-tuong-nhan-van-chu-tich-ho-chi-minh-319.html#_ftn2" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="color: #205fa0;" class="mycode_color">[2]</span></a>.<br />
Theo Hồ Chí Minh, chỉ có độc lập dân tộc thực sự mới có nền hoà bình chân chính, mới có độc lập dân tộc hoàn toàn. Không thể có độc lập dân tộc thực sự khi đất nước vẫn còn sự lệ thuộc. Người khẳng định, toàn thể nhân dân Việt Nam kiên quyết đấu tranh giành cho được độc lập, khi giành được độc lập dân tộc thì cả nước phải tiến lên chủ nghĩa xã hội. Bởi vì đất nước độc lập mà người dân không được hưởng tự do, hạnh phúc, thì độc lập ấy cũng chẳng có ý nghĩa gì. Người dân chỉ biết rõ giá trị của độc lập, tự do khi mà họ được ăn no, mặc ấm. Vì vậy, chủ nghĩa xã hội là con đường duy nhất có thể giải phóng triệt để người dân khỏi thân phận nô lệ, bất công xã hội, nghèo đói, Người đã nhiều lần khẳng định: “<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên toàn thế giới khỏi ách nô lệ”<a href="http://truongleduan.quangtri.gov.vn/vi/hoat-dong-khoa-hoc/Nghien-cuu-trao-doi/tim-hieu-tu-tuong-nhan-van-chu-tich-ho-chi-minh-319.html#_ftn3" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="color: #205fa0;" class="mycode_color"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b"><strong>[3]</span></strong></span></a>.</span><br />
Để thực sự giải phóng được nhân dân lao động ở nước ta, theo Hồ Chí Minh: “<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Chúng ta phải xây dựng một xã hội hoàn toàn mới xưa nay chưa từng có trong lịch sử dân tộc ta. Chúng ta phải tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công thương nghiệp tư nhân, đối với thủ công nghiệp. Chúng ta phải biến một nước dốt nát, cực khổ thành một nước văn hoá cao và đời sống vui tươi hạnh phúc. Chúng ta lại phải tiến hành những nhiệm vụ đó trong điều kiện đặc biệt của nước ta, nghĩa là trên cơ sở của một xã hội vừa thoát khỏi ách thực dân phong kiến, hết sức lạc hậu</span>”<a href="http://truongleduan.quangtri.gov.vn/vi/hoat-dong-khoa-hoc/Nghien-cuu-trao-doi/tim-hieu-tu-tuong-nhan-van-chu-tich-ho-chi-minh-319.html#_ftn4" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="color: #205fa0;" class="mycode_color">[4]</span></a>. Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, chủ nghĩa xã hội mang trong bản thân nó bản chất nhân văn.<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b"><strong><span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Thứ hai, tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh thể hiện lòng yêu thương con người sâu sắc</span></span></strong>.<br />
Yêu thương con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh xuất phát từ truyền thống nhân nghĩa của dân tộc, nhân văn của nhân loại và chủ nghĩa nhân đạo cộng sản. Hồ Chí Minh coi yêu thương con người là phẩm chất đạo đức cao đẹp nhất. Tình yêu thương ấy trước hết đối với những người lao động, những người nghèo khổ, những người bị áp bức bóc lột. Trải qua quá trình tìm đường cứu nước, đi bốn biển năm châu đặt chân đến gần 30 nước, Người rút ra kết luận trên thế giới chỉ có hai loại người: người bóc lột và người bị bóc lột. Người đi sâu phân tích tìm ra nguyên nhân gây ra nỗi thống khổ của nhân dân lao động do áp bức, bóc lột giai cấp và áp bức dân tộc, chủ nghĩa đế quốc như con đỉa hai vòi, một vòi hút máu giai cấp vô sản ở nước chính quốc và một vòi hút máu ở các nước thuộc địa.<br />
Yêu thương con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh không có sự phân biệt quốc tịch, màu da, châu lục, dù là người da vàng, da đen hay da trắng nếu là nhân dân lao động, những người bị áp bức, bị bóc lột thì Bác vẫn luôn dành tình cảm yêu thương. Bởi theo Người, họ là những người bạn “cùng khổ”, đều là “anh em”.<br />
Yêu thương, quý trọng con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh không dừng lại ở sự đồng cảm chia sẻ, mà đứng trên lập trường của giai cấp công nhân và chủ nghĩa nhân đạo cộng sản chân chính. Tình yêu thương ấy luôn gắn với những hành động cụ thể, không chỉ giới hạn trong phạm vi dân tộc mà còn vươn tới tầm nhân loại. Vì vậy, chỉ có con đường cách mạng vô sản mới có thể đấu tranh để giải phóng những người lao động, những người bị áp bức bóc lột khỏi ách nô lệ, khỏi thân phận trâu ngựa để có cuộc sống thật sự đúng nghĩa là một con người. Đó là tình yêu thương, tính nhân văn sâu sắc mà nhân loại đã ngợi ca “<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Bất cứ nơi nào chiến đấu cho độc lập tự do, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Bất cứ ở đâu chiến đấu cho hòa bình và công lý, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Ở bất cứ đâu, nhân dân chiến đấu cho một thế giới mới, chống lại đói nghèo, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao</span>”<a href="http://truongleduan.quangtri.gov.vn/vi/hoat-dong-khoa-hoc/Nghien-cuu-trao-doi/tim-hieu-tu-tuong-nhan-van-chu-tich-ho-chi-minh-319.html#_ftn5" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="color: #205fa0;" class="mycode_color">[5]</span></a><br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b"><strong><span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Thứ ba, tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh khẳng định con người vừa là mục tiêu, vừa động lực cho sự phát triển.</span></span></strong><br />
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh “<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn, nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng hơn nữa là cả loài người</span>”. Con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh còn là sự thống nhất giữa con người cá nhân và con người xã hội. Mỗi người là một cá nhân, một chỉnh thể đơn nhất mang những phẩm chất riêng, vừa mang những giá trị, đặc điểm chung của cộng đồng xã hội, đó là mối quan hệ biện chứng thống nhất giữa cái chung và cái riêng.<br />
Để lý giải mối quan hệ cái chung - cái riêng, Bác Hồ đã nói: “<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Mỗi người đều có hoàn cảnh riêng, lợi ích riêng, nếu cái riêng không xâm hại lợi ích tập thể thì không phải là xấu, cần được bảo vệ. Chúng ta chống chủ nghĩa cá nhân nhưng không giày xéo lên lợi ích cá nhân”<a href="http://truongleduan.quangtri.gov.vn/vi/hoat-dong-khoa-hoc/Nghien-cuu-trao-doi/tim-hieu-tu-tuong-nhan-van-chu-tich-ho-chi-minh-319.html#_ftn6" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="color: #205fa0;" class="mycode_color"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b"><strong>[6]</span></strong></span></a>. </span>Chính vì vậy, Hồ Chí Minh khẳng định chủ nghĩa xã hội không hề phủ nhận cá nhân, chà đạp lên lợi ích cá nhân, mà ngược lại luôn tôn trọng lợi ích cá nhân, tạo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển tự do và toàn diện của mỗi cá nhân. Người luôn sâu sát, tìm hiểu và quan tâm đến mỗi con người cụ thể, thấu hiểu lợi ích của mỗi giai cấp, tầng lớp, lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp khác nhau, để phát huy được thế mạnh, năng lực, đồng thời khắc phục những hạn chế của các giai tầng này.<br />
Bác xem con người vừa là mục tiêu vừa là động lực cho sự phát triển của xã hội, tin tưởng tuyệt đối vào nhân dân, bởi lẽ Người đã thấy được sức mạnh vĩ đại của nhân dân. Nhiều lần Người khẳng định sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp “phải đem sức ta mà giải phóng cho ta”. Sau khi giành được độc lập, Người khẳng định:<br />
 “Nước ta là nước dân chủ.<br />
Bao nhiêu lợi ích đều vì dân.<br />
Bao nhiêu quyền hạn đều của dân.<br />
Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra…<br />
Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”<a href="http://truongleduan.quangtri.gov.vn/vi/hoat-dong-khoa-hoc/Nghien-cuu-trao-doi/tim-hieu-tu-tuong-nhan-van-chu-tich-ho-chi-minh-319.html#_ftn7" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="color: #205fa0;" class="mycode_color">[7]</span></a><br />
Trong bản Di chúc, Người còn căn dặn thêm<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">“Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hoá, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân</span>”. Điều này thể hiện tính nhân văn, vì con người, do con người và cho con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Mỗi suy nghĩ, mỗi hành động của Bác đều bắt nguồn từ lòng yêu thương con người và đấu tranh cho hạnh phúc của con người. Như vậy, từ quan niệm về con người, đến con người vừa là mục tiêu giải phóng, vừa là động lực của cách mạng, chúng ta thấy được tấm lòng bao dung, độ lượng, niềm tin, tình yêu thương con người ở Hồ Chí Minh được nâng lên tầm cao mới trở thành tư tưởng chỉ đạo Đảng, Nhà nước ta trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.<br />
Công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng vào năm 1986 đã mở ra bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhiều chủ trương, chính sách liên quan đến xây dựng phát triển kinh tế- xã hội, xây dựng con người mới được thực hiện. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII đã khẳng định: <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b"><strong><span style="font-style: italic;" class="mycode_i">“</span></span></strong><span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện phải trở thành một mục tiêu của chiến lược phát triển. Đúc kết và xây dựng hệ giá trị chuẩn mực của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội  nhập quốc tế<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b"><strong>”<a href="http://truongleduan.quangtri.gov.vn/vi/hoat-dong-khoa-hoc/Nghien-cuu-trao-doi/tim-hieu-tu-tuong-nhan-van-chu-tich-ho-chi-minh-319.html#_ftn8" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="color: #205fa0;" class="mycode_color">[b][b][8]</span></strong></span></a>. [/b][/b]</span>Chính vì vậy, chúng ta đã huy động được mọi nguồn lực, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại nên đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay.<br />
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII tiếp tục khẳng định: “<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Phát huy tối đa nhân tố con người, con người là trung tâm, chủ thể, là nguồn lực chủ yếu và mục tiêu của sự phát triển. Xây dựng  con người Việt Nam phát triển toàn diện, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại</span>”<a href="http://truongleduan.quangtri.gov.vn/vi/hoat-dong-khoa-hoc/Nghien-cuu-trao-doi/tim-hieu-tu-tuong-nhan-van-chu-tich-ho-chi-minh-319.html#_ftn9" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="color: #205fa0;" class="mycode_color">[9]</span></a><br />
Như chúng ta đã biết, năm 2020 và 2021, đại dịch Covid-19 đã và đang hoành hành trên 200 nước và vùng lãnh thổ. Khi đại dịch đi qua, dù ở nước phát triển hay đang phát triển, dù nước giàu hay nghèo, dù thể chế chính trị cộng hoà hay dân chủ đều phải có những chính sách và những biện pháp chống dịch phù hợp với điều kiện. Thực tế đã chứng minh, dù là quốc gia phát triển, với các thiết bị y tế hiện đại thì cũng không ngăn chặn được số người nhiễm lên đến hàng chục triệu người và số người chết cũng không dưới hàng trăm ngàn người. Trong khủng hoảng vì đại dịch Covid-19 này, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra những chính sách và giải pháp kịp thời nhằm đảm bảo quyền được sống của mỗi người dân. Thật cảm động khi Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã ra lời kêu gọi toàn dân đoàn kết chống dịch, Thủ tướng đã khẳng định quyết tâm “<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">chống dịch như chống giặc</span>” với mục tiêu “<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">không có ai bị bỏ lại phía sau</span>”. Chính sự quyết tâm và những giải pháp linh hoạt phù hợp nên đất nước ta đã đạt được mục tiêu kép vừa phát triển kinh tế vừa bảo vệ sức khỏe của nhân dân. Điều này đã thể hiện tính nhân văn và bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa - một chế độ xã hội tất cả vì con người, vì quyền được sống - quyền cơ bản, đầu tiên và thiêng liêng nhất của mỗi con người.<br />
Có thể khẳng định tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh là một nội dung quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng nhân văn của Người chứa đựng nhiều giá trị vừa mang tính giai cấp, tính dân tộc và thời đại hướng tới giải phóng con người, vì hạnh phúc của con người.<br />
Mỗi năm, cứ đúng vào tháng 5 -  có ngày sinh nhật Bác, là dịp để chúng ta tìm hiểu, khẳng định lại một lần nữa tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị. Tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác-Lênin mãi mãi là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta để xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, giàu mạnh và ngày càng phát triển phồn vinh. Mượn lời thơ của nhà thơ Tố Hữu để kết thúc bài viết:<br />
“Ôi lòng Bác vậy cứ thương ta.<br />
Thương cuộc đời chung thương cỏ hoa.<br />
Chỉ biết quên mình cho hết thảy,<br />
Như dòng sông chảy nặng phù sa”.</span></div>
<span style="font-family: 'Helvetica Neue', Helvetica, Arial, sans-serif;" class="mycode_font"> </span><br />
<span style="font-family: 'Helvetica Neue', Helvetica, Arial, sans-serif;" class="mycode_font">Tài liệu tham khảo:</span><br />
<span style="font-family: 'Helvetica Neue', Helvetica, Arial, sans-serif;" class="mycode_font"> 1.Đảng Cộng sản Việt Nam (2016),</span><span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-family: 'Helvetica Neue', Helvetica, Arial, sans-serif;" class="mycode_font">Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII</span></span><span style="font-family: 'Helvetica Neue', Helvetica, Arial, sans-serif;" class="mycode_font">, Văn phòng Trung ương Đảng, HN.</span><br />
<span style="font-family: 'Helvetica Neue', Helvetica, Arial, sans-serif;" class="mycode_font">2.Đảng Cộng sản Việt Nam (2021),</span><span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-family: 'Helvetica Neue', Helvetica, Arial, sans-serif;" class="mycode_font">Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII</span></span><span style="font-family: 'Helvetica Neue', Helvetica, Arial, sans-serif;" class="mycode_font">, NXBCTQG, HN, Tập 1.</span><br />
<span style="font-family: 'Helvetica Neue', Helvetica, Arial, sans-serif;" class="mycode_font">3.Viện Hồ Chí Minh(1993), </span><span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-family: 'Helvetica Neue', Helvetica, Arial, sans-serif;" class="mycode_font">Hồ Chí Minh sống mãi trong trái tim nhân loại</span></span><span style="font-family: 'Helvetica Neue', Helvetica, Arial, sans-serif;" class="mycode_font">, NXBLao động-NXBQĐND, HN</span><br />
<span style="font-family: 'Helvetica Neue', Helvetica, Arial, sans-serif;" class="mycode_font">4.Hồ Chí Minh toàn tập (2000), NXBCTQG, HN Tập 5.</span><br />
<span style="font-family: 'Helvetica Neue', Helvetica, Arial, sans-serif;" class="mycode_font">5.Hồ Chí Minh toàn tập(2011) Nxb CTQG, HN, T12.</span><br />
<span style="font-family: 'Helvetica Neue', Helvetica, Arial, sans-serif;" class="mycode_font">6. Hội đồng Lý luận Trung ương (2005), </span><span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-family: 'Helvetica Neue', Helvetica, Arial, sans-serif;" class="mycode_font">Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh</span></span><span style="font-family: 'Helvetica Neue', Helvetica, Arial, sans-serif;" class="mycode_font">, NXBCTQG, HN.</span><br />
<span style="font-family: 'Helvetica Neue', Helvetica, Arial, sans-serif;" class="mycode_font">7. PGS.TS Phạm Ngọc Anh, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, </span><span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-family: 'Helvetica Neue', Helvetica, Arial, sans-serif;" class="mycode_font">Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh- bản chất và những đặc trưng tổng quát.</span></span><br />
<span style="font-family: 'Helvetica Neue', Helvetica, Arial, sans-serif;" class="mycode_font">8. PGS.TS Doãn Thị Chín, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, </span><span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-family: 'Helvetica Neue', Helvetica, Arial, sans-serif;" class="mycode_font">Những dặc trưng nhân văn cơ bản trong tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh</span></span><br />
<span style="font-family: 'Helvetica Neue', Helvetica, Arial, sans-serif;" class="mycode_font"> </span><br />
<hr class="mycode_hr" />
<span style="font-size: medium;" class="mycode_size"><span style="font-family: 'Helvetica Neue', Helvetica, Arial, sans-serif;" class="mycode_font"><a href="http://truongleduan.quangtri.gov.vn/vi/hoat-dong-khoa-hoc/Nghien-cuu-trao-doi/tim-hieu-tu-tuong-nhan-van-chu-tich-ho-chi-minh-319.html#_ftnref1" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="color: #205fa0;" class="mycode_color">[1]</span></a> Hội đồng Lý luận Trung ương (2005), Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh, NXBCTQG, HN Tr 374<br />
<a href="http://truongleduan.quangtri.gov.vn/vi/hoat-dong-khoa-hoc/Nghien-cuu-trao-doi/tim-hieu-tu-tuong-nhan-van-chu-tich-ho-chi-minh-319.html#_ftnref2" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="color: #205fa0;" class="mycode_color">[2]</span></a> Hồ Chí Minh toàn tập(2011) Nxb CTQG, HN,  T12 Tr562<br />
<a href="http://truongleduan.quangtri.gov.vn/vi/hoat-dong-khoa-hoc/Nghien-cuu-trao-doi/tim-hieu-tu-tuong-nhan-van-chu-tich-ho-chi-minh-319.html#_ftnref3" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="color: #205fa0;" class="mycode_color">[3]</span></a> Hồ Chí Minh toàn tập(2011) Nxb CTQG, HN , T12 Tr563<br />
<a href="http://truongleduan.quangtri.gov.vn/vi/hoat-dong-khoa-hoc/Nghien-cuu-trao-doi/tim-hieu-tu-tuong-nhan-van-chu-tich-ho-chi-minh-319.html#_ftnref4" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="color: #205fa0;" class="mycode_color">[4]</span></a> Hồ Chí Minh toàn tập(2011) Nxb CTQG, HN, T12 Tr 562<br />
<a href="http://truongleduan.quangtri.gov.vn/vi/hoat-dong-khoa-hoc/Nghien-cuu-trao-doi/tim-hieu-tu-tuong-nhan-van-chu-tich-ho-chi-minh-319.html#_ftnref5" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="color: #205fa0;" class="mycode_color">[5]</span></a> Viện Hồ CHí Minh(1993), Hồ Chí Minh sống mãi trong trái tim nhân loại, NXBLao động-NXBQĐND, HN Tr 90<br />
<a href="http://truongleduan.quangtri.gov.vn/vi/hoat-dong-khoa-hoc/Nghien-cuu-trao-doi/tim-hieu-tu-tuong-nhan-van-chu-tich-ho-chi-minh-319.html#_ftnref6" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="color: #205fa0;" class="mycode_color">[6]</span></a> Hồ Chí Minh toàn tập(2011) Nxb CTQG, HN, T12 Tr 576<br />
<a href="http://truongleduan.quangtri.gov.vn/vi/hoat-dong-khoa-hoc/Nghien-cuu-trao-doi/tim-hieu-tu-tuong-nhan-van-chu-tich-ho-chi-minh-319.html#_ftnref7" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="color: #205fa0;" class="mycode_color">[7]</span></a> Hồ Chí Minh toàn tập (2000), NXBCTQG, HN Tập 5 Tr698<br />
<a href="http://truongleduan.quangtri.gov.vn/vi/hoat-dong-khoa-hoc/Nghien-cuu-trao-doi/tim-hieu-tu-tuong-nhan-van-chu-tich-ho-chi-minh-319.html#_ftnref8" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="color: #205fa0;" class="mycode_color">[8]</span></a> Đảng Cộng sản Việt Nam (2016)Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, HN  Tr126<br />
<a href="http://truongleduan.quangtri.gov.vn/vi/hoat-dong-khoa-hoc/Nghien-cuu-trao-doi/tim-hieu-tu-tuong-nhan-van-chu-tich-ho-chi-minh-319.html#_ftnref9" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="color: #205fa0;" class="mycode_color">[9]</span></a> Đảng Cộng sản Việt Nam (2021)Văn Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, NXBCTQG, HN, Tập 1, Tr47</span><br />
<br />
<br />
Theo: truongleduan.quangtri.gov.vn/vi/hoat-dong-khoa-hoc/Nghien-cuu-trao-doi/tim-hieu-tu-tuong-nhan-van-chu-tich-ho-chi-minh-319.html<br />
<br />
</span>]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[5 Bà học rất cần trong cuộc sống này :)]]></title>
			<link>https://uhm.vn/forum/Thread-5-Ba%CC%80-ho%CC%A3c-r%C3%A2%CC%81t-c%C3%A2%CC%80n-trong-cu%C3%B4%CC%A3c-s%C3%B4%CC%81ng-na%CC%80y</link>
			<pubDate>Wed, 13 Jul 2016 11:28:40 +0700</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://uhm.vn/forum/member.php?action=profile&uid=173755">sangkhoaitv</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://uhm.vn/forum/Thread-5-Ba%CC%80-ho%CC%A3c-r%C3%A2%CC%81t-c%C3%A2%CC%80n-trong-cu%C3%B4%CC%A3c-s%C3%B4%CC%81ng-na%CC%80y</guid>
			<description><![CDATA[1. BÀI HỌC VỀ SỰ QUAN TÂM<br />
<br />
Trong tháng thứ 2 của khoá học y tá, vị giáo sư của chúng tôi đã cho chúng tôi một câu hỏi hết sức bất ngờ trong bài thi vấn đáp. Tôi đã lướt qua hầu hết các câu hỏi trong bài thi, và ngạc nhiên dừng lại ở câu hỏi cuối cùng: “Hãy cho biết tên người phụ nữ quét dọn trường học của chúng ta?”.Một câu hỏi không có trong chuyên môn, chắc đây chỉ là một câu hỏi đùa thôi. Tôi đã nghĩ vậy! Thật ra, tôi đã nhìn thấy người phụ nữ đó vài lần. Cô ấy cao, tóc sẫm màu và khoảng chừng 50 tuổi nhưng làm sao mà tôi có thể biết được tên cô ta cơ chứ?<br />
<br />
Tôi đã kết thúc bài làm của mình với câu cuối cùng bị bỏ trống.<br />
Cuối giờ kiểm tra, một sinh viên đã hỏi vị giáo sư rằng: “Liệu ông có tính điểm cho câu hỏi cuối cùng kia không?”, ông ta trả lời: “Chắc chắn rồi”, rồi ông nói tiếp: “Trong công việc, các em sẽ gặp rất nhiều người, tất cả họ đều quan trọng, họ xứng đáng được nhận sự quan tâm của các em, dù chỉ là một nụ cười hay một câu chào”.<br />
<br />
Tôi đã không bao giờ quên bài học đó trên mỗi bước đường đời của mình sau này, và tôi cũng không bao giờ quên tên của người phụ nữ đó, cô Dorothy.<br />
<br />
2. BÀI HỌC VỀ SỰ GIÚP ĐỠ<br />
<br />
Hãy yêu thương, hạnh phúc sẽ đến<br />
<br />
Trong một đêm mưa bão bất thường trên đường phố Alabama vắng vẻ, lúc đó đã 11h30 khuya, có một bà lão da đen vẫn cứ mặc cho những ngọn roi mưa quất liên hồi vào mặt, cố hết sức vẫy vẫy cánh tay để xin đi nhờ xe.<br />
<br />
Một chiếc xe chạy vút qua, rồi thêm một chiếc xe nữa, không ai để ý đến cánh tay dường như đã tê cứng vì lạnh cóng. Mặc dù vậy, bà lão vẫn hy vọng và vẫy chiếc xe kế tiếp. Một chàng trai da trắng đã cho bà lên xe. (Mặc cho cuộc xung đột sắc tộc 1960). Bà lão trông có vẻ rất vội vã, nhưng cũng không quên cám ơn và ghi lại địa chỉ của chàng trai.<br />
<br />
Bảy ngày trôi qua, cánh cửa nhà chàng trai tốt bụng vang lên tiếng gõ cửa. Chàng trai ngạc nhiên hết sức khi thấy một cái tivi khổng lồ ngay trước cửa nhà mình. Một lá thư được đính kèm, trong đó viết: “Cảm ơn cháu vì đã cho bà đi nhờ xe vào cái đêm mưa hôm ấy. Cơn mưa không những đã làm ướt sũng quần áo mà nó còn làm lạnh buốt trái tim và tinh thần của bà nữa. Rồi thì lúc đó cháu đã xuất hiện như một thiên thần. Nhờ có cháu, bà đã được gặp người chồng tội nghiệp của mình trước khi ông ấy trút hơi thở cuối cùng. Một lần nữa bà muốn cảm ơn cháu đã không nề hà khi giúp đỡ bà.”<br />
Cuối thư là dòng chữ: “Chân thành – Bà Nat King Cole”.<br />
<br />
3. BÀI HỌC VỀ LÒNG BIẾT ƠN<br />
<br />
Ồ, đây là món kem mình thích nhất!<br />
<br />
Vào cái thời khi mà món kem nước hoa quả còn rất rẻ tiền, có một câu chuyện về cậu bé 10 tuổi thế này: Ngày nọ, Jim – tên của cậu bé – sau một hồi đi qua đi lại, ngó nghiêng vào cửa hàng giải khát đông nhất nhì thành phố, nơi có món kem nước hoa quả mà cậu rất thích, mạnh dạng tiến lại gần cái cửa, đẩy nhẹ và bước vào. Chọn một bàn trống, cậu nhẹ nhàng ngồi xuống ghế và đợi người phục vụ đến.<br />
Chỉ vài phút sau, một người nữ phục vụ tiến lại gần Jim và đặt trước mặt cậu một ly nước lọc. Ngước nhìn cô phục vụ, cậu bé hỏi: “Cho cháu hỏi bao nhiêu tiền một đĩa kem nước hoa quả ạ?”. “50 xu“, cô phục vụ trả lời. Nghe vậy, Jim liền móc trong túi quần ra một số đồng xu lẻ, nhẩm tính một hồi, cậu hỏi tiếp: “Thế bao nhiêu tiền một đĩa kem bình thường ạ?”. “35 xu”, người phục vụ vẫn kiên nhẫn trả lời cậu bé mặc dù lúc đó khách vào cửa hàng đã rất đông và đang đợi cô. Cuối cùng, người nữ phục vụ cũng mang đến cho Jim món kem mà cậu yêu cầu, và sang phục vụ những bàn khác. Cậu bé ăn xong kem, để lại tiền trên bàn và ra về.<br />
<br />
Khi người phục vụ quay trở lại để dọn bàn, cô ấy đã bật khóc khi nhìn thấy 2 đồng kẽm (1 đồng bằng 5 xu) và 5 đồng xu lẻ được đặt ngay ngắn trên bàn, bên cạnh 35 xu trả cho đĩa kem mà Jim đã gọi – Jim đã không thể có món kem nước hoa quả mà cậu ấy thích bởi vì cậu ấy chỉ có đủ tiền để trả cho một đĩa kem bình thường và một ít tiền boa cho cô.<br />
<br />
4. BÀI HỌC VỀ SỰ TỰ GIÁC VÀ TRÁCH NHIỆM<br />
<br />
Xưa thật là xưa, có một ông Vua nọ, một hôm ông ta sai quân lính đặt một tảng đá lớn nằm chắn ngang đường đi. Xong, ông nấp vào một bụi cây gần đấy và theo dõi.<br />
<br />
Lần lượt ông ta thấy, những thương nhân giàu có đi qua, rồi đến những cận thần của ông đi qua, nhưng không ai có ý định xê dịch tảng đá sang bên nhường chỗ cho lối đi cả, họ chỉ lẩm nhẩm đổ lỗi cho nhà Vua vì đã không cho người giữ sạch sẽ con đường.<br />
<br />
Một lúc sau, nhà Vua nhìn thấy một người nông dân đi tới với một xe rau cồng kềnh nặng trĩu. Nhìn thấy tảng đá, người nông dân liền ngừng xe và nhảy xuống đất, cố hết sức mình ông ta đã đẩy được tảng đá sang bên kia vệ đường. Vừa làm ông ta vừa lẩm bẩm: “Thật không may nếu có ai đó không thấy mày và vấp phải, chắc là sẽ đau lắm đây”. Xong đâu đấy, người nông dân quay trở lại xe để tiếp tục đi tiếp, thì bỗng nhìn thấy một bao tiền to đùng đặt ngay chỗ mà ông đã di chuyển tảng đá. Đó là một một món quà của Đức Vua cho người nào dịch chuyển được tảng đá.<br />
<br />
Câu chuyện của người nông dân này đã giúp chúng ta nhận ra một điều quý giá mà rất nhiều người trong chúng ta không bao giờ nhận thấy: Vật cản đôi khi cũng có thể là một cơ hội tốt.<br />
<br />
5. BÀI HỌC VỀ SỰ HY SINH<br />
<br />
Đã lâu lắm rồi, nhiều năm đã trôi qua, khi tôi còn là tình nguyện viên tại một bệnh viện, tôi có biết một cô gái nhỏ tên Liz – cô ấy đang mắc phải một căn bệnh rất hiểm nghèo.<br />
<br />
Cơ hội sống sót duy nhất của cô là được thay máu từ người anh trai 5 tuổi của mình, người đã vượt qua được cơn bạo bệnh tương tự một cách lạ thường nhờ những kháng thể đặc biệt trong cơ thể. Bác sĩ đã trao đổi và giải thích điều này với cậu bé trước khi yêu cầu cậu đồng ý cho cô em gái những giọt máu của mình. Lúc ấy, tôi đã nhìn thấy sự lưỡng lự thoáng qua trên khuôn mặt bé nhỏ kia. Cuối cùng, với một hơi thở thật sâu và dứt khoát cậu bé đã trả lời rằng: “Cháu đồng ý làm điều đó để cứu em cháu”.<br />
<br />
Nằm trên chiếc giường kế bên em gái để thuận tiện hơn cho việc truyền máu, cậu bé liếc nhìn em gái và đôi mắt ngời lên niềm vui khi thấy đôi má cô bé hồng lên theo từng giọt máu được chuyền sang từ người cậu. Nhưng rồi, khuôn mặt cậu bỗng trở nên tái xanh đầy lo lắng, cậu bé ngước nhìn vị bác sĩ và hỏi với một giọng run run: “Cháu sẽ chết bây giờ phải không bác sĩ?”. Thì ra, cậu bé non nớt của chúng ta đã nghĩ rằng: cậu ta sẽ cho cô em gái tất cả máu trong người mình để cứu cô ấy và rồi cậu sẽ chết thay cô.<br />
<br />
Bạn thấy không, sau tất cả những hiểu lầm và hành động của mình, cậu bé đã có tất cả nhờ đức hy sinh…<br />
<br />
Cuộc sống có câu: “Hãy cho đi thứ bạn có, rồi bạn sẽ được đền bù xứng đáng”.<br />
<br />
-ST-]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[1. BÀI HỌC VỀ SỰ QUAN TÂM<br />
<br />
Trong tháng thứ 2 của khoá học y tá, vị giáo sư của chúng tôi đã cho chúng tôi một câu hỏi hết sức bất ngờ trong bài thi vấn đáp. Tôi đã lướt qua hầu hết các câu hỏi trong bài thi, và ngạc nhiên dừng lại ở câu hỏi cuối cùng: “Hãy cho biết tên người phụ nữ quét dọn trường học của chúng ta?”.Một câu hỏi không có trong chuyên môn, chắc đây chỉ là một câu hỏi đùa thôi. Tôi đã nghĩ vậy! Thật ra, tôi đã nhìn thấy người phụ nữ đó vài lần. Cô ấy cao, tóc sẫm màu và khoảng chừng 50 tuổi nhưng làm sao mà tôi có thể biết được tên cô ta cơ chứ?<br />
<br />
Tôi đã kết thúc bài làm của mình với câu cuối cùng bị bỏ trống.<br />
Cuối giờ kiểm tra, một sinh viên đã hỏi vị giáo sư rằng: “Liệu ông có tính điểm cho câu hỏi cuối cùng kia không?”, ông ta trả lời: “Chắc chắn rồi”, rồi ông nói tiếp: “Trong công việc, các em sẽ gặp rất nhiều người, tất cả họ đều quan trọng, họ xứng đáng được nhận sự quan tâm của các em, dù chỉ là một nụ cười hay một câu chào”.<br />
<br />
Tôi đã không bao giờ quên bài học đó trên mỗi bước đường đời của mình sau này, và tôi cũng không bao giờ quên tên của người phụ nữ đó, cô Dorothy.<br />
<br />
2. BÀI HỌC VỀ SỰ GIÚP ĐỠ<br />
<br />
Hãy yêu thương, hạnh phúc sẽ đến<br />
<br />
Trong một đêm mưa bão bất thường trên đường phố Alabama vắng vẻ, lúc đó đã 11h30 khuya, có một bà lão da đen vẫn cứ mặc cho những ngọn roi mưa quất liên hồi vào mặt, cố hết sức vẫy vẫy cánh tay để xin đi nhờ xe.<br />
<br />
Một chiếc xe chạy vút qua, rồi thêm một chiếc xe nữa, không ai để ý đến cánh tay dường như đã tê cứng vì lạnh cóng. Mặc dù vậy, bà lão vẫn hy vọng và vẫy chiếc xe kế tiếp. Một chàng trai da trắng đã cho bà lên xe. (Mặc cho cuộc xung đột sắc tộc 1960). Bà lão trông có vẻ rất vội vã, nhưng cũng không quên cám ơn và ghi lại địa chỉ của chàng trai.<br />
<br />
Bảy ngày trôi qua, cánh cửa nhà chàng trai tốt bụng vang lên tiếng gõ cửa. Chàng trai ngạc nhiên hết sức khi thấy một cái tivi khổng lồ ngay trước cửa nhà mình. Một lá thư được đính kèm, trong đó viết: “Cảm ơn cháu vì đã cho bà đi nhờ xe vào cái đêm mưa hôm ấy. Cơn mưa không những đã làm ướt sũng quần áo mà nó còn làm lạnh buốt trái tim và tinh thần của bà nữa. Rồi thì lúc đó cháu đã xuất hiện như một thiên thần. Nhờ có cháu, bà đã được gặp người chồng tội nghiệp của mình trước khi ông ấy trút hơi thở cuối cùng. Một lần nữa bà muốn cảm ơn cháu đã không nề hà khi giúp đỡ bà.”<br />
Cuối thư là dòng chữ: “Chân thành – Bà Nat King Cole”.<br />
<br />
3. BÀI HỌC VỀ LÒNG BIẾT ƠN<br />
<br />
Ồ, đây là món kem mình thích nhất!<br />
<br />
Vào cái thời khi mà món kem nước hoa quả còn rất rẻ tiền, có một câu chuyện về cậu bé 10 tuổi thế này: Ngày nọ, Jim – tên của cậu bé – sau một hồi đi qua đi lại, ngó nghiêng vào cửa hàng giải khát đông nhất nhì thành phố, nơi có món kem nước hoa quả mà cậu rất thích, mạnh dạng tiến lại gần cái cửa, đẩy nhẹ và bước vào. Chọn một bàn trống, cậu nhẹ nhàng ngồi xuống ghế và đợi người phục vụ đến.<br />
Chỉ vài phút sau, một người nữ phục vụ tiến lại gần Jim và đặt trước mặt cậu một ly nước lọc. Ngước nhìn cô phục vụ, cậu bé hỏi: “Cho cháu hỏi bao nhiêu tiền một đĩa kem nước hoa quả ạ?”. “50 xu“, cô phục vụ trả lời. Nghe vậy, Jim liền móc trong túi quần ra một số đồng xu lẻ, nhẩm tính một hồi, cậu hỏi tiếp: “Thế bao nhiêu tiền một đĩa kem bình thường ạ?”. “35 xu”, người phục vụ vẫn kiên nhẫn trả lời cậu bé mặc dù lúc đó khách vào cửa hàng đã rất đông và đang đợi cô. Cuối cùng, người nữ phục vụ cũng mang đến cho Jim món kem mà cậu yêu cầu, và sang phục vụ những bàn khác. Cậu bé ăn xong kem, để lại tiền trên bàn và ra về.<br />
<br />
Khi người phục vụ quay trở lại để dọn bàn, cô ấy đã bật khóc khi nhìn thấy 2 đồng kẽm (1 đồng bằng 5 xu) và 5 đồng xu lẻ được đặt ngay ngắn trên bàn, bên cạnh 35 xu trả cho đĩa kem mà Jim đã gọi – Jim đã không thể có món kem nước hoa quả mà cậu ấy thích bởi vì cậu ấy chỉ có đủ tiền để trả cho một đĩa kem bình thường và một ít tiền boa cho cô.<br />
<br />
4. BÀI HỌC VỀ SỰ TỰ GIÁC VÀ TRÁCH NHIỆM<br />
<br />
Xưa thật là xưa, có một ông Vua nọ, một hôm ông ta sai quân lính đặt một tảng đá lớn nằm chắn ngang đường đi. Xong, ông nấp vào một bụi cây gần đấy và theo dõi.<br />
<br />
Lần lượt ông ta thấy, những thương nhân giàu có đi qua, rồi đến những cận thần của ông đi qua, nhưng không ai có ý định xê dịch tảng đá sang bên nhường chỗ cho lối đi cả, họ chỉ lẩm nhẩm đổ lỗi cho nhà Vua vì đã không cho người giữ sạch sẽ con đường.<br />
<br />
Một lúc sau, nhà Vua nhìn thấy một người nông dân đi tới với một xe rau cồng kềnh nặng trĩu. Nhìn thấy tảng đá, người nông dân liền ngừng xe và nhảy xuống đất, cố hết sức mình ông ta đã đẩy được tảng đá sang bên kia vệ đường. Vừa làm ông ta vừa lẩm bẩm: “Thật không may nếu có ai đó không thấy mày và vấp phải, chắc là sẽ đau lắm đây”. Xong đâu đấy, người nông dân quay trở lại xe để tiếp tục đi tiếp, thì bỗng nhìn thấy một bao tiền to đùng đặt ngay chỗ mà ông đã di chuyển tảng đá. Đó là một một món quà của Đức Vua cho người nào dịch chuyển được tảng đá.<br />
<br />
Câu chuyện của người nông dân này đã giúp chúng ta nhận ra một điều quý giá mà rất nhiều người trong chúng ta không bao giờ nhận thấy: Vật cản đôi khi cũng có thể là một cơ hội tốt.<br />
<br />
5. BÀI HỌC VỀ SỰ HY SINH<br />
<br />
Đã lâu lắm rồi, nhiều năm đã trôi qua, khi tôi còn là tình nguyện viên tại một bệnh viện, tôi có biết một cô gái nhỏ tên Liz – cô ấy đang mắc phải một căn bệnh rất hiểm nghèo.<br />
<br />
Cơ hội sống sót duy nhất của cô là được thay máu từ người anh trai 5 tuổi của mình, người đã vượt qua được cơn bạo bệnh tương tự một cách lạ thường nhờ những kháng thể đặc biệt trong cơ thể. Bác sĩ đã trao đổi và giải thích điều này với cậu bé trước khi yêu cầu cậu đồng ý cho cô em gái những giọt máu của mình. Lúc ấy, tôi đã nhìn thấy sự lưỡng lự thoáng qua trên khuôn mặt bé nhỏ kia. Cuối cùng, với một hơi thở thật sâu và dứt khoát cậu bé đã trả lời rằng: “Cháu đồng ý làm điều đó để cứu em cháu”.<br />
<br />
Nằm trên chiếc giường kế bên em gái để thuận tiện hơn cho việc truyền máu, cậu bé liếc nhìn em gái và đôi mắt ngời lên niềm vui khi thấy đôi má cô bé hồng lên theo từng giọt máu được chuyền sang từ người cậu. Nhưng rồi, khuôn mặt cậu bỗng trở nên tái xanh đầy lo lắng, cậu bé ngước nhìn vị bác sĩ và hỏi với một giọng run run: “Cháu sẽ chết bây giờ phải không bác sĩ?”. Thì ra, cậu bé non nớt của chúng ta đã nghĩ rằng: cậu ta sẽ cho cô em gái tất cả máu trong người mình để cứu cô ấy và rồi cậu sẽ chết thay cô.<br />
<br />
Bạn thấy không, sau tất cả những hiểu lầm và hành động của mình, cậu bé đã có tất cả nhờ đức hy sinh…<br />
<br />
Cuộc sống có câu: “Hãy cho đi thứ bạn có, rồi bạn sẽ được đền bù xứng đáng”.<br />
<br />
-ST-]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[cô ấy muốn gì vậy? em có nên tiếp tục không?]]></title>
			<link>https://uhm.vn/forum/Thread-c%C3%B4-%E1%BA%A5y-mu%E1%BB%91n-g%C3%AC-v%E1%BA%ADy-em-c%C3%B3-n%C3%AAn-ti%E1%BA%BFp-t%E1%BB%A5c-kh%C3%B4ng</link>
			<pubDate>Thu, 14 Jan 2016 03:50:56 +0700</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://uhm.vn/forum/member.php?action=profile&uid=171205">pyhforever</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://uhm.vn/forum/Thread-c%C3%B4-%E1%BA%A5y-mu%E1%BB%91n-g%C3%AC-v%E1%BA%ADy-em-c%C3%B3-n%C3%AAn-ti%E1%BA%BFp-t%E1%BB%A5c-kh%C3%B4ng</guid>
			<description><![CDATA[Em năm nay ms vào 11. Cô ấy học lớp 10 cùng trường. Hai đứa hồi cấp cũng cùng trg nhưng đến cấp 3 (sau khi cô ấy thi tuyểb sinh) em và cô ấy mới nói chuyện với nhau. Em thích cô ấy và có ý định theo đuổi. Em nghe lời bạn em là phải thân quen vs bạn của gái trk thì dễ dàng hơn, trong thời gian đó vẫn tiếp tục nói chuyện bình thường (như bạn bè) vs gái. Nhưng sau một thời gian, bạn của gái có vẻ thích em rồi cứ lằng nhằng vs nhau, em chấm dứt vs bạn của gái và gái biết em thích nó! Em đành lẽo đẽo theo kiểu nói cho nó mình thích nó rồi mới mang cưa ra kéo! Khó! Thời gian sau đó, em thể hiện rất rõ tình cảm của mình nhưng đều bị từ chối khéo! Mục đích của gái, gái nói vì muốn học chưa muốn yêu vội và em xác nhận điều đó là đúng! Ngoài ra, gái ns quý em và nhận em làm anh trai nhưng em k làm! Nói chuyện vs nhau, gái tỏ ra thân thiện vs em hơn rất nhiều người khác, đến cả vấn đề có đứa khác tán gái, gái cũng nói cho em! Thời gian gần đây, hai đứa quan tâm tới nhau nhiều hơn, hỏi han nhau nhiều hơn! Quyết định của em là mặc dù bị từ chối nhưng vẫn cố gắng theo đuổi nhưng em cảm thấy hoang mang về cách ứng xử của gái! Gái cứ từ chối miết, nhận làm anh trai muốn em thôi quan tâm quá nhiều tới gái nhưng lại tỏ ra quan tâm em, thân thiện vs em! Vậy, mọi ng ơi, gái đang coi em là gì vs gái và em có nên tiếp tục không?#:-s]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Em năm nay ms vào 11. Cô ấy học lớp 10 cùng trường. Hai đứa hồi cấp cũng cùng trg nhưng đến cấp 3 (sau khi cô ấy thi tuyểb sinh) em và cô ấy mới nói chuyện với nhau. Em thích cô ấy và có ý định theo đuổi. Em nghe lời bạn em là phải thân quen vs bạn của gái trk thì dễ dàng hơn, trong thời gian đó vẫn tiếp tục nói chuyện bình thường (như bạn bè) vs gái. Nhưng sau một thời gian, bạn của gái có vẻ thích em rồi cứ lằng nhằng vs nhau, em chấm dứt vs bạn của gái và gái biết em thích nó! Em đành lẽo đẽo theo kiểu nói cho nó mình thích nó rồi mới mang cưa ra kéo! Khó! Thời gian sau đó, em thể hiện rất rõ tình cảm của mình nhưng đều bị từ chối khéo! Mục đích của gái, gái nói vì muốn học chưa muốn yêu vội và em xác nhận điều đó là đúng! Ngoài ra, gái ns quý em và nhận em làm anh trai nhưng em k làm! Nói chuyện vs nhau, gái tỏ ra thân thiện vs em hơn rất nhiều người khác, đến cả vấn đề có đứa khác tán gái, gái cũng nói cho em! Thời gian gần đây, hai đứa quan tâm tới nhau nhiều hơn, hỏi han nhau nhiều hơn! Quyết định của em là mặc dù bị từ chối nhưng vẫn cố gắng theo đuổi nhưng em cảm thấy hoang mang về cách ứng xử của gái! Gái cứ từ chối miết, nhận làm anh trai muốn em thôi quan tâm quá nhiều tới gái nhưng lại tỏ ra quan tâm em, thân thiện vs em! Vậy, mọi ng ơi, gái đang coi em là gì vs gái và em có nên tiếp tục không?#:-s]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Làm chủ cảm xúc, chế ngự sự tức giận của bản thân]]></title>
			<link>https://uhm.vn/forum/Thread-L%C3%A0m-ch%E1%BB%A7-c%E1%BA%A3m-x%C3%BAc-ch%E1%BA%BF-ng%E1%BB%B1-s%E1%BB%B1-t%E1%BB%A9c-gi%E1%BA%ADn-c%E1%BB%A7a-b%E1%BA%A3n-th%C3%A2n</link>
			<pubDate>Sat, 06 Jun 2015 18:18:12 +0700</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://uhm.vn/forum/member.php?action=profile&uid=11794">linhcvkt</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://uhm.vn/forum/Thread-L%C3%A0m-ch%E1%BB%A7-c%E1%BA%A3m-x%C3%BAc-ch%E1%BA%BF-ng%E1%BB%B1-s%E1%BB%B1-t%E1%BB%A9c-gi%E1%BA%ADn-c%E1%BB%A7a-b%E1%BA%A3n-th%C3%A2n</guid>
			<description><![CDATA[<span><h3>Nếu không rèn luyện được kỹ năng làm chủ cảm xúc, con người dễ đối mặt nhiều hơn với những thất bại. Để giải thoát mình khỏi thói quen giận dữ điều trước tiên là cần hiểu rõ tác hại của nó. Khi nhận thức được tác hại cơn giận dữ, cần biết chủ động kìm chế cảm xúc của mình bằng những cách thích hợp, hướng suy nghĩ của mình theo cách tích cực và tự chịu trách nhiệm. Điều tệ hại nhất là để cho người khác điều khiển cảm xúc và hành động của mình.<br />
<br />
Nhận biết được sự chuẩn bị bọc phát cơn tức giận của mình là bước đầu tiên trong việc đề phòng và kiềm chế cảm xúc tiêu cực đó giúp tránh phản ứng vội vàng. Mỗi phản ứng của con người là một sự lựa chọn, cần dành đủ thời gian đợi cho màn sương cảm xúc tiêu cực bọc phát tan hết để có thể thấy được toàn cảnh, giúp cho lý trí kịp vào cuộc để lựa chọn cách ứng xử thích hợp, trước khi cảm xúc cướp mất quyền lựa chọn đó. Tác giả chính của Tuyên ngôn độc lập (1716) và là Tổng thống Mỹ (1801-1809) Thomas Jefferson có lời khuyên: “Khi tức giận, hãy đếm đến mười trước khi phát ngôn; còn trong trường hợp rất tức giận, hãy đếm đến một trăm“.<br />
<br />
Cần đặt mình vào vị trí của người khác để có cái nhìn khách quan hơn, tích cực hơn, từ đó kiềm chế cảm xúc và hành động của bản thân và cả của đối phương. Dù trong bất kì tình huống nào cũng cần bình tĩnh, linh hoạt để tìm phương án xử lý tối ưu nhất. Phật Thích Ca dạy rằng:  “ Oán không diệt được oán, tình thương mới diệt được nó“.<br />
<br />
Để cho cơn giận bọc phát dưới bất kỳ hình thức nào cũng đều có hại. Lãnh đạo một công ty Nhật Bản nhận thấy nhân viên trong công ty thường hay nỗi giận và muốn khắc phục tác hại của nó bằng cách tạo điều kiện để cơn giận bọc phát tại một nơi vô hại. Họ xây một „Căn phòng trút giận“, để mổi khi có ai cảm thấy giân dữ thì có thể đến đó trút cơn giận cho hả, bằng cách quát tháo, đập phá. Thế nhưng ngược với mong muốn, tình hình nóng giận trong công ty càng trở nên trầm trọng hơn. Ngược lại, để giải quyết vấn đề trên hãng Kodak cho xây „Phòng khôi hài“, còn Công ty Digital Equipment thì phát động chương trình „Hãy biết cười“ và kết quả đạt được là làm tăng năng suất 15%. Điều đó cho thấy chỉ có thể dập tắt cơn giận bằng những biểu hiện tích cực như pha trò, kể chuyện vui, hài hước, nói nhỏ nhẹ, hay tạm tránh đi chỗ khác để làm giảm không khí căng thẳng.<br />
<br />
Chuyện kể, một hôm đức phật Thích Ca đến một làng nọ và bị nhiều người trong làng chửi mắng, sỉ chục thậm tệ, nhưng người vẫn tỏ ra bình thản. Có người hỏi: vì sao trong tình cảnh như vậy mà ông không tức giận? Đức Phật trả lời: “Nếu những gì các ngươi muốn chỉ là xem thái độ của ta, thì các người đã đến quá trễ rồi. Nếu là 10 năm trước thì có lẽ ta sẽ phản ứng lại. Còn 10 năm trở lại đây thì ta đã không còn bị kẻ khác điều khiển nữa rồi. Ta không còn là nô lệ mà là chủ nhân của chính ta. Ta có thể làm những gì mình muốn, chứ không hành động dựa trên cảm xúc". <br />
<br />
Cherie Carter-Scott chỉ ra: “Tức giận chỉ làm cho bạn nhỏ nhen hơn. Còn tha thứ lại thúc đẩy bạn phát triển hơn cả chính bạn trước kia”. Khoan dung, bỏ qua lầm lỗi và thiếu sót của người khác, giúp trút được gánh nặng tinh thần và tự giải thoát mình khỏi những tác hại mà cơn giận có thể gây ra.<br />
<br />
Khi để sự phẫn nộ bủa vây tâm trí, ta sẽ không đủ tỉnh táo để ứng xử một cách đúng mực, và đó cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự đổ vỡ của nhiều mối quan hệ ngoài xã hội và trong gia đình.</h3></span>]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<span><h3>Nếu không rèn luyện được kỹ năng làm chủ cảm xúc, con người dễ đối mặt nhiều hơn với những thất bại. Để giải thoát mình khỏi thói quen giận dữ điều trước tiên là cần hiểu rõ tác hại của nó. Khi nhận thức được tác hại cơn giận dữ, cần biết chủ động kìm chế cảm xúc của mình bằng những cách thích hợp, hướng suy nghĩ của mình theo cách tích cực và tự chịu trách nhiệm. Điều tệ hại nhất là để cho người khác điều khiển cảm xúc và hành động của mình.<br />
<br />
Nhận biết được sự chuẩn bị bọc phát cơn tức giận của mình là bước đầu tiên trong việc đề phòng và kiềm chế cảm xúc tiêu cực đó giúp tránh phản ứng vội vàng. Mỗi phản ứng của con người là một sự lựa chọn, cần dành đủ thời gian đợi cho màn sương cảm xúc tiêu cực bọc phát tan hết để có thể thấy được toàn cảnh, giúp cho lý trí kịp vào cuộc để lựa chọn cách ứng xử thích hợp, trước khi cảm xúc cướp mất quyền lựa chọn đó. Tác giả chính của Tuyên ngôn độc lập (1716) và là Tổng thống Mỹ (1801-1809) Thomas Jefferson có lời khuyên: “Khi tức giận, hãy đếm đến mười trước khi phát ngôn; còn trong trường hợp rất tức giận, hãy đếm đến một trăm“.<br />
<br />
Cần đặt mình vào vị trí của người khác để có cái nhìn khách quan hơn, tích cực hơn, từ đó kiềm chế cảm xúc và hành động của bản thân và cả của đối phương. Dù trong bất kì tình huống nào cũng cần bình tĩnh, linh hoạt để tìm phương án xử lý tối ưu nhất. Phật Thích Ca dạy rằng:  “ Oán không diệt được oán, tình thương mới diệt được nó“.<br />
<br />
Để cho cơn giận bọc phát dưới bất kỳ hình thức nào cũng đều có hại. Lãnh đạo một công ty Nhật Bản nhận thấy nhân viên trong công ty thường hay nỗi giận và muốn khắc phục tác hại của nó bằng cách tạo điều kiện để cơn giận bọc phát tại một nơi vô hại. Họ xây một „Căn phòng trút giận“, để mổi khi có ai cảm thấy giân dữ thì có thể đến đó trút cơn giận cho hả, bằng cách quát tháo, đập phá. Thế nhưng ngược với mong muốn, tình hình nóng giận trong công ty càng trở nên trầm trọng hơn. Ngược lại, để giải quyết vấn đề trên hãng Kodak cho xây „Phòng khôi hài“, còn Công ty Digital Equipment thì phát động chương trình „Hãy biết cười“ và kết quả đạt được là làm tăng năng suất 15%. Điều đó cho thấy chỉ có thể dập tắt cơn giận bằng những biểu hiện tích cực như pha trò, kể chuyện vui, hài hước, nói nhỏ nhẹ, hay tạm tránh đi chỗ khác để làm giảm không khí căng thẳng.<br />
<br />
Chuyện kể, một hôm đức phật Thích Ca đến một làng nọ và bị nhiều người trong làng chửi mắng, sỉ chục thậm tệ, nhưng người vẫn tỏ ra bình thản. Có người hỏi: vì sao trong tình cảnh như vậy mà ông không tức giận? Đức Phật trả lời: “Nếu những gì các ngươi muốn chỉ là xem thái độ của ta, thì các người đã đến quá trễ rồi. Nếu là 10 năm trước thì có lẽ ta sẽ phản ứng lại. Còn 10 năm trở lại đây thì ta đã không còn bị kẻ khác điều khiển nữa rồi. Ta không còn là nô lệ mà là chủ nhân của chính ta. Ta có thể làm những gì mình muốn, chứ không hành động dựa trên cảm xúc". <br />
<br />
Cherie Carter-Scott chỉ ra: “Tức giận chỉ làm cho bạn nhỏ nhen hơn. Còn tha thứ lại thúc đẩy bạn phát triển hơn cả chính bạn trước kia”. Khoan dung, bỏ qua lầm lỗi và thiếu sót của người khác, giúp trút được gánh nặng tinh thần và tự giải thoát mình khỏi những tác hại mà cơn giận có thể gây ra.<br />
<br />
Khi để sự phẫn nộ bủa vây tâm trí, ta sẽ không đủ tỉnh táo để ứng xử một cách đúng mực, và đó cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự đổ vỡ của nhiều mối quan hệ ngoài xã hội và trong gia đình.</h3></span>]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Súc đạo luân hồi du ký]]></title>
			<link>https://uhm.vn/forum/Thread-S%C3%BAc-%C4%91%E1%BA%A1o-lu%C3%A2n-h%E1%BB%93i-du-k%C3%BD</link>
			<pubDate>Mon, 09 Feb 2015 17:25:24 +0700</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://uhm.vn/forum/member.php?action=profile&uid=153791">lyquochoang</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://uhm.vn/forum/Thread-S%C3%BAc-%C4%91%E1%BA%A1o-lu%C3%A2n-h%E1%BB%93i-du-k%C3%BD</guid>
			<description><![CDATA[<a href="https://leehung.bitrix24.com/docs/pub/fd6efe01041ed3194480a2772c21ecd4/S%C3%BAc_" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">https://leehung.bitrix24.com/docs/pub/fd.../S%C3%BAc_</a><br />
<br />
%C4%90%E1%BA%A1o_Lu%C3%A2n_H%E1%BB%93i_K%C3%AD_-_C%E1%BA%A3n...?LoadFile=1]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<a href="https://leehung.bitrix24.com/docs/pub/fd6efe01041ed3194480a2772c21ecd4/S%C3%BAc_" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">https://leehung.bitrix24.com/docs/pub/fd.../S%C3%BAc_</a><br />
<br />
%C4%90%E1%BA%A1o_Lu%C3%A2n_H%E1%BB%93i_K%C3%AD_-_C%E1%BA%A3n...?LoadFile=1]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Xem tử vi biết nốt ruồi trên khuôn mặt đàn ông]]></title>
			<link>https://uhm.vn/forum/Thread-Xem-t%E1%BB%AD-vi-bi%E1%BA%BFt-n%E1%BB%91t-ru%E1%BB%93i-tr%C3%AAn-khu%C3%B4n-m%E1%BA%B7t-%C4%91%C3%A0n-%C3%B4ng</link>
			<pubDate>Fri, 12 Dec 2014 14:41:22 +0700</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://uhm.vn/forum/member.php?action=profile&uid=145927">tomiluc</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://uhm.vn/forum/Thread-Xem-t%E1%BB%AD-vi-bi%E1%BA%BFt-n%E1%BB%91t-ru%E1%BB%93i-tr%C3%AAn-khu%C3%B4n-m%E1%BA%B7t-%C4%91%C3%A0n-%C3%B4ng</guid>
			<description><![CDATA[Thông thường ai cũng có <a href="http://tuvi2020.info/xem-tu-vi-not-ruoi-tren-guong-mat-nam-gioi.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">xem tử vi nốt ruồi</span></a> . Nốt  ruồi có thể có màu vàng nhạt, màu nâu hoặc màu đỏ. Màu sắc của nốt ruồi  thường không quan trọng bằng vị trí của nó. Có những nốt ruồi rơi vào  cung quan lộc, cũng có những nốt ruồi ở vào vị trí kiếp sát. Chính vì  thế bạn hay tra cứu tất cả các nốt ruồi trên cơ thể bạn để hiểu được ý  nghĩa của chúng. Từ đó biết được đâu là nốt ruồi cát, đâu là nốt ruồi  hung để có biện pháp xử lý kịp thời ( tẩy nốt ruồi)<br />
Số1: Hại cha mẹ. Là nốt ruồi xấu, nên tẩy.  Số2: Thích làm quan. Ham công danh sự nghiệp.<br />
  Số3: Làm quan to. Gặp thời vận mà phất lên.<br />
  Số 4: Chết vì tai nạn. Chết oan uổng. Nên tẩy nốt ruồi này đi.<br />
  Số 5: Không hợp nghề võ. Nếu làm trong quân đội nên xuất ngũ chuyển nghề.<br />
<br />
  Số 6: Số mất của. Làm được bao nhiêu đều tiêu tán. Nên tẩy nốt ruồi này đi.<br />
  Số 7: Cuộc sống đầy phiền não.<br />
  Số 8: Đi sông biển hãy coi chừng.<br />
  Số 9: Mọi sự hanh thông.<br />
  Số 10: Chuyện làm ăn hay gặp thất bại.<br />
  Số 11: Quý tướng. rất tốt không được xóa<br />
  Số 12: Giàu có. Phúc đức hết đời<br />
  Số 13: Có địa vị.<br />
  Số 14:  Không nên đi sông biển.<br />
  Số 15:  Không tốt cho tiền vân nên xóa<br />
  Số 16: Tán tài<br />
  Số 17: Sát thê. Hay còn gọi nốt ruồi sát vợ. Nên tẩy nốt ruồi ở vị trí này đi.<br />
  Số 18: Ít con cái<br />
  Số 19: Hay tủi thân một mình cô đơn<br />
  Số 20: Mất cha.<br />
  Số 21: Khổ vì vợ.<br />
  Số 22: Mê cờ bạc nên tự hại mình.<br />
  Số 23: Điềm con cái mất trước cha.<br />
  Số 24: Tuyệt tự.<br />
  Số 25: Ít con cái. Không hưởng phúc từ con.<br />
  Số 26: Xảo quyệt.<br />
  Số 27: Thường gặp tai nạn.<br />
  Số 28: Khi chết xa quê hương.<br />
  Số 29: Không nên nuôi thú vật.<br />
  Số 30: Ách giữa đàng mang vào cổ.<br />
  Số 31: Gặp tai nạn từ sông nước.<br />
  Số 32: Có của hoạnh tài.<br />
  Số 33:Thông minh, lanh lẹ.<br />
  Số 34: Thường rượu chè say sưa.<br />
  Số 35: Gặp chuyện tốt đẹp.<br />
  Số36 :Người hiền lành.<br />
  Số 37:Số làm quan to (nếu ẩn dưới cằm)<br />
  Số 38:Đều tốt mọi sự (nếu nốt ruồi son, hay ẩn được hưởng phúc đức ba đời).  <br />
  Số 39:Cuộc sống yên ấm hạnh phúc trọn kiếp<br />
  Số 40:Bình yên cuộc sống êm đềm<br />
  Số 41:Tiền tài phú quý ngập tràn<br />
<br />
<a href="http://tuvitrondoi2015.blogspot.com/2014/08/xem-tu-vi-biet-not-ruoi-tren-khuon-mat.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">http://tuvitrondoi2015.blogspot.com/2014...n-mat.html</a><br />
<br />
<a href="http://quangcaokientre.com/" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Bảng hiệu quảng cáo</span></a>]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Thông thường ai cũng có <a href="http://tuvi2020.info/xem-tu-vi-not-ruoi-tren-guong-mat-nam-gioi.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">xem tử vi nốt ruồi</span></a> . Nốt  ruồi có thể có màu vàng nhạt, màu nâu hoặc màu đỏ. Màu sắc của nốt ruồi  thường không quan trọng bằng vị trí của nó. Có những nốt ruồi rơi vào  cung quan lộc, cũng có những nốt ruồi ở vào vị trí kiếp sát. Chính vì  thế bạn hay tra cứu tất cả các nốt ruồi trên cơ thể bạn để hiểu được ý  nghĩa của chúng. Từ đó biết được đâu là nốt ruồi cát, đâu là nốt ruồi  hung để có biện pháp xử lý kịp thời ( tẩy nốt ruồi)<br />
Số1: Hại cha mẹ. Là nốt ruồi xấu, nên tẩy.  Số2: Thích làm quan. Ham công danh sự nghiệp.<br />
  Số3: Làm quan to. Gặp thời vận mà phất lên.<br />
  Số 4: Chết vì tai nạn. Chết oan uổng. Nên tẩy nốt ruồi này đi.<br />
  Số 5: Không hợp nghề võ. Nếu làm trong quân đội nên xuất ngũ chuyển nghề.<br />
<br />
  Số 6: Số mất của. Làm được bao nhiêu đều tiêu tán. Nên tẩy nốt ruồi này đi.<br />
  Số 7: Cuộc sống đầy phiền não.<br />
  Số 8: Đi sông biển hãy coi chừng.<br />
  Số 9: Mọi sự hanh thông.<br />
  Số 10: Chuyện làm ăn hay gặp thất bại.<br />
  Số 11: Quý tướng. rất tốt không được xóa<br />
  Số 12: Giàu có. Phúc đức hết đời<br />
  Số 13: Có địa vị.<br />
  Số 14:  Không nên đi sông biển.<br />
  Số 15:  Không tốt cho tiền vân nên xóa<br />
  Số 16: Tán tài<br />
  Số 17: Sát thê. Hay còn gọi nốt ruồi sát vợ. Nên tẩy nốt ruồi ở vị trí này đi.<br />
  Số 18: Ít con cái<br />
  Số 19: Hay tủi thân một mình cô đơn<br />
  Số 20: Mất cha.<br />
  Số 21: Khổ vì vợ.<br />
  Số 22: Mê cờ bạc nên tự hại mình.<br />
  Số 23: Điềm con cái mất trước cha.<br />
  Số 24: Tuyệt tự.<br />
  Số 25: Ít con cái. Không hưởng phúc từ con.<br />
  Số 26: Xảo quyệt.<br />
  Số 27: Thường gặp tai nạn.<br />
  Số 28: Khi chết xa quê hương.<br />
  Số 29: Không nên nuôi thú vật.<br />
  Số 30: Ách giữa đàng mang vào cổ.<br />
  Số 31: Gặp tai nạn từ sông nước.<br />
  Số 32: Có của hoạnh tài.<br />
  Số 33:Thông minh, lanh lẹ.<br />
  Số 34: Thường rượu chè say sưa.<br />
  Số 35: Gặp chuyện tốt đẹp.<br />
  Số36 :Người hiền lành.<br />
  Số 37:Số làm quan to (nếu ẩn dưới cằm)<br />
  Số 38:Đều tốt mọi sự (nếu nốt ruồi son, hay ẩn được hưởng phúc đức ba đời).  <br />
  Số 39:Cuộc sống yên ấm hạnh phúc trọn kiếp<br />
  Số 40:Bình yên cuộc sống êm đềm<br />
  Số 41:Tiền tài phú quý ngập tràn<br />
<br />
<a href="http://tuvitrondoi2015.blogspot.com/2014/08/xem-tu-vi-biet-not-ruoi-tren-khuon-mat.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">http://tuvitrondoi2015.blogspot.com/2014...n-mat.html</a><br />
<br />
<a href="http://quangcaokientre.com/" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Bảng hiệu quảng cáo</span></a>]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Âm Luật Vô Tình]]></title>
			<link>https://uhm.vn/forum/Thread-%C3%82m-Lu%E1%BA%ADt-V%C3%B4-T%C3%ACnh--81054</link>
			<pubDate>Tue, 05 Aug 2014 08:20:30 +0700</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://uhm.vn/forum/member.php?action=profile&uid=153791">lyquochoang</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://uhm.vn/forum/Thread-%C3%82m-Lu%E1%BA%ADt-V%C3%B4-T%C3%ACnh--81054</guid>
			<description><![CDATA[TRÁNH XA TÀ DÂM,GẶP MAY HẾT XUI.<br />
<br />
ÂM LUẬT VÔ TÌNH.<br />
Thượng Quan Ngọc Hoa trước tác.<br />
<br />
Lời Tựa.<br />
A Di Đà Phật ! chào đại chúng !<br />
Nguyện thế giới hòa bình,chiến tranh chấm dứt !<br />
Nguyện hư không pháp giới tất cả hữu tình vui vẻ hạnh phúc,bình yên an lành !<br />
Nguyện pháp giới tất cả hữu tình giải thoát sanh tử,xuất ly tam giới,lìa khổ được vui !<br />
Nguyện pháp giới tất cả hữu tình lắng nghe chánh pháp,nghiêm trì giới luật thanh tịnh !<br />
Nguyện trái đất của chúng ta,từ trường sớm ngày hồi phục như thuở ban đầu sơ kiếp,quân bình và hài hòa.Nguyện tất cả hữu tình chúng sanh có duyên gặp quyển sách này có thể nói lại cho người thân bạn bè của mình,quí trọng thân người khó được do quá khứ đã giữ gìn ngũ giới,cố gắng tu hành,lợi dụng thân người ngũ quan đầy đủ này tiếp tục giữ gìn giới luật thanh tịnh,nâng cao ánh sáng tự tánh bên trong chúng ta,sớm ngày đạt được giải thoát qua bờ bên kia !<br />
Để linh tánh của chúng ta bước về ánh sáng,nếu tất cả hữu tình linh tánh đều trong sáng thì sẽ đem lại sự quân bình cho đại tự nhiên vũ trụ,chúng ta sẽ không phải chịu quá nhiều đại cộng nghiệp thiên tai.Do đó có thể nói vì toàn vũ trụ mà chúng ta cần làm tốt bản thân mình trước,chúng ta chính là tiểu vũ trụ;tiểu vũ trụ thông đại vũ trụ,một tức tất cả,tất cả tức một,mọi người không phân biệt ta người,tất cả đều liên quan mật thiết.Đừng nghĩ rằng làm một việc riêng tư,không ai biết được;một niệm thiện ác đều được kết nối trực tiếp ghi lại trên sách thiện ác tại âm ty địa phủ.<br />
Phật bồ tát từ bi nhìn hiện tại thế đạo sa đọa,vì khoa học phát triển đem lại cho người đời vật chất phong phú,tư tưởng tâm người càng trở nên hư hỏng.Người hiện tại đều không tin nhân quả,cho rằng nhân quả là loại tư tưởng cổ hủ không hợp trào lưu.Ngay cả đứa trẻ nhỏ cũng không giống như lúc trước thời sơ kiếp tánh tình thuần lương thì nói gì đến người lớn.Càng làm mất đi truyền thống tốt lành của Khổng Mạnh thời cổ xưa và sự giáo dục của tứ thư ngũ kinh.Người hiện tại tinh thần sống rất thoáng,cũng như quần áo nơi buôn bán lớn,nào là đồ lót,dây đeo,đều xem là bình thường,vào thời xưa nếu như người nữ ăn mặc như vậy thì không thể nào được.Bây giờ nơi nào cũng có,các loại tạp chí,giấy báo,ảnh bìa toàn là kiểu hở hang,áo hở ngực,đứa trẻ nhỏ mỗi ngày đến trường đều được nhìn thấy,không hư hỏng cũng không được.Phật bồ tát phát hiện thế gian gần như nghiêm trọng thiếu hụt sự giáo dục cho linh tánh,lo lắng linh tánh chúng sanh trầm luân,tai nạn nhất định sẽ không ngừng vãng lai.Thế gian tuy có nhiều người thiện tâm không ngừng đề xướng văn chương đạo đức nhưng nếu như chúng sanh không chịu bỏ ác làm lành thì sau khi chết nhất định sẽ vào địa ngục chịu đủ cực hình,không có ngày ra.<br />
Thiên đế từ bi,nhìn các đại địa ngục đã tràn đầy người,lại phải tiếp tục xây thêm,đặc biệt là các địa ngục dành cho tà dâm đều đầy những đứa nhỏ trẻ tuổi thọ khổ hình,cũng vì chúng thiếu được giáo dục tư tưởng nhân quả từ trước,thực là việc đau lòng cho chúng sinh nhân gian !<br />
Vì thế mà Thiên Đế đặc biệt thỉnh thị Phật,xin Phật sắp xếp một vị đệ tử dương gian thích hợp,đã từng giữ thanh tịnh giới luật,phải trong tình trạng sáng suốt xuống tham quan địa ngục,sau đó viết thành một quyển sách,đem tình hình địa ngục tường tận nói cho chúng sinh dương gian biết rõ,tên là "âm luật vô tình".Sách này sau mỗi lần tham quan địa ngục sẽ dùng văn tự dễ hiểu viết ra;không những thế mà mỗi lần viết xong phải sữa chỉnh kỹ càng cho hợp với tình hình chân thật mới được phát hành.Có lúc vì để viết đúng một phần sách mà A Ngọc phải tới lui nơi địa ngục nhiều lần để làm rõ nội dung;Do đó,sẽ khác xa những sách thiện hay phụ đồng đã lưu truyền tại nhân gian,cũng không giống loại tường thuật lại của những người nằm mộng thấy kể lại.<br />
Thiên Đế hy vọng lần này tiết lộ thiên cơ để cho tôi Thượng Quan Ngọc Hoa đem tình hình địa ngục nói cho thế nhân,mong cảnh giác người đời cố tu tâm dưỡng tánh,từ đây không phạm giới phạm tội,nhất định sẽ làm giảm cơ hội sau khi mạng chung chịu khổ ở địa ngục.Nếu như có thể đem thật tướng địa ngục nói rộng ra làm nhiều người tỉnh ngộ cải tà qui chánh,siêng năng hành thiện tích phước thì có thể miễn trừ quả báo của ác nhân địa ngục,chuyển sanh phước địa hoặc nữ chuyển thân nam,đương nhiên tình hình tường tận sẽ được phật bồ tát và nhân quả xem xét cụ thể.<br />
Trong cá thể của mỗi sinh mạng đều có bậc thềm hướng đến quang minh cho hữu tình chúng sanh nào biết sám hối bước lên,để chúng sinh hiểu được gieo thiện nhân được thiện quả,gieo ác nhân bị ác báo,nhân quả báo ứng như bóng theo hình,không phải không báo,thời gian chưa đến mà thôi.<br />
Lúc trước,Phật có khai thị cho A Ngọc,kêu A Ngọc tham quan địa ngục,sau đó viết ra văn chương để đại chúng hiểu rõ nhân quả,thọ trì thanh tịnh giới luật.Chưa thọ giới thì cố gắng thọ giới;đã thọ giới rồi thì càng cố gắng hơn nữa,không ngừng tiến bộ,làm nhiều việc lợi ích chúng sanh.<br />
A Ngọc là đệ tử Phật đã quy y tam bảo và thọ trì năm giới,rất hân hạnh được phật cho phép làm công việc này.Địa Tạng Bổn Nguyện Kinh có nói: "nếu không phải uy thần thì là nghiệp lực".Thật ra,nếu không có Phật lực gia bị,A Ngọc căn bổn không đủ phước đức trí tuệ mà gánh vác nhiệm vụ thần thánh này.Nhưng con sẽ quí trọng mà toàn sức hoàn thành sự an bày này của Phật.<br />
Có một câu nói như vậy: "Hoằng pháp do bồ tát,hộ pháp là do phật".Thực ra tất cả công đức đều bắt nguồn từ phật,phật ở sau lưng an bày và gia trì rất nhiều rất nhiều,chỉ vì chúng ta không biết mà thôi,do đó đại chúng nên cố gắng giữ giới báo phật ân,sư ân !<br />
Đệ tử xấu hổ Thượng Quan Ngọc Hoa kính bút.<br />
<br />
ÂM LUẬT VÔ TÌNH PHẬT HỮU TÌNH.<br />
<br />
Có người bạn trên mạng hỏi: "sao gọi là âm luật vô tình ?".Âm luật còn có thể gọi là nhân quả,nhân quả thì bất biến,đó là định luật của vũ trụ.Vô tình ở đây có nghĩa tính tất nhiên của nhân quả,không thể vì vật gì mà thay đổi,nhân nào quả đó.Nhân quả thông ba đời,do đó nhiều khi không thể chứng kiến tận mắt được,nhưng nhân quả có thật không sai,không phải vì thân phận,địa vị,tài phú,danh vọng,nam nữ,già trẻ,màu da mà có sai biệt khác nhau,nhân quả bình đẳng trước tất cả chúng sanh,do đó mà nói là vô tình.<br />
Âm luật vô tình nhưng phật hữu tình.Tuy nhân quả định luật bất biến nhưng trước khi hình thành quả báo thiện ác thì ở giữa có duyên,có thể thông qua sữa lỗi làm thiện mà chuyển hóa.Chư phật bồ tát đại từ đại bi,một mực không mệt mỏi mà kiên trì chuyển chánh pháp luân,tùy cơ giáo hóa,tùy duyên khai thị,lợi ích tất cả chúng sinh,chúng sinh mới có nơi y theo mà thoát khổ được vui,là con đường giải thoát cứu cánh,mau chóng trở thành đèn sáng ở bờ bên kia.<br />
Ở trong thời đại này,tuy có thiện hạnh nhân sĩ nhưng đa phần không hiểu nhân quả,chiều thế tạo ác nghiệp ngày càng cường thạnh,tai nạn,chiến tranh,tật bệnh đầy khắp.Tuy có uy thần lực,công đức lực,từ bi lực,thiện nghiệp lực,hồi hướng lực hợp lại cũng chỉ trị được phần ngọn,nếu muốn trị phần gốc thì cần mọi người đều biết nhân quả,cải tà quy chánh,bỏ ác tòng thiện,nhân vì cảnh theo tâm chuyển nên chư phật thường chuyển pháp luân.<br />
"Âm Luật Vô Tình" là sách ứng thời ứng thế mà ra,là do lòng bi mẫn của phật bồ tát đối với chúng sanh từ bi an bày.Thượng Quan Ngọc Hoa tiền bối càng không từ cực khổ,dũng cảm gánh trọng trách,tận tâm tận lực vì chúng sanh phục vụ.Có một số chúng sanh không tin nhân quả mà tạo nghiệp,khuyên mãi không nghe nhưng phật bồ tát không nhẫn tâm thấy chúng sanh chịu khổ,để chúng sanh thấy rõ chân tướng của địa ngục,sinh tâm thật sự sám hối mà thay đổi;chưa tạo mà biết để khỏi tạo nghiệp nữa,cũng như vẽ một đường phòng vệ trước cửa địa ngục,hy vọng đường phòng vệ này ngăn cản chúng sanh đi chịu khổ.Thật sự là ân cứu độ của Phật bồ tát cho đến bao giờ mới có thể nói hết được ?<br />
Nếu bạn xem qua "âm luật vô tình",mà sám hối thay đổi,sau không tạo nữa,quảng tuyên lưu hành,giúp người cải chánh,thì cửa địa ngục tự nhiên đóng kín;Nhưng nếu cứ mãi không nghe không tin,tự ý tạo tác,thì cửa địa ngục sẽ mở rộng đón chào,không người ngăn cản.Nhưng bạn phải biết rằng,lúc đó,Địa Tạng Vương Bồ tát gặp lại bạn chỉ mong bạn đi vào hành bồ tát đạo,vào địa ngục cứu độ chúng sanh,chứ không phải vì tạo ác nghiệp mà đi vào.<br />
Mọi người trân trọng !<br />
Đạo Phong cung kính hợp chưởng.<br />
<br />
1,ĐỆ THẤT ĐIỆN HIỆN TRƯỜNG NGHE XỬ.<br />
<br />
Cảm ân chư phật bồ tát gia trì để con có cơ hội du địa ngục lần này,vừa tăng trưởng kiến văn lại kiên cố lòng tin với việc giữ giới.Thật ra từ nhỏ tôi đã có loại cảm ứng đặc biệt này,tức là những việc sắp phát sinh hoặc sẽ xảy ra trong tương lai tự nhiên xuất hiện trong giấc mơ của tôi,cảm thấy như mơ nhưng không phải là mơ.Tôi có thể biết rõ linh hồn mình xuất ra và nhìn thấy mình nằm trên giường,linh hồn xuất ra nhìn thấy những việc phát sinh thì có thể nhớ rõ,thường thì những điều này sẽ ứng nghiệm trong tương lai hay là một loại điềm báo nhưng chưa xảy ra thì tôi đã xử lý ổn thỏa rồi.<br />
Lúc trước toàn là những việc liên quan đến cá nhân và người nhà,lần này thì khá đặc biệt,tôi cần phải chia sẽ với tất cả hữu tình chúng sinh,để mọi người biết được sự quan trọng của ý niệm,có nghĩa là nếu muốn người khác không biết thì mình đừng có làm.Bên cạnh chúng ta,trong sinh hoạt thường ngày có nhiều điều sai lầm mà ta không biết.Giống như một đôi vợ chồng hợp pháp,song phương đều không có ngoại tình nhưng họ đều phạm tội tà dâm.Vì sao ? vì họ không giữ giới luật phi thời,phi địa,phi khí.<br />
Đêm hôm qua,tôi cảm thấy như nằm mơ xuất hồn du địa ngục,vừa đến địa ngục tôi cảm thấy âm khí rất nặng.Nam nữ ở đây đều đang chịu đau khổ,kêu gào thảm thiết,phát ra tiếng kêu lớn thất kinh,không có chút tiếng cười,không có tự do,trên người bị gông sắt khóa lại,có người bị quỷ sứ dùng hình cụ lôi đi,bị đánh,bị đâm.Địa ngục có quỷ sai,có phán quan,bọn họ cũng không cười,rất nghiêm túc,có người nhìn rất dữ.Chỉ có một bộ phận địa phủ quan viên nhìn có vẻ không dữ lắm,còn những quỷ sai khác thường rất hung tợn.Địa ngục không có ánh sáng,không giống nhân gian,khí trời đen lại có chút đỏ,rất khó hình dung,là một cảm giác rất không thoải mái.<br />
Lúc đó tôi vừa đến địa ngục đệ thất điện,đúng lúc địa phủ đang xét xử một vụ phạm tà dâm của hồn nam,được sự cho phép của phán quan mà vào dự thính.Ngay chính giữa đại điện là chủ quản tên Thái Sơn Vương,ông ta quản lý điện này,điện này có 16 địa ngục nhỏ đều do Thái Sơn Vương phụ trách quản lý.Lớn nhất trong địa ngục là Diêm La Vương.Diêm La Vương quản lý cả địa ngục,bao gồm thập điện,mỗi điện có một Vương,mỗi vị Điện Vương phụ trách quản lý 16 cái địa ngục nhỏ.Hai bên Thái Sơn Vương là hai vị địa phủ quan viên,một vị là phán quan,một là chấp hành quỉ sai cầm đao lớn và xiềng xích,bọn họ đều rất nghiêm túc nghe xử,không khí cảm giác âm u,lại có cảm giác mát nhẹ.<br />
Lúc này thấy Thái Sơn Vương rất hung dữ xét hỏi nam hồn phạm tội tà dâm khi còn sống;hồn này đang xảo biện,Thái Sơn Vương dùng tay vẽ một đường trên hư không hiện ra Nghiệt Kính Đài.Nghiệt Kính Đài hiện ra hồn nam lúc còn trẻ cùng vợ và người tình phi thời,phi địa,phi khí,đang xem sách sắc tình,đĩa phim sex v.v.. tội tà dâm.Nam hồn kinh sợ cả người run rẩy,quì xin tha tội,nhưng đã quá muộn rồi,Thái Sơn Vương đã mệnh lệnh quỉ sai áp giải đến địa ngục ôm trụ đồng thọ hình.<br />
Quỉ sai cầm đao lớn dùng xiềng xích lôi tội hồn ra khỏi đại điện đi thọ hình,tôi cũng đi theo xem tình hình ra sao.Không xem thì không sao,một khi đã xem rồi thì ôi ! thật kinh người,toàn bộ hồn quỉ trong địa ngục này đều rên la thống khổ,mà số lượng thì rất nhiều rất nhiều,bọn họ rên la thê thảm mà không hề ngưng nghỉ được,sự đau khổ liên tục mà hoàn toàn không có thời gian nghỉ ngơi.Tôi trông thấy vị nam hồn lúc nãy vui vẻ chạy đến trụ đồng,khi hắn ôm vào thì tức khắc rên la đau khổ.Tôi hỏi phán quan tại sao như vậy ? Phán quan nói lúc nãy hồn nam thấy trụ đồng là mỹ nữ nên hắn rất vui vẻ nhưng khi ôm vào trụ đồng thì bị đốt cháy cả người,cho nên đau khổ rên la.<br />
Tôi tiếp tục hỏi phán quan sao gọi là phi thời,phi địa,phi khí ? thì ra dù là vợ chồng chính thức cũng phải giữ một số giới luật,nếu không cũng là phạm tội tà dâm.Phi thời là ngày đản sanh của phật bồ tát hoặc 6 ngày chay trong mỗi tháng hay 3 tháng trường chay trong năm,không được quan hệ.Trong những ngày này như mùng một,mùng 10,15,tứ đại thiên vương sẽ du tuần xem xét ghi lại thiện ác tại nhân gian rồi báo cáo cho Ngọc Đế.Phi Địa là vợ chồng quan hệ nên vừa đủ,ngoài giường nằm của vợ chồng không được quan hệ ở nơi khác như phòng khách,bếp,nhà vệ sinh,lộ thiên,trước tượng phật v.v...Phi khí là ngoài bộ phận sinh dục ra không được hành dâm ở bộ phận khác,nếu không sẽ phải xuống địa ngục chịu khổ.Chịu hết khổ địa ngục còn phải đầu thai làm heo,chó,uyên ương,rắn v.v...<br />
Hiện tại khoa học phát triển,trên mạng internet có rất nhiều trang web sắc tình,không được xem,xem cũng là phạm,nhất định sẽ bị giảm trừ phúc,lộc,thọ.Tuy rằng chưa có hành động gì,ý niệm nhất động,câu sinh thần lập tức ghi lại hết.Mỗi người chúng ta đều có hai vị câu sinh thần,một vị ghi ác nghiệp,một vị ghi thiện nghiệp.Đương nhiên có người nói,một đời tôi chỉ quan hệ với bạn đời của mình thì không tính là phạm tội được,thật ra là sai.Phán quan nói: làm người phải giữ gìn chân tinh khí,quan hệ quá độ sẽ làm tổn hao chánh khí của tự thân mình,khi nam nữ quan hệ hành dâm thì sẽ làm phát tán tà khí phá hoại chánh khí trong trời đất.Nếu như vợ chồng chánh thức có phạm phải những điều như trên như giới luật phi thời,phi địa,phi khí thì mau mau sám hối thay đổi và đem những điều này chuyển nói cho tất cả hữu tình làm cho mọi người biết giữ mình trong sạch,giữ lễ tiết,giữ nhân luân,làm cho chánh khí trong trời đất được quân bình.<br />
Nếu như lúc trước có phạm phải phi thời,phi địa,phi khí mà do người bạn đời ép bức,trong lòng không có ý hưởng lạc hành dâm,lại kịp lúc sám hối sửa lỗi,đồng thời lập nguyện về sau sẽ khuyến hóa người khác,như thế thì sẽ khỏi phải chịu khổ hình nơi địa ngục.Nếu như cố ý tìm cầu khoái cảm mà phạm giới,thì phải đọa địa ngục ôm trụ đồng,thọ báo xong bị đánh vào súc sanh đạo,lại chuyển sanh làm thân nữ hạ tiện.<br />
Dưới đây sẽ nói đến sự phân biệt phán xử đối với kẻ phạm giới tà dâm.Trước tiên là nam nữ chưa kết hôn,nếu nam nữ chưa kết hôn còn giữ được thân đồng tử(người nam nữ chưa từng quan hệ tình dục với người khác phái) xem sách sắc tình hay trang web sex,cũng là phạm tội tà dâm,sẽ bị giảm trừ phước,lộc,thọ.Nếu như xem một lần sẽ bị giảm tuổi thọ 1 tháng,nếu tiếp tục xem sẽ bị giảm thọ 1 năm hay hơn nữa,nếu như xem mà không có hành động và kịp thời sám hối thì có thể giảm nhẹ tội nghiệp.<br />
Nếu như chưa kết hôn mà quan hệ tuy là chỉ với một đối tượng dù sau đó đi đến kết hôn với người đó,cả hai cũng phải bị giảm trừ phước báo vì không giữ đúng lễ tiết.<br />
Nếu như chưa kết hôn mà quan hệ bừa bãi,có nghĩa là thường xuyên thay đổỉ đối tượng,hôm nay A,ngày mai B,ngày mốt C,hiện tại rất phổ biến trào lưu người nam càng có nhiều bạn gái càng tự hào,người nữ thì ngủ với nhiều người v.v...Trường hợp như vậy sau khi mạng chung sẽ đọa địa ngục ôm trụ đồng,thời gian chịu khổ càng dài,sau đó luân hồi làm súc sanh,lại chuyển làm thân người trả nợ xưa.Nếu như đã kết hôn mà ngoại tình thì phải xem xét mức độ thương tổn mà định thời gian thọ hình cùng mức độ nặng nhẹ,ít nhất là ôm trụ đồng 1 vạn năm.<br />
Nếu như cưỡng hiếp,giở mưu kế làm người nữ mất trinh tiết,hay người nữ tham dâm,mạng chung đọa địa ngục này 2 vạn năm,sau đó lại vào địa ngục rên la thọ báo 1 vạn năm,lại sanh nhân gian trả nợ cũ.Nếu như tà dâm lại thêm độc hại người chết,đọa địa ngục này 4 vạn năm,sau đó sanh vào nhân gian trả nợ cũ.<br />
A Di Đà Phật ! nếu viết ra không hay thì đều là lỗi của kẻ hậu học không liên quan đến sự chỉ dạy của phán quan.Cảm tạ sự gia trì của phật bồ tát cho con đến được địa ngục tham quan mà có thể viết ra đoạn văn này chia sẽ với mọi người.Nếu như có công đức,xin đem hồi hướng cho hư không pháp giới nhất thiết chúng sinh,xa rời dục vọng,giữ gìn giới luật thanh tịnh,cùng chứng vô thượng chánh đẳng bồ đề.<br />
<br />
2,PHÁN QUAN NÓI: "SAU KHI CHẾT MỚI SÁM HỐI THÌ ĐÃ QUÁ TRỄ RỒI !".<br />
<br />
Cảm ân phật bồ tát đại gia trì,cho con lần nữa đến địa ngục tăng trưởng kiến văn.Địa ngục cảm giác luôn luôn đau khổ và đen tối,sung mãn từ trường âm tính,hy vọng mọi người không phải vì tạo nghiệp mà đến địa ngục,đúng là thật đau khổ quá.<br />
Lập tức đến đệ thất điện đang thẩm vấn một hồn nam,trông anh ta khá lịch sự,không biết là phạm phải tội gì,bị phán quan phán 500 năm tội nuốt viên đồng.Xem kỹ thì ra anh ta có một vợ và hai người tình cố định,lúc còn sống anh ta thích hành dâm phi thời,phi địa,phi khí;ba người này vừa đủ có thể thỏa mãn dục vọng của anh ta,một đời anh ta chỉ có 3 người này.<br />
Lúc này nghe thấy hồn nam tự biện hộ cho mình:"tại sao có thể miễn trừ 500 năm tội ôm trụ đồng mà không trừ được 500 năm tội nuốt viên đồng ?".Lúc này phán quan nói : "xem phim" ! thì ra lúc còn sống nam hồn yêu cầu vợ hành dâm phi khí,người vợ cự tuyệt còn nói không nên làm như vậy,không hợp với lễ tiết.Người vợ chỉ chịu hành dâm phi thời,phi địa với hắn,mà dục vọng của người vợ ít nên tội nhẹ hơn,chỉ tổn hao đi phước báo,nhân vì cự tuyệt và khuyên nói không được phi khí hành dâm,lại tích được một ít phước.<br />
Hồn nam tuy không có cưỡng ép người vợ nhưng lại phạm 3 hạng tà dâm với 2 người còn lại.Phán quan nói:"niệm ngươi có tâm sám hối và hiếu thảo với cha mẹ,lại biết tôn trọng pháp luật trong công việc,chỉ phạm 3 hạng tà dâm này,do đó miễn trừ 500 năm ôm trụ đồng".Lúc này nam hồn không còn gì để nói nữa,bị quỉ sai dẫn đến địa ngục nuốt viên đồng.Quỉ sai đẩy nam hồn vào ngục,hắn thấy tình nhân của mình liền đi tới nhưng thật ra là một con chim lớn,nó dùng cái miệng lớn ngậm phải bộ phận sinh dục của nam hồn rồi bay lên kéo đứt đi;nam hồn đau đớn kêu la thảm thiết,đến đây vì máu huyết tanh hôi nên tôi không cách gì xem tiếp nữa.<br />
Sau khi ra khỏi điện,tôi thỉnh giáo phán quan một vài vấn đề về hình phạt tội tà dâm.Theo phán quan chỉ dạy,trước tiên phải giữ gìn chánh tri chánh niệm,lúc nào cũng cảnh giác bản thân sao cho trong sạch.Nếu như ý niệm hành dâm mà không hành động thì giảm phước 1 tuần;nếu như xem sách báo sắc tình,chỉ xem thì giảm phước thọ 1 tuần lễ;có hành động giảm phước thọ 1 tháng;nếu có lần thứ 2 hành động thì giảm thọ 2 tháng,cứ như thế mà tính.<br />
Nam nữ trước khi kết hôn quan hệ tình dục đều bị giảm phước thọ,cụ thể thì mỗi trường hợp có khác nhau,đại khái chia ra 3 loại :<br />
1,một đời chỉ có một người mà đối phương dục vọng ít,sau đó kết hôn với đối phương;loại này nếu như không phạm cấm giới phi thời,phi địa,phi khí thì chỉ bị giảm phước báo,càng có thể sớm sám hối tiêu nghiệp.<br />
2,trước sau kết hôn quan hệ với bạn đời có phạm phi thời,phi địa,phi khí mà dục vọng nhiều,trước sau hôn nhân đều bị giảm phước thọ,mạng chung đọa vào địa ngục ôm trụ đồng 500 năm,nuốt viên đồng 500 năm.Nếu như lúc còn sống biết sám hối thì hiệu quả hơn,kèm với việc khuyên người không phạm,lấy công chuộc tội thì có thể miễn trừ quả báo địa ngục.<br />
3,trước sau kết hôn phạm tà dâm bừa bãi,dục vọng đặc biệt nghiêm trọng,cả ngày sống trong cảnh say mê đắm tình,lúc còn sống nhất định là giảm phước,giảm thọ,mạng chung đọa vào địa ngục ôm trụ đồng,nằm giường sắt,nuốt viên đồng và các địa ngục khác ít nhất là 1 vạn năm,căn cứ cụ thể từng trường hợp phán xử.Địa ngục báo chung lại sanh vào súc đạo,có người làm con uyên ương,có người làm chó,rắn v.v...<br />
Hiện tại nhiều nhất trong địa ngục là loại thứ 3,vả lại trước mắt,địa ngục đã được mở rộng lớn hơn trước,tại nhân gian hiện tại có rất nhiều thuộc loại thứ 3,tương lai đều phải đến địa ngục thọ báo.<br />
Phán quan nói tiếp,lúc người nữ vào kỳ sinh lý,vợ chồng nghiêm cấm hành lạc;lúc có thai và bú mớm cũng vậy,nếu không sẽ tổn phước báo;Do đó thời kỳ sinh lý hành lạc sẽ chiêu cảm các loại quỉ nuốt tinh huyết đến hút máu,mỗi lúc hành dâm đều có quỉ nuốt tinh khí đến hút tinh khí,sau đó làm thân thể phát bệnh và gặp nhiều vận xui.<br />
Phán quan còn nói,người nữ vào lúc mùa nóng ăn mặc quá hở hang thì cũng bị giảm phước 1 tuần vì làm cho người khác phái khởi tâm tà dâm.Sau khi nghe lời phán quan,cảm thấy khởi tâm động niệm thật quan trọng hết sức vậy,thì ra trong vô hình lại có quỉ thần giám sát ghi lại tất cả hành vi của chúng ta !<br />
Rất cảm ân phán quan chỉ dạy những điều quan trọng,tiết lộ thiên cơ,bái biệt tại đây;đương nguyện thiên hạ hữu tình đều tu thanh tịnh phạm hạnh,thoát khổ địa ngục.<br />
<br />
3,THỦ DÂM ĐẠI ĐỊA NGỤC THẢM BÁO,PHÁN QUAN TIẾT LỘ TẬN THIÊN CƠ !<br />
<br />
Phật bồ tát cứu độ chúng sanh cũng như biển lớn không rời sóng nước,không có ngưng nghỉ,niệm niệm tương tục,sóng sóng nối tiếp.Nguyện thiên hạ hữu tình có thể thể hội làm tốt phận sự của bản thân,giữ trọn năm giới để có được thân người,tự làm trong sạch bản thân; nguyện hậu học cũng có thể học theo tinh thần đại từ đại bi không ngừng không nghỉ của phật bồ tát,vì quảng đại chúng sinh phục vụ,hôm nay lại thừa phật lực du địa ngục một lần nữa.<br />
Đảnh lễ cảm ân phật lực gia trì ! vừa niệm phật hiệu thì đến ngay địa ngục khổ nạn.Nếu không có phật lực gia trì vòng sáng vây quanh,tôi nhất định sẽ rất mệt,từ trường âm tính của địa ngục như dời non lấp bể không có gián đoạn.Nếu như nhân gian liên tục mưa 7 ngày,trời mưa lại thêm phát sốt,tin rằng nhiều người sẽ than khổ,mỗi ngày trời đã mưa người lại mang bệnh,đầu nặng chân mềm còn phải đi làm,thật ra cái khổ của địa ngục lại gấp trăm ngàn lần cái khổ tại nhân gian,cái khổ của địa ngục thì không gián đoạn.Nghe thấy tiếng kêu lớn,tiếng rên la thống khổ ! theo tiếng mà đi xem !<br />
Oa ! rất nhiều người nam thân thể lõa lồ bị một vài con rắn hai đầu phát ra lửa hồng đeo bám.Hồn nam thấy cảnh tượng mỹ nữ sờ mó,nhưng khi con rắn hai đầu chạm vào bộ phận sinh dục của hồn nam thì lập tức cắn đứt nó,hồn nam đau đớn kêu lớn rồi hôn mê.Con rắn hai đầu này thổi một cái,hồn nam lập tức tỉnh dậy,bộ phận sinh dục cũng được hồi phục lại,lúc này con rắn hai đầu lại tiếp tục làm lại màn cảnh như lúc nãy,đúng là không muốn xem tiếp nữa,trong lòng cảm thấy rất khó chịu !<br />
Ở đây có rất nhiều nam hồn đều chịu khổ như vậy.Tôi đi vào địa ngục thỉnh giáo phán quan,xin hỏi bọn họ phạm phải tội gì vậy ? Phán quan nói,đây là một trong những địa ngục trị tội thủ dâm khi còn sống,quả báo rắn hai đầu thường là 1 vạn năm ! đây là một trong các loại ác báo của việc thủ dâm bình thường.<br />
Còn có một loại thủ dâm ác báo phải thọ 2 vạn năm.Lúc còn sống theo đuổi cảm giác mạnh,dùng nước hay nước ấm,dùng ớt,dùng chất nước bôi trơn v.v...hoặc là dùng vật phẩm bản thân ưa thích tự làm hay dạy người khác thủ dâm tà dâm,mạng chung sẽ bị đọa vào địa ngục băng hỏa ngũ trùng thiên.<br />
Tôi xin hỏi vì sao tội thủ dâm phán nặng như vậy,kẻ phạm nhẹ cũng phải 1 vạn năm ?<br />
Phán quan nói tại vì thủ dâm đặc biệt tổn thân bại đức,tổn hại tam bảo của thân người là tinh khí thần,càng rất bất hiếu với cha mẹ;cũng như tự sát vậy,tuy rằng không có xâm hại người khác nhưng cũng giết chết sinh mạng bản thân nên hình phạt nặng.Những chúng sinh thích thủ dâm thường phạm liên tục.Lúc còn sống phạm tội thủ dâm một lần,giảm phước thọ nữa tháng,lần thứ hai giảm phước thọ 1 tháng,mạng chung đọa vào địa ngục thọ báo.Nếu như lúc sống cố gắng sám hối thì có thể miễn địa ngục khổ hình,phải xem một án lệ thực tế phán xử.<br />
Phán quan hỏi tôi có muốn tham quan địa ngục băng hỏa ngũ trùng thiên không ? tôi nghỉ cũng được,đi xem thử.<br />
Ở đây còn tàn khốc hơn địa ngục rắn hai đầu,công cụ ở đây rất nhiều,nên nói là hình cụ rất nhiều.Hình cụ là vật trong suốt có chút màu trắng sắc bén hình tròn,nhìn có vẻ rất lạnh và bén,sau khi chạm vào bộ phận sinh dục của hồn nam thì tức khắc đông cứng và đứt đoạn,sau đó lại hồi phục.<br />
Thọ hết băng hình thì lập tức thọ núi lửa áp đỉnh báo không ngừng.Núi lửa áp đỉnh này là do lúc thủ dâm tà dâm dùng nước ấm,ớt để trợ dâm.Nam hồn bị một hình cụ như tòa núi nhỏ cũng hình lửa đỏ bay đến vồ lấy,như là đã đo sẵn kích cỡ,ngay tại bộ phận sinh dục có cái nút đè ngay đó để lửa đốt cháy rụi,lại là những tiếng kêu đau đớn thảm thiết rồi hôn mê chết ngất,sau lại do nghiệp lực mà tỉnh dậy,tiếp tục chịu đựng,đúng là thật đau khổ,thật tội nghiệp !<br />
Đêm nay lại đến địa ngục này thật ghê tởm quá.Phán quan cho biết địa ngục này là mới xây,còn không đủ chỗ,cần phải xây thêm,nhân gian có quá nhiều loại chúng sanh mạng chung sẽ đọa vô địa ngục này thọ hình.<br />
Tôi lại thấy có xây thêm địa ngục chuyên dành cho những người làm thẩm mỹ viện giúp làm đẹp,nâng ngực,làm phẫu thuật phần dưới cho người nữ,rất nhiều công ty thẩm mỹ hay bộ phận y tế,chuyên môn làm cho người nữ trầm mê dục vọng,tà dâm phạm giới,lúc sống tổn phước thọ,mạng chung vào địa ngục 1 vạn năm.<br />
Phán quan biết tôi có vấn đề,chúng tôi thật ra dùng ý niệm để câu thông.Tôi muốn hỏi tại sao phi địa hành dâm cũng là phạm giới ? phán quan cho xem phim.<br />
Thì ra lộ thiên,nhà vệ sinh hay vào đêm sấm chớp,có rất nhiều loại quỉ và tinh linh đến hút tinh khí hay phi tinh nhập hồn;nếu như vào lúc đó phi địa hành dâm,đối với bản thân bất lợi mà còn làm tổn hại từ trường chánh khí đại tự nhiên,trăm hại mà không có một lợi,do đó những chúng sinh vi phạm đều phải thọ khổ báo.<br />
Trước khi ra về,phán quan dặn dò tôi rằng: "lần này ngươi thừa phật lực đến nơi đây,lại được thánh thượng và diêm vương ân chuẩn,mệnh bổn quan giải nói tình trạng chân thật của địa ngục,đã tiết lộ tận thiên cơ,không sót gì cả,hy vọng ngươi về dương gian nói lại,cảnh cáo người đời,đừng phạm vào tà dâm làm tổn luân bại đức,tự tạo địa ngục,càng tăng trưởng lượng công việc ở đây và dương gian thiên tai nhân họa.Ngươi nhìn tướng của ta kinh dị như thế,hy vọng người đời sau khi chết khỏi phải gặp mặt ta thì thật là may mắn vậy.<br />
Vạn ác dâm đứng đầu ! ở đây bái biệt phán quan,cảm ân phán quan chỉ dạy,lần sau gặp lại.<br />
<br />
4,KHÁCH KIẾM GÁI 10 VẠN NĂM ĐẠI ĐỊA NGỤC BÁO ỨNG.<br />
<br />
Cảm ân phật cho con ngồi hoa sen trắng xuất phát,địa ngục hôm nay sao lại khác thường,có phải đi sai đường không ? bình thường địa ngục âm khí nặng nề,hôm nay lại có một luồng sáng màu hoàng kim rất mạnh,phật quang thật dễ chịu.ngưỡng đầu nhìn lên thì ra là Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát,nước mắt gần như chảy ra rồi,lập tức năm vóc sát đất đảnh lễ địa tạng vương bồ tát.<br />
Địa Tạng bồ tát khai thị tôi cần quí trọng thân người,làm tốt công việc có ý nghĩa này; cần chân thành tuyên dương chánh pháp,lấy khổ nạn của địa ngục thổ lộ ra ngoài,khi về nói cho chúng sanh biết làm chúng sinh nhân gian cải tà qui chánh,bỏ ác tòng thiện.Tôi vui vẻ hồi bẩm bồ tát nói,con nhất định dùng tận sức mình y giáo phụng hành.<br />
Trước tiên hướng về phán quan hành lễ ! hôm nay muốn hỏi phán quan : "kẻ chơi gái,gái điếm và người dắt mối quả báo ra sao vậy ?".<br />
Phán quan nói với tôi,khách chơi phân làm 2 loại: <br />
Thứ nhất là nhu cầu sinh lý khống chế không được,vợ không thỏa mãn được,định kỳ tìm gái điếm hành dâm;Lúc còn sống mỗi lần phạm tội giảm phước thọ 1 tháng,mạng chung vào các địa ngục dành cho tội tà dâm thọ báo.Thời gian thọ báo tùy theo án lệ cụ thể mà định,đại khái là 800 năm.<br />
Thứ hai là dục vọng quá mạnh,trường kỳ kiếm gái tà dâm,lãng phí không quí trọng thân người,sống trong cảnh say mê dục lạc,sử dụng công cụ trợ dâm theo đuổi kích thích cảm quan thân xác;loại này mỗi lần phạm tội giảm phước thọ 1 tháng rưỡi,mạng chung đọa vào địa ngục tội tà dâm thọ báo 10 vạn năm,hết tội địa ngục sanh vào súc sanh đạo làm súc sanh thấp hèn 1000 năm,sau đó chuyển làm người có đầu óc không tỉnh táo.<br />
Cho đến gái điếm,quả báo chia làm 3 loại:<br />
Thứ nhất là hoàn toàn bị khống chế cưỡng bức bán dâm,tự thân không thể tạm thời thoát li,với lại trong lúc hành dâm không có hưởng thụ cảm giác,sau được cứu thoát nhưng cần sám hối nghiệp chướng không được tái phạm nữa,hoặc có thể miễn khổ báo địa ngục.<br />
Thứ hai là vì tiền bạc mà làm gái điếm,lúc sinh tiền mỗi lần hành lạc giảm phúc thọ 1 tháng,mạng chung vào địa ngục thọ hình 8 vạn năm,hết tội địa ngục sanh vào súc sanh đạo 800 năm,sau đó chuyển làm thân người thọ hạ tiện báo.<br />
Thứ ba là gái điếm giống loại thứ hai khách chơi,đều là dục vọng mãnh liệt,lãng phí không tiếc thân người,say mê dục lạc,sử dụng công cụ trợ dâm theo đuổi cảm giác kích thích,mỗi lần giảm phước thọ 2 tháng,mạng chung thọ báo địa ngục 15 vạn năm,hết tội địa ngục sanh vào súc sanh đạo,làm súc vật hạ tiện 2000 năm,sau đó chuyển làm người thọ báo thân hạ tiện.<br />
Còn kẻ dắt mối chia làm 2 loại: <br />
Thứ nhất vì tiền tạm thời làm việc,sau vì giác ngộ mà rời bỏ không tái phạm nữa,lại cố gắng sám hối tội lỗi,hoặc có thể miễn đi một số quả báo địa ngục,nhưng lúc sống mỗi lần phạm tội bị giảm phước thọ 1 tháng rưỡi,mạng chung đọa vào khói hoa lăn lộn địa ngục thọ báo 10 vạn năm.<br />
Thứ hai là tâm địa bất chính,khống chế gái điếm,tự thân dục vọng mãnh liệt,tự tư tự lợi,chuyên môn nghĩ kế hảm hại người khác v.v...lúc sống giảm phước giảm thọ,mạng chung đọa vào khói hoa lăn lộn địa ngục thọ báo đến lúc tất cả gái điếm bị hại chuyển lại thân người mới được rời khỏi địa ngục,sau vào súc sanh đạo thọ báo,súc sanh đạo báo tận lại thọ thân người hạ tiện.<br />
" Oa ! phán quan,sao kẻ dắt mối bị phán nặng như vậy ! nghe ông giải thích rõ rồi,tôi lại cảm thấy đau lòng chua xót và rất thông cảm những chúng sinh trong hạnh nghiệp này".<br />
Phán quan nói: " loại hành nghiệp này phá hoại nghiêm trọng phong hóa của xã hội,phá hoại đạo đức lễ tiết luân thường,nghiêm trọng ảnh hưởng đến bản tính thuần lương của con người,do đó địa ngục minh vương muốn trừng phạt loại chúng sinh phạm ác này.Nhưng theo sự hiểu biết của bổn quan,phật bồ tát từ bi lân mẫn loại chúng sanh này,hóa thân người ở trong nơi sống của bọn họ mà độ kẻ còn thiện căn quay đầu hướng thiện.<br />
Hôm nay tạm thời đến đây,cảm ân phán quan ! A Di Đà Phật ! ngồi hoa sen trắng về thôi.<br />
Hôm nay rất vui vì có thể gặp địa tạng vương bồ tát trong địa ngục,kim quang bao phủ toàn thân bồ tát,lại gia trì được cho con,nguyện lực rộng lớn thật bất khả tư nghì !<br />
Quay về nhân gian,đã rất mệt mỏi;nhân mỗi lần đi thăm địa ngục đều hao tổn nguyên thần nguyên khí rất nhiều,sau khi về phải lập tức niệm chú bổ sung.<br />
Hy vọng các vị độc giả đừng xem như tiểu thuyết,vậy mới không phụ tấm lòng khổ tâm của địa tạng vương bồ tát. A Ngọc lần nữa cám ơn chư vị,Nam mô đại nguyện địa tạng vương bồ tát ma ha tát !<br />
<br />
5,TÌNH HÌNH TRỪNG PHẠT LOẠN LUÂN TÀ HẠNH TẠI ĐẢO LUÂN BĂNG THIÊN ĐỊA NGỤC VÀ HOA MÀU RỪNG KIẾM ĐỊA NGỤC.<br />
<br />
A Ngọc đảnh lễ Địa Tạng Bồ Tát ! rất vui lại được lợi ích từ pháp diệu !<br />
Địa Tạng bồ Tát khai thị A Ngọc về năm giới,giữ năm giới có thể được thân người,là căn bổn làm người,không bị đọa lạc,xem có vẻ đơn giản nhưng đa số chúng sinh đều phạm mà không hay biết.Chúng ta thường nghe nhiều kẻ xung quanh nói,tôi không có cướp của giết người,phóng hỏa hại ai,là một người dân lương thiện.Thật ra giết người phóng hỏa đã là tội rất nghiêm trọng,phải xuống địa ngục thọ báo.Bây giờ chúng ta lắng nghe Địa Tạng bồ tát từ bi khai thị,nếu nghe có sai sót thì là vấn đề của bản thân A Ngọc,A Ngọc đơn giản thuật lại lời khai thị của bồ tát như sau:<br />
1,không sát sanh: nghiêm cấm đoạt lấy sinh mạng bất kỳ hữu tình nào,thanh tịnh ăn chay là căn bản của việc giữ giới này,sao gọi là thanh tịnh ? cần nghiêm chỉnh thủ hộ giáo nghĩa của kinh Lăng Nghiêm,bất cứ thứ gì liên quan đến bản thân đều không được dùng,ăn,tất cả thức ăn liên quan đến động vật đều không được ăn.Ví dụ: sữa bò,trứng,mật ong,pho mát,mỡ bò,những cái liên quan đến động vật đều giới cấm,vật phẩm trang điểm đa số đều có thành phần của động vật,không được dùng.Khi chúng ta bị bệnh cần uống thuốc,đặc biệt là thuốc đông y có nhiều thành phần động vật.<br />
2,không trộm cắp: chưa được sự chấp nhận của người khác mà chiếm giữ cho bản thân là trộm cắp.Có rất nhiều người tại công ty,lấy đồ văn phòng của công ty dùng cho việc riêng tư hay đem về nhà dùng,hoặc gọi điện thoại cho việc riêng tư,sạc điện di động tại công ty,dùng máy photocopy,máy fax làm việc riêng tư v.v...,nếu chưa được công ty đồng ý thì đều là phạm giới trộm cắp.<br />
3,không tà dâm: là quan hệ tình dục ngoài vợ chồng ra đều là tà dâm.Phi thời,phi địa,phi khí,xem đĩa phim sex,dùng công cụ trợ dâm đều là phạm giới tà dâm.<br />
4,không vọng ngữ: nói lời chân thực,không lừa gạt người khác.Có thì nói có,không thì nói không,cố ý lừa gạt là phạm giới nghiêm trọng;trường hợp thuận tiện vọng ngữ thì cố gắng đừng nói,nhân vì nói nhiều thì sẽ trở thành thói quen tự nhiên.<br />
5,không uống rượu: cấm rượu và chất ma túy.Sản phẩm liên quan đến rượu đều không được ăn,ví dụ như chao,đa phần là có rượu không được ăn,mặc dù cho người chủ bán chao nói là dùng rất ít rượu,chỉ cần có một ít cũng là rượu,trừ khi dùng với thuốc để cứu mạng người thì không sao,còn có nhiều vật phẩm trang điểm có thành chất rượu,tốt nhất không dùng.<br />
Sau khi nghe Địa Tạng bồ tát khai thị,A Ngọc tiếp tục đến trước gặp phán quan.Phán quan,a di đà phật ! hôm nay muốn thỉnh giáo phán quan quả báo của việc loạn luân.<br />
Phán quan nói,loạn luân là bại hoại đạo đức,nhiễu loạn phong khí xã hội,là hành vi phá hoại chánh khí nhân luân,địa phủ sẽ trừng phạt nghiêm khắc loại chúng sanh này.Nhưng chúng sanh phạm tội này,lúc sống giảm phước thọ 2 tháng rưỡi,mạng chung vào đảo luân địa ngục thọ khổ 500 năm,ôm trụ đồng địa ngục 500 năm,giường sắt địa ngục 500 năm,khói hoa lăn lộn địa ngục 500 năm,rừng kiếm địa ngục 500 năm,đây chỉ là hình phạt cho trường hợp loạn luân bình thường,đương nhiên là hình phạt tùy thuộc vào mỗi trường hợp vi phạm khác nhau mà phán định,,trong sát na,ngồi hoa sen trắng đến đảo luân địa ngục rồi,ở đây nam hồn nhiều hơn nữ hồn.<br />
Những hồn loạn luân tại địa ngục này,toàn là những kẻ hành dâm với người thân khác giới của mình.Tức là nam với chị dâu,em dâu,chị,em gái,hoặc là hành dâm với người khác giới bên vợ.Nữ với anh rễ,em rễ,anh,em trai,hoặc người thân khác giới bên chồng.<br />
Đảo luân băng thiên địa ngục có một cái bánh xe rất lớn tự chuyển động,bốn mặt là tường bằng băng đá lạnh,phía trên là một mảnh băng như cái gương,thì gọi là băng kính vậy.Băng kính này không giống bốn bức tường,nó có độ trong suốt và độ chiếu xạ hơn,nói chung là có công năng của tấm gương,có thể soi rọi tình hình trong bánh xe lớn;mặt tấm gương đó không ngừng phóng ra băng đá trong suốt,bắn vào những chúng sinh đang thọ hình trong bánh xe lớn.<br />
Lúc này chỉ thấy một hồn nam toàn thân lõa lồ chạy đến bánh xe lớn,bánh xe hút anh ta vào giam lại chuyển động,mặt gương phóng ra băng đá đâm vào người hắn,mỗi miếng băng đá đều làm cho tội hồn chảy máu đứt tay đứt chân,đau khổ muôn phần,tội hồn bán mạng chạy ra ngoài.Khi anh ta bị thọ thương tạm thời rời khỏi được bánh xe lớn,quỉ sứ bên ngoài dùng thiết xoa đâm hắn bỏ vào lại,tình trạng vô cùng thảm khốc,a di đà phật !<br />
Lúc này phán quan gọi tôi đến hoa màu rừng kiếm địa ngục kế bên xem thử,địa ngục này là do lúc còn sống phạm dâm với thân thuộc trực hệ,cưỡng ép hay tự nguyện.Nếu như bị ép bức mà lúc đó không có ý hưởng lạc,thông qua sám hối thì không bị thọ hình phạt;nếu như có ý hưởng lạc thì phải thọ báo.Phàm là nam với con gái,cháu gái,bà ngoại,bà nội hay thân thuộc trực hệ bên nhà vợ;Nữ với cha,cháu trai,ông nội,ông ngoại hay là thân thuộc trực hệ bên nhà chồng.Trong địa ngục này có vô số hoa đẹp,số hoa này có rất nhiều cơ quan,hoa sẽ biến sắc,xem hoa hình như rất hấp dẫn người.<br />
Lúc này có nam hồn thân mình lõa lồ,lòng đầy dục vọng muốn hái hoa,hoa mau chóng biến hình bám vào người hắn,hoa từ từ bám xuống bộ phận sinh dục của hắn rồi lập tức bẽ gãy nó,máu tuôn đầy đất,máu thịt bầy nhầy,sau đó hoa biến thành vô số cánh hoa cứng không ngừng đánh vào tội hồn chết ngất đi,rồi quỉ sứ dùng nước hàn băng tưới lên mặt tội hồn làm hắn tỉnh dậy,tiếp tục hành hình,lại phải chịu thêm một lần đau khổ muôn phần,sớm biết như vậy thì lúc đầu đừng phạm !<br />
Phán quan nói: "nhân gian loạn luân tà hạnh thì thiên địa bất dung,tội ác thật lớn,nhất định phạt nặng,không được tha thứ,để làm sáng tỏ âm luật vô tư".<br />
Hôm nay đến đây là đủ,ngày khác quay lại.<br />
Bái biệt phán quan,cám ơn sự chỉ dạy của phán quan !<br />
<br />
6,THIẾU NIÊN ĐẮM MÊ TRANG WEB SẮC TÌNH PHƯỚC THỌ GIẢM HẾT,LÚC CHẾT CHỈ 20 TUỔI !<br />
<br />
Cảm ân chư phật bồ tát ! A Ngọc ngồi hoa sen trắng xuất phát.<br />
Phán quan,a di đà phật ! A Ngọc hợp chưởng hành lễ !<br />
hôm nay phán quan dẫn tôi đi tham quan tà dâm điện quang nhãn địa ngục.Địa ngục này là giành cho người lúc sống thích xem sách truyện hay trang web sex,mạng chung vào địa ngục thọ báo.Chúng sinh đến địa ngục này sẽ căn cứ vào mức tuổi và mức độ xem mà định phán hình,ít nhất là 50 năm,số tuổi càng trẻ phán tội càng nặng.<br />
Đa số người sau khi xem trang web sex đều sẽ tiếp tục phạm nhiều loại tà dâm khác,như thủ dâm hoặc phi thời,phi địa,phi khí tà hạnh,thậm chí dùng công cụ trợ dâm.Xem loại sách sắc tình này sẽ nghiêm trọng phá hoại bản tánh tốt lành của con người,đặc biệt là thiên tính thuần tịnh thuần dương của trẻ nhỏ,người trưởng thành cũng không được xem huống chi là trẻ vị thành niên.<br />
Hiện tại nhân gian có rất nhiều thanh thiếu niên đều lên mạng xem những trang web sex.Bất cứ người nào đắm mê sắc dục đều sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển tốt lành của tâm linh.Con người mỗi ngày đều phải nhờ vào ý niệm tư duy để sống.Ý niệm tư duy sẽ thúc đẩy hành vi,hành vi tạo thiện ác nghiệp,thiện ác nghiệp quyết định vận mạng,vận mạng tạo thành nghiệp lực,nghiệp lực sản sanh phải thọ báo.<br />
Thường xuyên xem trang web sắc tình,tư duy của con người sẽ hôn trầm,xử lý mọi việc không tinh tế;đặc biệt là trẻ nhỏ bị ảnh hưởng rất nhiều,đoạn mất cơ hội tu hành giải thoát.Trên đầu chữ sắc là một con dao,cổ kim đã có biết bao danh nhân tướng sĩ không qua nổi cửa ải này.<br />
Phán quan nói: "mỗi lần xem sách hay trang web sex sẽ bị giảm phước thọ,sau đó phạm tội tà dâm khác lại cũng giảm phước thọ,cũng như là mãn tính tự sát".<br />
"hiện tại nhân gian khoa học phát đạt,trẻ nhỏ đều dùng máy vi tính,có rất nhiều đứa trẻ nhỏ xem trang web sex.Có một vài phụ huynh không biết,vì bản thân phụ huynh không biết sử dụng máy vi tính,mặc cho con em tự học vi tính mà không quan sát,mỗi ngày làm việc lại rất bận rộn,căn bổn là không có thời gian quan tâm đến con em.Hoặc là kinh tế tốt một chút thì thuê người giữ con,người làm thì không nhất định sẽ chăm sóc chu đáo,do đó những phụ huynh này sẽ bị giảm phước,không thể nói không biết mà không quan tâm,nuôi mà không dạy là lỗi của cha mẹ.Cha mẹ cần phải quan tâm nhiều đến việc giáo dục con cái lành mạnh trưởng thành.Cho đến có một số cha mẹ rõ ràng biết như vậy nhưng không ngăn cản hoặc xem như là giáo dục giới tính mà buông thả cho trẻ nhỏ xem.Có người lại nói thời đại không như trước rồi,hiện tại là thời đại mở thoáng,tại trường học cũng có khóa trình học giáo dục giới tính cho trẻ nhỏ,đó là quan điểm sai lầm nghiêm trọng.Minh phủ hy vọng lần này mượn cơ hội A Ngọc tham quan địa ngục,sau khi về nhân gian kêu gọi chúng hữu tình cải tà qui chánh,quí trọng nhân gian mấy chục năm sinh sống,cố làm nhiều việc lợi lạc thế đạo nhân tâm,đừng làm những việc hại người hại mình;nếu không một khi nhắm mắt sẽ đến đây gặp ta đấy !".<br />
Đã nghe thấy tiếng thảm kêu,thì ra là chúng sinh trong điện quang nhãn địa ngục đang thọ cực hình.Trong địa ngục này thiết lập rất nhiều máy vi tính lớn có nhiều cơ quan,mỗi hồn một cái máy vi tính;trong máy tính có hình để xem,mỗi hồn đều đang xem máy tính của mình;không xem thì thôi,một khi xem thì lớn tiếng thảm kêu.<br />
Có hồn nam rất trẻ,chỉ 20 tuổi; máy tính của nó phóng ra móc câu điện quang màu đỏ móc vào 2 mắt của nó,kéo xé hai con ngươi ra ngoài,máu đỏ đầy đất,nam hồn có vẻ cực kỳ đau khổ bi ai ! đây là quả báo của việc xem phim sách hay tiểu thuyết sex trên mạng.<br />
Phán quan nói,nam hồn này đã xem những trang web sắc tình từ nhỏ,không những thế mà còn thủ dâm; vì phạm ở mức độ cao nên phước báo cả đời gần như giảm hết mà đọa vào địa ngục này,cha mẹ của nó tại nhân gian còn đang kêu khóc con mình.<br />
Bên cạnh có tội hồn ngồi trên một cái ghế xem sách sắc tình,giống như trường hợp móc mắt lúc nãy nhưng tốc độ thọ hình chậm hơn.Tôi xin thỉnh giáo phán quan vì sao thọ hình tốc độ lại có sai khác vậy ?<br />
Phán quan nói : "nhân vì khi xem trang web sex,thường xem được số lượng nhiều trong thời gian ngắn,thời gian xem cũng tương đối dài,còn xem sách hình hay tiểu thuyết sắc tình,chỉ giới hạn trong vài quyển thôi.Nếu như chúng sanh lúc còn sống có xem mà sau này giác ngộ sám hối không tái phạm nữa,đồng thời cố gắng tuyên truyền sách thiện này,khuyên bảo chúng sinh không được xem những trang web,đĩa,sách sex nữa,dùng tiền của mình tận lực mua sách đĩa sex đem thiêu hủy hết,lấy công chuộc tội thì miễn chịu địa ngục khổ báo".<br />
Phán quan nghiêm khắc nói: "những chúng sinh thọ báo tại địa ngục điện nhãn quang,thường thì phải tiếp tục thọ hình tại những địa ngục khác.Phạm thủ dâm,phạm phi thời,phi địa,phi khí đẳng tội,sau khi chết quyết định sẽ bị đánh vào các ngục nuốt viên đồng,ôm trụ đồng,khói hoa lăn lộn và nhiều đủ loại địa ngục khác nữa thọ hình".<br />
Hôm nay tạm thời đến đây,bái biệt phán quan !<br />
A Ngọc hợp chưởng hướng phán quan hành lễ,cảm ân phán quan ! ngồi hoa sen trắng quay về.<br />
Trang web sắc tình và đĩa phim sex đúng là hại người không ít,mùi máu tanh trong các loại đại địa ngục làm A Ngọc khó lòng chịu đựng.Tham quan các loại đại địa ngục thấy nhiều tội hồn bị quỷ tốt chặt đầu chặt tay,xẻo thịt cắt chân,rên la thảm thiết trong máu tanh thật kinh hoàng,A Ngọc sau khi về nhà,trong lòng cũng phải điều chỉnh một phen mới hồi phục bình thường lại được !<br />
<br />
7,THỦ DÂM TRỪNG PHẠT THẢM THIẾT-ĐỊA NGỤC ĐIỆN NHÃN THIẾT HOÀN.<br />
<br />
Cảm ân chư phật bồ tát ! ngồi hoa sen trắng xuất phát.<br />
Phán quan,a di đà phật ! A Ngọc hợp chưởng hành lễ !<br />
Hôm nay phán quan dẫn tôi đi tham quan tà dâm địa ngục,điện quang thiết hoàn địa ngục.<br />
Điện quang thiết hoàn địa ngục là giành cho những người đắm mê những trang web sex,hình ảnh sắc tình,sách báo sex và vừa xem vừa thủ dâm,mạng chung vào địa ngục này thọ phạt,thời gian là 800 năm;sau đó xem xét linh thức chuyển hóa như thế nào để quyết định có thọ phạt tại đây nữa không.<br />
Lúc trước có nói,mỗi lần xem sách báo sắc tình thì bị giảm phước thọ 1 tháng;Trừ lần đầu giảm phước thọ nữa tháng ra,những lần sau đều giảm 1 tháng.nếu như xem thường xuyên lại thủ dâm thì chắc chắn phước báo một đời mau chóng hết sạch rồi.<br />
Địa ngục này bên cạnh điện quang nhãn địa ngục,so với điện quang nhãn địa ngục khổ hơn ngàn vạn lần.Ở đây hầu như đa số đều là thanh thiếu niên.Oa ! thật tội nghiệp,đứa nào cũng rất nhỏ tuổi.Nhớ lại bản thân mình vào độ tuổi này còn đi học ở trường ngu khờ biết mấy,cái gì cũng không biết,tại sao chúng nó có trường không học mà chạy tới đây thọ hình vậy,chỉ một chữ,thật đau lòng ! những đứa trẻ nhỏ phải biết giữ mình trong sạch,địa ngục thật khổ lắm khổ lắm vậy,đừng có bao giờ đến đây,ở nhân gian cố gắng đi học tu hành,quí trọng cuộc đời tươi đẹp này.<br />
Ở đây phát hiện có một nam sinh trung học thật quen mặt,gặp qua ở đâu vậy ? ah,nghĩ ra rồi,đại khái là nữa năm trước nhìn thấy di ảnh của nó tại tang đường.Nữa năm trước tôi xử lý tang sự của người thân,linh đường của nó ở kế bên,lúc đó linh đường bên chúng tôi vì nhiều người,trẻ con nhiều,cảm giác rất náo nhiệt;Còn bên linh đường của nó thì thật lạnh lẽo,chỉ có cha mẹ và hai,ba người thân.Lúc đó,thân thuộc chúng tôi bên đây nghị luận đứa trẻ này nhỏ như vậy,không biết xảy ra chuyện gì.Cha mẹ rất thảm sầu,mẹ của nó rất đau lòng,tôi chỉ có thể hướng về di ảnh của nó niệm vài câu a di đà phật hồi hướng,không ngờ lại gặp nó tại địa ngục,mạng người thật vô thường !<br />
Nghe phán quan nói,cha mẹ đứa trai nhỏ này chỉ có một mình nó,lúc sống nó mê đắm những trang web sex,sách báo sắc tình,lại còn nhiễm thói ác thủ dâm,lại dùng công cụ tự mình sáng tạo ra trợ dâm.6 tuổi bắt đầu thủ dâm,10 tuổi đã hư thận;mẹ của nó dẫn nó đi khắp nơi trị bệnh,uống rất nhiều thuốc đông y,đi đường giống như ông già dùng gậy chống; vì nó không biết quí trọng sinh mạng,quí trọng sức khoẻ,trong thời kỳ uống thuốc lại tiếp tục thủ dâm,do đó 12 tuổi phước báo mất hết bị đánh vào địa ngục điện nhãn thiết hoàn thọ phạt 800 năm.<br />
Tôi thấy bên cạnh nó có hình cụ máy tính và rắn lửa bám vào thân nó.Trong máy tính phóng ra móc câu hồng quang móc mắt nó,máu huyết bay tung;rắn lửa bám vào,hình như là sờ mó bộ phận sinh dục của nó rồi lập tức cắn đứt,lại là máu phun đầy đất.Trong khi nó chưa kịp phản ứng thì có hai con sói dữ đến cắn xé nó,cắn đứt hai tay nó,thật là thê thảm quá ! đúng là cực hình trong cực hình,rất đau khổ khó chịu.<br />
Tôi hỏi phán quan,tại sao trong một lúc chịu nhiều loại hình phạt như vậy ? sao không để nó lành đôi mắt rồi mới thọ hình rắn lửa và chó sói.<br />
Phán quan nói: "đây tuyệt đối không thể phân ra thọ chịu,nhân vì lúc còn sống hắn vừa xem vi tính vừa thủ dâm,sau đó lại dùng công cụ tự chế phạm tà dâm lần nữa,do đó mà hắn rất mau đến địa ngục thọ báo vậy.Sau khi thọ báo ở đây xong,hắn còn phải đến đại địa ngục kêu la tiếp tục chấp hành hình phạt.Do hắn phạm phải thủ dâm sớm ngày tiêu trừ hết phước báo,làm cha mẹ đau buồn thương tâm,người tóc bạc đưa người tóc đen,là mang tội bất hiếu mà chịu hình phạt này.Hiện tại người ở nhân gian,tuổi đời nhỏ nhỏ,đã không giữ lễ nghĩa;đối với song thân ngỗ nghịch trả treo,mở lời nhục mạ,càng tay đấm chân đá,hành vi còn thua loài cầm thú hạ đẳng.Ở giữa trời đất là kẻ đại bất hiếu,sau khi chết phải đến đây thọ phạt,tẩy rửa linh thức,tịnh hóa nguyên thần,đến khi thật lòng sám hối sửa lỗi".<br />
"hôm nay đến đây chấm dứt,bổn quan còn công vụ tại thân,ngày khác lại đến".<br />
"A Ngọc bái biệt phán quan,đa tạ phán quan !"<br />
<br />
8,DƯƠNG THỌ CHƯA HẾT ĐÃ CÂU BA HỒN !!!<br />
<br />
Cảm ân phật lực gia bị ! ngồi hoa sen trắng xuất phát.<br />
A di đà phật ! A Ngọc hướng phán quan hành lễ.<br />
Hôm nay phán quan dẫn tôi đi tham quan địa ngục tội tà dâm,địa ngục roi trượng.Sao gọi là địa ngục roi trượng ? tức là chúng sinh phạm tội tà dâm mà dương thọ chưa hết,một bộ phận thần thức của họ bị quỉ sai nơi địa phủ bắt đến địa phủ chịu trừng phạt.Người có ba hồn bảy vía,quỉ sai bắt ba hồn của tội linh hành hình.Chúng sinh nhân gian cảm thấy đau đầu chóng mặt rất hôn hôn trầm trầm,có người cảm thấy bị đánh trong lúc mơ hồ;nhưng đa số bọn họ đều nghỉ rằng mình bị ác mộng,nghiêm trọng thì bị sốt nằm trên giường thiếp đi.Đến khi thọ hết hình phạt về đến dương gian,có người thấy toàn thân đau đớn,cảm giác đau đến thấu xương.<br />
Cái địa ngục roi trượng này,thật là quá lớn ! có thể nói nhìn không thấy nơi tận cùng;giống nhân gian nhìn biển lớn vậy,không thấy nơi chấm dứt ở đâu,là địa ngục lớn nhất tôi nhìn thấy từ trước đến giờ.Trong roi trượng địa ngục này có rất nhiều người không cùng một quốc gia,như Trung Quốc,Anh,Mỹ,Pháp,Nhật Bổn,Thái Lan,còn có Ấn Độ,Phi Châu,Pakistan v.v...rất nhiều quốc tịch khác nhau.Có một điều thật không may là lại có rất nhiều vô số thanh thiếu niên và trẻ nhỏ trong ngục chịu trừng phạt.<br />
Tôi xin hỏi phán quan sao lại có nhiều người như vậy ? cái địa ngục này sao lớn đến kinh dị như vậy !<br />
Phán quan nói: " chính vì khoa học phát đạt,nhân gian phát minh máy vi tính,số lượng trang web sex kinh người đã đầu độc ô nhiễm thanh thiếu niên và trẻ nhỏ,bọn họ đều đang phạm tà dâm tạo nhân địa ngục,con số những chúng sanh bất thiện này không gián đoạn vượt thăng lên,do đó phật đặc biệt phái ngươi đến địa ngục tham quan,quay về hãy cáo giới chúng sanh cần giữ ngũ thường bát đức;đặc biệt là người trẻ tuổi,đừng nghĩ là những thứ này đã cũ rít rồi mà phải giữ mình trong sạch,cải tà qui chánh,bỏ ác tòng thiện,nếu không sau này khó thoát khổ hình địa ngục,đến lúc đó hối tiếc cũng quá muộn rồi !".<br />
Lúc này,tôi thấy chúng sanh tại địa ngục roi trượng,toàn bộ bị quỉ sai lấy roi trượng đánh đập.Quỉ sai ở đây một mực cầm roi trượng đánh tội hồn,tội hồn đau quá kêu oa oa,tiếng kêu lớn cứ như sóng lan từ chỗ này đến chỗ khác.Bị đánh là để tội hồn phản tỉnh lỗi lầm của bản thân,số ít tội hồn sau khi tỉnh dậy sẽ thay đổi lỗi cũ,nhưng đa số tội hồn sau khi về nhân gian lại tiếp tục phạm lỗi.<br />
A Ngọc xin thỉnh giáo phán quan,làm sao để chúng sinh dương gian tin tưởng "Âm Luật Vô Tình",bộ sách trước tác muôn nghìn lần chân thật về tình trạng địa ngục hiện nay ? Nhân vì có một vài người có thể nói A ngọc tự mình hoang tưởng hoặc hư cấu viết ra,giống tiểu thuyết vậy,thật khó làm người ta tin vậy.<br />
Phán quan nói: "trong âm thầm tất cả đều có nhân quả,không phải nhìn không thấy thì cho là giả.Chúng ta mỗi một người đều không thể thấy mẹ mình sinh ra mình nhưng đây là sự thật chắc chắn,không nhìn thấy không có nghĩa là không tồn tại.Trên đầu ba tấc có thần linh,trong đại thiên thế giới này có quá nhiều sự vật mà chúng ta nhìn không thấy,nhưng chúng và cuộc sống của chúng ta có quan hệ mật thiết,tương quan từng chút,chỉ có điều chúng ta không phát hiện ra sự tồn tại của phật bồ tát và quỉ thần thôi.Cơ duyên và phước báo của mỗi người không giống nhau,sở cảm thọ và kinh nghiệm qua cũng không giống; thiện ác nhân quả như bóng theo hình,không phải không báo,thời gian chưa đến thôi,lưới trời lồng lộng tuy thưa mà khó thoát.Lần này A Ngọc con đến tham quan tình hình các đại địa ngục,cũng phải qua sự chọn lựa an bày của phật;con có đủ tư cách gánh vác sứ mệnh này như một đệ tử phật giữ giới,cố gắng hoàn thành tốt thiện hạnh lợi lạc chúng sanh này".<br />
Đa tạ phán quan khích lệ,A Ngọc nhất định tận dụng hết khả năng hoàn thành nhiệm vụ thần thánh này.<br />
Lúc này,tôi nhìn thấy có vài quan viên địa phủ hướng về roi trượng địa ngục đi đến.Oa ! thì ra là Diêm Vương đến rồi,A Ngọc hợp chưởng hướng Diêm Vương hành lễ ! thì ra địa phủ phải xây lớn thêm địa ngục roi trượng,Diêm vương đến để xem xét thực tế.Diêm Vương đang mật thiết quan tâm đến thanh thiếu niên tại nhân gian phạm tội tà dâm,một vấn đề lớn của xã hội,hiện tại phát hiện không chỉ đơn giản là vấn đề của nhân gian mà địa phủ cũng bị li]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[TRÁNH XA TÀ DÂM,GẶP MAY HẾT XUI.<br />
<br />
ÂM LUẬT VÔ TÌNH.<br />
Thượng Quan Ngọc Hoa trước tác.<br />
<br />
Lời Tựa.<br />
A Di Đà Phật ! chào đại chúng !<br />
Nguyện thế giới hòa bình,chiến tranh chấm dứt !<br />
Nguyện hư không pháp giới tất cả hữu tình vui vẻ hạnh phúc,bình yên an lành !<br />
Nguyện pháp giới tất cả hữu tình giải thoát sanh tử,xuất ly tam giới,lìa khổ được vui !<br />
Nguyện pháp giới tất cả hữu tình lắng nghe chánh pháp,nghiêm trì giới luật thanh tịnh !<br />
Nguyện trái đất của chúng ta,từ trường sớm ngày hồi phục như thuở ban đầu sơ kiếp,quân bình và hài hòa.Nguyện tất cả hữu tình chúng sanh có duyên gặp quyển sách này có thể nói lại cho người thân bạn bè của mình,quí trọng thân người khó được do quá khứ đã giữ gìn ngũ giới,cố gắng tu hành,lợi dụng thân người ngũ quan đầy đủ này tiếp tục giữ gìn giới luật thanh tịnh,nâng cao ánh sáng tự tánh bên trong chúng ta,sớm ngày đạt được giải thoát qua bờ bên kia !<br />
Để linh tánh của chúng ta bước về ánh sáng,nếu tất cả hữu tình linh tánh đều trong sáng thì sẽ đem lại sự quân bình cho đại tự nhiên vũ trụ,chúng ta sẽ không phải chịu quá nhiều đại cộng nghiệp thiên tai.Do đó có thể nói vì toàn vũ trụ mà chúng ta cần làm tốt bản thân mình trước,chúng ta chính là tiểu vũ trụ;tiểu vũ trụ thông đại vũ trụ,một tức tất cả,tất cả tức một,mọi người không phân biệt ta người,tất cả đều liên quan mật thiết.Đừng nghĩ rằng làm một việc riêng tư,không ai biết được;một niệm thiện ác đều được kết nối trực tiếp ghi lại trên sách thiện ác tại âm ty địa phủ.<br />
Phật bồ tát từ bi nhìn hiện tại thế đạo sa đọa,vì khoa học phát triển đem lại cho người đời vật chất phong phú,tư tưởng tâm người càng trở nên hư hỏng.Người hiện tại đều không tin nhân quả,cho rằng nhân quả là loại tư tưởng cổ hủ không hợp trào lưu.Ngay cả đứa trẻ nhỏ cũng không giống như lúc trước thời sơ kiếp tánh tình thuần lương thì nói gì đến người lớn.Càng làm mất đi truyền thống tốt lành của Khổng Mạnh thời cổ xưa và sự giáo dục của tứ thư ngũ kinh.Người hiện tại tinh thần sống rất thoáng,cũng như quần áo nơi buôn bán lớn,nào là đồ lót,dây đeo,đều xem là bình thường,vào thời xưa nếu như người nữ ăn mặc như vậy thì không thể nào được.Bây giờ nơi nào cũng có,các loại tạp chí,giấy báo,ảnh bìa toàn là kiểu hở hang,áo hở ngực,đứa trẻ nhỏ mỗi ngày đến trường đều được nhìn thấy,không hư hỏng cũng không được.Phật bồ tát phát hiện thế gian gần như nghiêm trọng thiếu hụt sự giáo dục cho linh tánh,lo lắng linh tánh chúng sanh trầm luân,tai nạn nhất định sẽ không ngừng vãng lai.Thế gian tuy có nhiều người thiện tâm không ngừng đề xướng văn chương đạo đức nhưng nếu như chúng sanh không chịu bỏ ác làm lành thì sau khi chết nhất định sẽ vào địa ngục chịu đủ cực hình,không có ngày ra.<br />
Thiên đế từ bi,nhìn các đại địa ngục đã tràn đầy người,lại phải tiếp tục xây thêm,đặc biệt là các địa ngục dành cho tà dâm đều đầy những đứa nhỏ trẻ tuổi thọ khổ hình,cũng vì chúng thiếu được giáo dục tư tưởng nhân quả từ trước,thực là việc đau lòng cho chúng sinh nhân gian !<br />
Vì thế mà Thiên Đế đặc biệt thỉnh thị Phật,xin Phật sắp xếp một vị đệ tử dương gian thích hợp,đã từng giữ thanh tịnh giới luật,phải trong tình trạng sáng suốt xuống tham quan địa ngục,sau đó viết thành một quyển sách,đem tình hình địa ngục tường tận nói cho chúng sinh dương gian biết rõ,tên là "âm luật vô tình".Sách này sau mỗi lần tham quan địa ngục sẽ dùng văn tự dễ hiểu viết ra;không những thế mà mỗi lần viết xong phải sữa chỉnh kỹ càng cho hợp với tình hình chân thật mới được phát hành.Có lúc vì để viết đúng một phần sách mà A Ngọc phải tới lui nơi địa ngục nhiều lần để làm rõ nội dung;Do đó,sẽ khác xa những sách thiện hay phụ đồng đã lưu truyền tại nhân gian,cũng không giống loại tường thuật lại của những người nằm mộng thấy kể lại.<br />
Thiên Đế hy vọng lần này tiết lộ thiên cơ để cho tôi Thượng Quan Ngọc Hoa đem tình hình địa ngục nói cho thế nhân,mong cảnh giác người đời cố tu tâm dưỡng tánh,từ đây không phạm giới phạm tội,nhất định sẽ làm giảm cơ hội sau khi mạng chung chịu khổ ở địa ngục.Nếu như có thể đem thật tướng địa ngục nói rộng ra làm nhiều người tỉnh ngộ cải tà qui chánh,siêng năng hành thiện tích phước thì có thể miễn trừ quả báo của ác nhân địa ngục,chuyển sanh phước địa hoặc nữ chuyển thân nam,đương nhiên tình hình tường tận sẽ được phật bồ tát và nhân quả xem xét cụ thể.<br />
Trong cá thể của mỗi sinh mạng đều có bậc thềm hướng đến quang minh cho hữu tình chúng sanh nào biết sám hối bước lên,để chúng sinh hiểu được gieo thiện nhân được thiện quả,gieo ác nhân bị ác báo,nhân quả báo ứng như bóng theo hình,không phải không báo,thời gian chưa đến mà thôi.<br />
Lúc trước,Phật có khai thị cho A Ngọc,kêu A Ngọc tham quan địa ngục,sau đó viết ra văn chương để đại chúng hiểu rõ nhân quả,thọ trì thanh tịnh giới luật.Chưa thọ giới thì cố gắng thọ giới;đã thọ giới rồi thì càng cố gắng hơn nữa,không ngừng tiến bộ,làm nhiều việc lợi ích chúng sanh.<br />
A Ngọc là đệ tử Phật đã quy y tam bảo và thọ trì năm giới,rất hân hạnh được phật cho phép làm công việc này.Địa Tạng Bổn Nguyện Kinh có nói: "nếu không phải uy thần thì là nghiệp lực".Thật ra,nếu không có Phật lực gia bị,A Ngọc căn bổn không đủ phước đức trí tuệ mà gánh vác nhiệm vụ thần thánh này.Nhưng con sẽ quí trọng mà toàn sức hoàn thành sự an bày này của Phật.<br />
Có một câu nói như vậy: "Hoằng pháp do bồ tát,hộ pháp là do phật".Thực ra tất cả công đức đều bắt nguồn từ phật,phật ở sau lưng an bày và gia trì rất nhiều rất nhiều,chỉ vì chúng ta không biết mà thôi,do đó đại chúng nên cố gắng giữ giới báo phật ân,sư ân !<br />
Đệ tử xấu hổ Thượng Quan Ngọc Hoa kính bút.<br />
<br />
ÂM LUẬT VÔ TÌNH PHẬT HỮU TÌNH.<br />
<br />
Có người bạn trên mạng hỏi: "sao gọi là âm luật vô tình ?".Âm luật còn có thể gọi là nhân quả,nhân quả thì bất biến,đó là định luật của vũ trụ.Vô tình ở đây có nghĩa tính tất nhiên của nhân quả,không thể vì vật gì mà thay đổi,nhân nào quả đó.Nhân quả thông ba đời,do đó nhiều khi không thể chứng kiến tận mắt được,nhưng nhân quả có thật không sai,không phải vì thân phận,địa vị,tài phú,danh vọng,nam nữ,già trẻ,màu da mà có sai biệt khác nhau,nhân quả bình đẳng trước tất cả chúng sanh,do đó mà nói là vô tình.<br />
Âm luật vô tình nhưng phật hữu tình.Tuy nhân quả định luật bất biến nhưng trước khi hình thành quả báo thiện ác thì ở giữa có duyên,có thể thông qua sữa lỗi làm thiện mà chuyển hóa.Chư phật bồ tát đại từ đại bi,một mực không mệt mỏi mà kiên trì chuyển chánh pháp luân,tùy cơ giáo hóa,tùy duyên khai thị,lợi ích tất cả chúng sinh,chúng sinh mới có nơi y theo mà thoát khổ được vui,là con đường giải thoát cứu cánh,mau chóng trở thành đèn sáng ở bờ bên kia.<br />
Ở trong thời đại này,tuy có thiện hạnh nhân sĩ nhưng đa phần không hiểu nhân quả,chiều thế tạo ác nghiệp ngày càng cường thạnh,tai nạn,chiến tranh,tật bệnh đầy khắp.Tuy có uy thần lực,công đức lực,từ bi lực,thiện nghiệp lực,hồi hướng lực hợp lại cũng chỉ trị được phần ngọn,nếu muốn trị phần gốc thì cần mọi người đều biết nhân quả,cải tà quy chánh,bỏ ác tòng thiện,nhân vì cảnh theo tâm chuyển nên chư phật thường chuyển pháp luân.<br />
"Âm Luật Vô Tình" là sách ứng thời ứng thế mà ra,là do lòng bi mẫn của phật bồ tát đối với chúng sanh từ bi an bày.Thượng Quan Ngọc Hoa tiền bối càng không từ cực khổ,dũng cảm gánh trọng trách,tận tâm tận lực vì chúng sanh phục vụ.Có một số chúng sanh không tin nhân quả mà tạo nghiệp,khuyên mãi không nghe nhưng phật bồ tát không nhẫn tâm thấy chúng sanh chịu khổ,để chúng sanh thấy rõ chân tướng của địa ngục,sinh tâm thật sự sám hối mà thay đổi;chưa tạo mà biết để khỏi tạo nghiệp nữa,cũng như vẽ một đường phòng vệ trước cửa địa ngục,hy vọng đường phòng vệ này ngăn cản chúng sanh đi chịu khổ.Thật sự là ân cứu độ của Phật bồ tát cho đến bao giờ mới có thể nói hết được ?<br />
Nếu bạn xem qua "âm luật vô tình",mà sám hối thay đổi,sau không tạo nữa,quảng tuyên lưu hành,giúp người cải chánh,thì cửa địa ngục tự nhiên đóng kín;Nhưng nếu cứ mãi không nghe không tin,tự ý tạo tác,thì cửa địa ngục sẽ mở rộng đón chào,không người ngăn cản.Nhưng bạn phải biết rằng,lúc đó,Địa Tạng Vương Bồ tát gặp lại bạn chỉ mong bạn đi vào hành bồ tát đạo,vào địa ngục cứu độ chúng sanh,chứ không phải vì tạo ác nghiệp mà đi vào.<br />
Mọi người trân trọng !<br />
Đạo Phong cung kính hợp chưởng.<br />
<br />
1,ĐỆ THẤT ĐIỆN HIỆN TRƯỜNG NGHE XỬ.<br />
<br />
Cảm ân chư phật bồ tát gia trì để con có cơ hội du địa ngục lần này,vừa tăng trưởng kiến văn lại kiên cố lòng tin với việc giữ giới.Thật ra từ nhỏ tôi đã có loại cảm ứng đặc biệt này,tức là những việc sắp phát sinh hoặc sẽ xảy ra trong tương lai tự nhiên xuất hiện trong giấc mơ của tôi,cảm thấy như mơ nhưng không phải là mơ.Tôi có thể biết rõ linh hồn mình xuất ra và nhìn thấy mình nằm trên giường,linh hồn xuất ra nhìn thấy những việc phát sinh thì có thể nhớ rõ,thường thì những điều này sẽ ứng nghiệm trong tương lai hay là một loại điềm báo nhưng chưa xảy ra thì tôi đã xử lý ổn thỏa rồi.<br />
Lúc trước toàn là những việc liên quan đến cá nhân và người nhà,lần này thì khá đặc biệt,tôi cần phải chia sẽ với tất cả hữu tình chúng sinh,để mọi người biết được sự quan trọng của ý niệm,có nghĩa là nếu muốn người khác không biết thì mình đừng có làm.Bên cạnh chúng ta,trong sinh hoạt thường ngày có nhiều điều sai lầm mà ta không biết.Giống như một đôi vợ chồng hợp pháp,song phương đều không có ngoại tình nhưng họ đều phạm tội tà dâm.Vì sao ? vì họ không giữ giới luật phi thời,phi địa,phi khí.<br />
Đêm hôm qua,tôi cảm thấy như nằm mơ xuất hồn du địa ngục,vừa đến địa ngục tôi cảm thấy âm khí rất nặng.Nam nữ ở đây đều đang chịu đau khổ,kêu gào thảm thiết,phát ra tiếng kêu lớn thất kinh,không có chút tiếng cười,không có tự do,trên người bị gông sắt khóa lại,có người bị quỷ sứ dùng hình cụ lôi đi,bị đánh,bị đâm.Địa ngục có quỷ sai,có phán quan,bọn họ cũng không cười,rất nghiêm túc,có người nhìn rất dữ.Chỉ có một bộ phận địa phủ quan viên nhìn có vẻ không dữ lắm,còn những quỷ sai khác thường rất hung tợn.Địa ngục không có ánh sáng,không giống nhân gian,khí trời đen lại có chút đỏ,rất khó hình dung,là một cảm giác rất không thoải mái.<br />
Lúc đó tôi vừa đến địa ngục đệ thất điện,đúng lúc địa phủ đang xét xử một vụ phạm tà dâm của hồn nam,được sự cho phép của phán quan mà vào dự thính.Ngay chính giữa đại điện là chủ quản tên Thái Sơn Vương,ông ta quản lý điện này,điện này có 16 địa ngục nhỏ đều do Thái Sơn Vương phụ trách quản lý.Lớn nhất trong địa ngục là Diêm La Vương.Diêm La Vương quản lý cả địa ngục,bao gồm thập điện,mỗi điện có một Vương,mỗi vị Điện Vương phụ trách quản lý 16 cái địa ngục nhỏ.Hai bên Thái Sơn Vương là hai vị địa phủ quan viên,một vị là phán quan,một là chấp hành quỉ sai cầm đao lớn và xiềng xích,bọn họ đều rất nghiêm túc nghe xử,không khí cảm giác âm u,lại có cảm giác mát nhẹ.<br />
Lúc này thấy Thái Sơn Vương rất hung dữ xét hỏi nam hồn phạm tội tà dâm khi còn sống;hồn này đang xảo biện,Thái Sơn Vương dùng tay vẽ một đường trên hư không hiện ra Nghiệt Kính Đài.Nghiệt Kính Đài hiện ra hồn nam lúc còn trẻ cùng vợ và người tình phi thời,phi địa,phi khí,đang xem sách sắc tình,đĩa phim sex v.v.. tội tà dâm.Nam hồn kinh sợ cả người run rẩy,quì xin tha tội,nhưng đã quá muộn rồi,Thái Sơn Vương đã mệnh lệnh quỉ sai áp giải đến địa ngục ôm trụ đồng thọ hình.<br />
Quỉ sai cầm đao lớn dùng xiềng xích lôi tội hồn ra khỏi đại điện đi thọ hình,tôi cũng đi theo xem tình hình ra sao.Không xem thì không sao,một khi đã xem rồi thì ôi ! thật kinh người,toàn bộ hồn quỉ trong địa ngục này đều rên la thống khổ,mà số lượng thì rất nhiều rất nhiều,bọn họ rên la thê thảm mà không hề ngưng nghỉ được,sự đau khổ liên tục mà hoàn toàn không có thời gian nghỉ ngơi.Tôi trông thấy vị nam hồn lúc nãy vui vẻ chạy đến trụ đồng,khi hắn ôm vào thì tức khắc rên la đau khổ.Tôi hỏi phán quan tại sao như vậy ? Phán quan nói lúc nãy hồn nam thấy trụ đồng là mỹ nữ nên hắn rất vui vẻ nhưng khi ôm vào trụ đồng thì bị đốt cháy cả người,cho nên đau khổ rên la.<br />
Tôi tiếp tục hỏi phán quan sao gọi là phi thời,phi địa,phi khí ? thì ra dù là vợ chồng chính thức cũng phải giữ một số giới luật,nếu không cũng là phạm tội tà dâm.Phi thời là ngày đản sanh của phật bồ tát hoặc 6 ngày chay trong mỗi tháng hay 3 tháng trường chay trong năm,không được quan hệ.Trong những ngày này như mùng một,mùng 10,15,tứ đại thiên vương sẽ du tuần xem xét ghi lại thiện ác tại nhân gian rồi báo cáo cho Ngọc Đế.Phi Địa là vợ chồng quan hệ nên vừa đủ,ngoài giường nằm của vợ chồng không được quan hệ ở nơi khác như phòng khách,bếp,nhà vệ sinh,lộ thiên,trước tượng phật v.v...Phi khí là ngoài bộ phận sinh dục ra không được hành dâm ở bộ phận khác,nếu không sẽ phải xuống địa ngục chịu khổ.Chịu hết khổ địa ngục còn phải đầu thai làm heo,chó,uyên ương,rắn v.v...<br />
Hiện tại khoa học phát triển,trên mạng internet có rất nhiều trang web sắc tình,không được xem,xem cũng là phạm,nhất định sẽ bị giảm trừ phúc,lộc,thọ.Tuy rằng chưa có hành động gì,ý niệm nhất động,câu sinh thần lập tức ghi lại hết.Mỗi người chúng ta đều có hai vị câu sinh thần,một vị ghi ác nghiệp,một vị ghi thiện nghiệp.Đương nhiên có người nói,một đời tôi chỉ quan hệ với bạn đời của mình thì không tính là phạm tội được,thật ra là sai.Phán quan nói: làm người phải giữ gìn chân tinh khí,quan hệ quá độ sẽ làm tổn hao chánh khí của tự thân mình,khi nam nữ quan hệ hành dâm thì sẽ làm phát tán tà khí phá hoại chánh khí trong trời đất.Nếu như vợ chồng chánh thức có phạm phải những điều như trên như giới luật phi thời,phi địa,phi khí thì mau mau sám hối thay đổi và đem những điều này chuyển nói cho tất cả hữu tình làm cho mọi người biết giữ mình trong sạch,giữ lễ tiết,giữ nhân luân,làm cho chánh khí trong trời đất được quân bình.<br />
Nếu như lúc trước có phạm phải phi thời,phi địa,phi khí mà do người bạn đời ép bức,trong lòng không có ý hưởng lạc hành dâm,lại kịp lúc sám hối sửa lỗi,đồng thời lập nguyện về sau sẽ khuyến hóa người khác,như thế thì sẽ khỏi phải chịu khổ hình nơi địa ngục.Nếu như cố ý tìm cầu khoái cảm mà phạm giới,thì phải đọa địa ngục ôm trụ đồng,thọ báo xong bị đánh vào súc sanh đạo,lại chuyển sanh làm thân nữ hạ tiện.<br />
Dưới đây sẽ nói đến sự phân biệt phán xử đối với kẻ phạm giới tà dâm.Trước tiên là nam nữ chưa kết hôn,nếu nam nữ chưa kết hôn còn giữ được thân đồng tử(người nam nữ chưa từng quan hệ tình dục với người khác phái) xem sách sắc tình hay trang web sex,cũng là phạm tội tà dâm,sẽ bị giảm trừ phước,lộc,thọ.Nếu như xem một lần sẽ bị giảm tuổi thọ 1 tháng,nếu tiếp tục xem sẽ bị giảm thọ 1 năm hay hơn nữa,nếu như xem mà không có hành động và kịp thời sám hối thì có thể giảm nhẹ tội nghiệp.<br />
Nếu như chưa kết hôn mà quan hệ tuy là chỉ với một đối tượng dù sau đó đi đến kết hôn với người đó,cả hai cũng phải bị giảm trừ phước báo vì không giữ đúng lễ tiết.<br />
Nếu như chưa kết hôn mà quan hệ bừa bãi,có nghĩa là thường xuyên thay đổỉ đối tượng,hôm nay A,ngày mai B,ngày mốt C,hiện tại rất phổ biến trào lưu người nam càng có nhiều bạn gái càng tự hào,người nữ thì ngủ với nhiều người v.v...Trường hợp như vậy sau khi mạng chung sẽ đọa địa ngục ôm trụ đồng,thời gian chịu khổ càng dài,sau đó luân hồi làm súc sanh,lại chuyển làm thân người trả nợ xưa.Nếu như đã kết hôn mà ngoại tình thì phải xem xét mức độ thương tổn mà định thời gian thọ hình cùng mức độ nặng nhẹ,ít nhất là ôm trụ đồng 1 vạn năm.<br />
Nếu như cưỡng hiếp,giở mưu kế làm người nữ mất trinh tiết,hay người nữ tham dâm,mạng chung đọa địa ngục này 2 vạn năm,sau đó lại vào địa ngục rên la thọ báo 1 vạn năm,lại sanh nhân gian trả nợ cũ.Nếu như tà dâm lại thêm độc hại người chết,đọa địa ngục này 4 vạn năm,sau đó sanh vào nhân gian trả nợ cũ.<br />
A Di Đà Phật ! nếu viết ra không hay thì đều là lỗi của kẻ hậu học không liên quan đến sự chỉ dạy của phán quan.Cảm tạ sự gia trì của phật bồ tát cho con đến được địa ngục tham quan mà có thể viết ra đoạn văn này chia sẽ với mọi người.Nếu như có công đức,xin đem hồi hướng cho hư không pháp giới nhất thiết chúng sinh,xa rời dục vọng,giữ gìn giới luật thanh tịnh,cùng chứng vô thượng chánh đẳng bồ đề.<br />
<br />
2,PHÁN QUAN NÓI: "SAU KHI CHẾT MỚI SÁM HỐI THÌ ĐÃ QUÁ TRỄ RỒI !".<br />
<br />
Cảm ân phật bồ tát đại gia trì,cho con lần nữa đến địa ngục tăng trưởng kiến văn.Địa ngục cảm giác luôn luôn đau khổ và đen tối,sung mãn từ trường âm tính,hy vọng mọi người không phải vì tạo nghiệp mà đến địa ngục,đúng là thật đau khổ quá.<br />
Lập tức đến đệ thất điện đang thẩm vấn một hồn nam,trông anh ta khá lịch sự,không biết là phạm phải tội gì,bị phán quan phán 500 năm tội nuốt viên đồng.Xem kỹ thì ra anh ta có một vợ và hai người tình cố định,lúc còn sống anh ta thích hành dâm phi thời,phi địa,phi khí;ba người này vừa đủ có thể thỏa mãn dục vọng của anh ta,một đời anh ta chỉ có 3 người này.<br />
Lúc này nghe thấy hồn nam tự biện hộ cho mình:"tại sao có thể miễn trừ 500 năm tội ôm trụ đồng mà không trừ được 500 năm tội nuốt viên đồng ?".Lúc này phán quan nói : "xem phim" ! thì ra lúc còn sống nam hồn yêu cầu vợ hành dâm phi khí,người vợ cự tuyệt còn nói không nên làm như vậy,không hợp với lễ tiết.Người vợ chỉ chịu hành dâm phi thời,phi địa với hắn,mà dục vọng của người vợ ít nên tội nhẹ hơn,chỉ tổn hao đi phước báo,nhân vì cự tuyệt và khuyên nói không được phi khí hành dâm,lại tích được một ít phước.<br />
Hồn nam tuy không có cưỡng ép người vợ nhưng lại phạm 3 hạng tà dâm với 2 người còn lại.Phán quan nói:"niệm ngươi có tâm sám hối và hiếu thảo với cha mẹ,lại biết tôn trọng pháp luật trong công việc,chỉ phạm 3 hạng tà dâm này,do đó miễn trừ 500 năm ôm trụ đồng".Lúc này nam hồn không còn gì để nói nữa,bị quỉ sai dẫn đến địa ngục nuốt viên đồng.Quỉ sai đẩy nam hồn vào ngục,hắn thấy tình nhân của mình liền đi tới nhưng thật ra là một con chim lớn,nó dùng cái miệng lớn ngậm phải bộ phận sinh dục của nam hồn rồi bay lên kéo đứt đi;nam hồn đau đớn kêu la thảm thiết,đến đây vì máu huyết tanh hôi nên tôi không cách gì xem tiếp nữa.<br />
Sau khi ra khỏi điện,tôi thỉnh giáo phán quan một vài vấn đề về hình phạt tội tà dâm.Theo phán quan chỉ dạy,trước tiên phải giữ gìn chánh tri chánh niệm,lúc nào cũng cảnh giác bản thân sao cho trong sạch.Nếu như ý niệm hành dâm mà không hành động thì giảm phước 1 tuần;nếu như xem sách báo sắc tình,chỉ xem thì giảm phước thọ 1 tuần lễ;có hành động giảm phước thọ 1 tháng;nếu có lần thứ 2 hành động thì giảm thọ 2 tháng,cứ như thế mà tính.<br />
Nam nữ trước khi kết hôn quan hệ tình dục đều bị giảm phước thọ,cụ thể thì mỗi trường hợp có khác nhau,đại khái chia ra 3 loại :<br />
1,một đời chỉ có một người mà đối phương dục vọng ít,sau đó kết hôn với đối phương;loại này nếu như không phạm cấm giới phi thời,phi địa,phi khí thì chỉ bị giảm phước báo,càng có thể sớm sám hối tiêu nghiệp.<br />
2,trước sau kết hôn quan hệ với bạn đời có phạm phi thời,phi địa,phi khí mà dục vọng nhiều,trước sau hôn nhân đều bị giảm phước thọ,mạng chung đọa vào địa ngục ôm trụ đồng 500 năm,nuốt viên đồng 500 năm.Nếu như lúc còn sống biết sám hối thì hiệu quả hơn,kèm với việc khuyên người không phạm,lấy công chuộc tội thì có thể miễn trừ quả báo địa ngục.<br />
3,trước sau kết hôn phạm tà dâm bừa bãi,dục vọng đặc biệt nghiêm trọng,cả ngày sống trong cảnh say mê đắm tình,lúc còn sống nhất định là giảm phước,giảm thọ,mạng chung đọa vào địa ngục ôm trụ đồng,nằm giường sắt,nuốt viên đồng và các địa ngục khác ít nhất là 1 vạn năm,căn cứ cụ thể từng trường hợp phán xử.Địa ngục báo chung lại sanh vào súc đạo,có người làm con uyên ương,có người làm chó,rắn v.v...<br />
Hiện tại nhiều nhất trong địa ngục là loại thứ 3,vả lại trước mắt,địa ngục đã được mở rộng lớn hơn trước,tại nhân gian hiện tại có rất nhiều thuộc loại thứ 3,tương lai đều phải đến địa ngục thọ báo.<br />
Phán quan nói tiếp,lúc người nữ vào kỳ sinh lý,vợ chồng nghiêm cấm hành lạc;lúc có thai và bú mớm cũng vậy,nếu không sẽ tổn phước báo;Do đó thời kỳ sinh lý hành lạc sẽ chiêu cảm các loại quỉ nuốt tinh huyết đến hút máu,mỗi lúc hành dâm đều có quỉ nuốt tinh khí đến hút tinh khí,sau đó làm thân thể phát bệnh và gặp nhiều vận xui.<br />
Phán quan còn nói,người nữ vào lúc mùa nóng ăn mặc quá hở hang thì cũng bị giảm phước 1 tuần vì làm cho người khác phái khởi tâm tà dâm.Sau khi nghe lời phán quan,cảm thấy khởi tâm động niệm thật quan trọng hết sức vậy,thì ra trong vô hình lại có quỉ thần giám sát ghi lại tất cả hành vi của chúng ta !<br />
Rất cảm ân phán quan chỉ dạy những điều quan trọng,tiết lộ thiên cơ,bái biệt tại đây;đương nguyện thiên hạ hữu tình đều tu thanh tịnh phạm hạnh,thoát khổ địa ngục.<br />
<br />
3,THỦ DÂM ĐẠI ĐỊA NGỤC THẢM BÁO,PHÁN QUAN TIẾT LỘ TẬN THIÊN CƠ !<br />
<br />
Phật bồ tát cứu độ chúng sanh cũng như biển lớn không rời sóng nước,không có ngưng nghỉ,niệm niệm tương tục,sóng sóng nối tiếp.Nguyện thiên hạ hữu tình có thể thể hội làm tốt phận sự của bản thân,giữ trọn năm giới để có được thân người,tự làm trong sạch bản thân; nguyện hậu học cũng có thể học theo tinh thần đại từ đại bi không ngừng không nghỉ của phật bồ tát,vì quảng đại chúng sinh phục vụ,hôm nay lại thừa phật lực du địa ngục một lần nữa.<br />
Đảnh lễ cảm ân phật lực gia trì ! vừa niệm phật hiệu thì đến ngay địa ngục khổ nạn.Nếu không có phật lực gia trì vòng sáng vây quanh,tôi nhất định sẽ rất mệt,từ trường âm tính của địa ngục như dời non lấp bể không có gián đoạn.Nếu như nhân gian liên tục mưa 7 ngày,trời mưa lại thêm phát sốt,tin rằng nhiều người sẽ than khổ,mỗi ngày trời đã mưa người lại mang bệnh,đầu nặng chân mềm còn phải đi làm,thật ra cái khổ của địa ngục lại gấp trăm ngàn lần cái khổ tại nhân gian,cái khổ của địa ngục thì không gián đoạn.Nghe thấy tiếng kêu lớn,tiếng rên la thống khổ ! theo tiếng mà đi xem !<br />
Oa ! rất nhiều người nam thân thể lõa lồ bị một vài con rắn hai đầu phát ra lửa hồng đeo bám.Hồn nam thấy cảnh tượng mỹ nữ sờ mó,nhưng khi con rắn hai đầu chạm vào bộ phận sinh dục của hồn nam thì lập tức cắn đứt nó,hồn nam đau đớn kêu lớn rồi hôn mê.Con rắn hai đầu này thổi một cái,hồn nam lập tức tỉnh dậy,bộ phận sinh dục cũng được hồi phục lại,lúc này con rắn hai đầu lại tiếp tục làm lại màn cảnh như lúc nãy,đúng là không muốn xem tiếp nữa,trong lòng cảm thấy rất khó chịu !<br />
Ở đây có rất nhiều nam hồn đều chịu khổ như vậy.Tôi đi vào địa ngục thỉnh giáo phán quan,xin hỏi bọn họ phạm phải tội gì vậy ? Phán quan nói,đây là một trong những địa ngục trị tội thủ dâm khi còn sống,quả báo rắn hai đầu thường là 1 vạn năm ! đây là một trong các loại ác báo của việc thủ dâm bình thường.<br />
Còn có một loại thủ dâm ác báo phải thọ 2 vạn năm.Lúc còn sống theo đuổi cảm giác mạnh,dùng nước hay nước ấm,dùng ớt,dùng chất nước bôi trơn v.v...hoặc là dùng vật phẩm bản thân ưa thích tự làm hay dạy người khác thủ dâm tà dâm,mạng chung sẽ bị đọa vào địa ngục băng hỏa ngũ trùng thiên.<br />
Tôi xin hỏi vì sao tội thủ dâm phán nặng như vậy,kẻ phạm nhẹ cũng phải 1 vạn năm ?<br />
Phán quan nói tại vì thủ dâm đặc biệt tổn thân bại đức,tổn hại tam bảo của thân người là tinh khí thần,càng rất bất hiếu với cha mẹ;cũng như tự sát vậy,tuy rằng không có xâm hại người khác nhưng cũng giết chết sinh mạng bản thân nên hình phạt nặng.Những chúng sinh thích thủ dâm thường phạm liên tục.Lúc còn sống phạm tội thủ dâm một lần,giảm phước thọ nữa tháng,lần thứ hai giảm phước thọ 1 tháng,mạng chung đọa vào địa ngục thọ báo.Nếu như lúc sống cố gắng sám hối thì có thể miễn địa ngục khổ hình,phải xem một án lệ thực tế phán xử.<br />
Phán quan hỏi tôi có muốn tham quan địa ngục băng hỏa ngũ trùng thiên không ? tôi nghỉ cũng được,đi xem thử.<br />
Ở đây còn tàn khốc hơn địa ngục rắn hai đầu,công cụ ở đây rất nhiều,nên nói là hình cụ rất nhiều.Hình cụ là vật trong suốt có chút màu trắng sắc bén hình tròn,nhìn có vẻ rất lạnh và bén,sau khi chạm vào bộ phận sinh dục của hồn nam thì tức khắc đông cứng và đứt đoạn,sau đó lại hồi phục.<br />
Thọ hết băng hình thì lập tức thọ núi lửa áp đỉnh báo không ngừng.Núi lửa áp đỉnh này là do lúc thủ dâm tà dâm dùng nước ấm,ớt để trợ dâm.Nam hồn bị một hình cụ như tòa núi nhỏ cũng hình lửa đỏ bay đến vồ lấy,như là đã đo sẵn kích cỡ,ngay tại bộ phận sinh dục có cái nút đè ngay đó để lửa đốt cháy rụi,lại là những tiếng kêu đau đớn thảm thiết rồi hôn mê chết ngất,sau lại do nghiệp lực mà tỉnh dậy,tiếp tục chịu đựng,đúng là thật đau khổ,thật tội nghiệp !<br />
Đêm nay lại đến địa ngục này thật ghê tởm quá.Phán quan cho biết địa ngục này là mới xây,còn không đủ chỗ,cần phải xây thêm,nhân gian có quá nhiều loại chúng sanh mạng chung sẽ đọa vô địa ngục này thọ hình.<br />
Tôi lại thấy có xây thêm địa ngục chuyên dành cho những người làm thẩm mỹ viện giúp làm đẹp,nâng ngực,làm phẫu thuật phần dưới cho người nữ,rất nhiều công ty thẩm mỹ hay bộ phận y tế,chuyên môn làm cho người nữ trầm mê dục vọng,tà dâm phạm giới,lúc sống tổn phước thọ,mạng chung vào địa ngục 1 vạn năm.<br />
Phán quan biết tôi có vấn đề,chúng tôi thật ra dùng ý niệm để câu thông.Tôi muốn hỏi tại sao phi địa hành dâm cũng là phạm giới ? phán quan cho xem phim.<br />
Thì ra lộ thiên,nhà vệ sinh hay vào đêm sấm chớp,có rất nhiều loại quỉ và tinh linh đến hút tinh khí hay phi tinh nhập hồn;nếu như vào lúc đó phi địa hành dâm,đối với bản thân bất lợi mà còn làm tổn hại từ trường chánh khí đại tự nhiên,trăm hại mà không có một lợi,do đó những chúng sinh vi phạm đều phải thọ khổ báo.<br />
Trước khi ra về,phán quan dặn dò tôi rằng: "lần này ngươi thừa phật lực đến nơi đây,lại được thánh thượng và diêm vương ân chuẩn,mệnh bổn quan giải nói tình trạng chân thật của địa ngục,đã tiết lộ tận thiên cơ,không sót gì cả,hy vọng ngươi về dương gian nói lại,cảnh cáo người đời,đừng phạm vào tà dâm làm tổn luân bại đức,tự tạo địa ngục,càng tăng trưởng lượng công việc ở đây và dương gian thiên tai nhân họa.Ngươi nhìn tướng của ta kinh dị như thế,hy vọng người đời sau khi chết khỏi phải gặp mặt ta thì thật là may mắn vậy.<br />
Vạn ác dâm đứng đầu ! ở đây bái biệt phán quan,cảm ân phán quan chỉ dạy,lần sau gặp lại.<br />
<br />
4,KHÁCH KIẾM GÁI 10 VẠN NĂM ĐẠI ĐỊA NGỤC BÁO ỨNG.<br />
<br />
Cảm ân phật cho con ngồi hoa sen trắng xuất phát,địa ngục hôm nay sao lại khác thường,có phải đi sai đường không ? bình thường địa ngục âm khí nặng nề,hôm nay lại có một luồng sáng màu hoàng kim rất mạnh,phật quang thật dễ chịu.ngưỡng đầu nhìn lên thì ra là Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát,nước mắt gần như chảy ra rồi,lập tức năm vóc sát đất đảnh lễ địa tạng vương bồ tát.<br />
Địa Tạng bồ tát khai thị tôi cần quí trọng thân người,làm tốt công việc có ý nghĩa này; cần chân thành tuyên dương chánh pháp,lấy khổ nạn của địa ngục thổ lộ ra ngoài,khi về nói cho chúng sanh biết làm chúng sinh nhân gian cải tà qui chánh,bỏ ác tòng thiện.Tôi vui vẻ hồi bẩm bồ tát nói,con nhất định dùng tận sức mình y giáo phụng hành.<br />
Trước tiên hướng về phán quan hành lễ ! hôm nay muốn hỏi phán quan : "kẻ chơi gái,gái điếm và người dắt mối quả báo ra sao vậy ?".<br />
Phán quan nói với tôi,khách chơi phân làm 2 loại: <br />
Thứ nhất là nhu cầu sinh lý khống chế không được,vợ không thỏa mãn được,định kỳ tìm gái điếm hành dâm;Lúc còn sống mỗi lần phạm tội giảm phước thọ 1 tháng,mạng chung vào các địa ngục dành cho tội tà dâm thọ báo.Thời gian thọ báo tùy theo án lệ cụ thể mà định,đại khái là 800 năm.<br />
Thứ hai là dục vọng quá mạnh,trường kỳ kiếm gái tà dâm,lãng phí không quí trọng thân người,sống trong cảnh say mê dục lạc,sử dụng công cụ trợ dâm theo đuổi kích thích cảm quan thân xác;loại này mỗi lần phạm tội giảm phước thọ 1 tháng rưỡi,mạng chung đọa vào địa ngục tội tà dâm thọ báo 10 vạn năm,hết tội địa ngục sanh vào súc sanh đạo làm súc sanh thấp hèn 1000 năm,sau đó chuyển làm người có đầu óc không tỉnh táo.<br />
Cho đến gái điếm,quả báo chia làm 3 loại:<br />
Thứ nhất là hoàn toàn bị khống chế cưỡng bức bán dâm,tự thân không thể tạm thời thoát li,với lại trong lúc hành dâm không có hưởng thụ cảm giác,sau được cứu thoát nhưng cần sám hối nghiệp chướng không được tái phạm nữa,hoặc có thể miễn khổ báo địa ngục.<br />
Thứ hai là vì tiền bạc mà làm gái điếm,lúc sinh tiền mỗi lần hành lạc giảm phúc thọ 1 tháng,mạng chung vào địa ngục thọ hình 8 vạn năm,hết tội địa ngục sanh vào súc sanh đạo 800 năm,sau đó chuyển làm thân người thọ hạ tiện báo.<br />
Thứ ba là gái điếm giống loại thứ hai khách chơi,đều là dục vọng mãnh liệt,lãng phí không tiếc thân người,say mê dục lạc,sử dụng công cụ trợ dâm theo đuổi cảm giác kích thích,mỗi lần giảm phước thọ 2 tháng,mạng chung thọ báo địa ngục 15 vạn năm,hết tội địa ngục sanh vào súc sanh đạo,làm súc vật hạ tiện 2000 năm,sau đó chuyển làm người thọ báo thân hạ tiện.<br />
Còn kẻ dắt mối chia làm 2 loại: <br />
Thứ nhất vì tiền tạm thời làm việc,sau vì giác ngộ mà rời bỏ không tái phạm nữa,lại cố gắng sám hối tội lỗi,hoặc có thể miễn đi một số quả báo địa ngục,nhưng lúc sống mỗi lần phạm tội bị giảm phước thọ 1 tháng rưỡi,mạng chung đọa vào khói hoa lăn lộn địa ngục thọ báo 10 vạn năm.<br />
Thứ hai là tâm địa bất chính,khống chế gái điếm,tự thân dục vọng mãnh liệt,tự tư tự lợi,chuyên môn nghĩ kế hảm hại người khác v.v...lúc sống giảm phước giảm thọ,mạng chung đọa vào khói hoa lăn lộn địa ngục thọ báo đến lúc tất cả gái điếm bị hại chuyển lại thân người mới được rời khỏi địa ngục,sau vào súc sanh đạo thọ báo,súc sanh đạo báo tận lại thọ thân người hạ tiện.<br />
" Oa ! phán quan,sao kẻ dắt mối bị phán nặng như vậy ! nghe ông giải thích rõ rồi,tôi lại cảm thấy đau lòng chua xót và rất thông cảm những chúng sinh trong hạnh nghiệp này".<br />
Phán quan nói: " loại hành nghiệp này phá hoại nghiêm trọng phong hóa của xã hội,phá hoại đạo đức lễ tiết luân thường,nghiêm trọng ảnh hưởng đến bản tính thuần lương của con người,do đó địa ngục minh vương muốn trừng phạt loại chúng sinh phạm ác này.Nhưng theo sự hiểu biết của bổn quan,phật bồ tát từ bi lân mẫn loại chúng sanh này,hóa thân người ở trong nơi sống của bọn họ mà độ kẻ còn thiện căn quay đầu hướng thiện.<br />
Hôm nay tạm thời đến đây,cảm ân phán quan ! A Di Đà Phật ! ngồi hoa sen trắng về thôi.<br />
Hôm nay rất vui vì có thể gặp địa tạng vương bồ tát trong địa ngục,kim quang bao phủ toàn thân bồ tát,lại gia trì được cho con,nguyện lực rộng lớn thật bất khả tư nghì !<br />
Quay về nhân gian,đã rất mệt mỏi;nhân mỗi lần đi thăm địa ngục đều hao tổn nguyên thần nguyên khí rất nhiều,sau khi về phải lập tức niệm chú bổ sung.<br />
Hy vọng các vị độc giả đừng xem như tiểu thuyết,vậy mới không phụ tấm lòng khổ tâm của địa tạng vương bồ tát. A Ngọc lần nữa cám ơn chư vị,Nam mô đại nguyện địa tạng vương bồ tát ma ha tát !<br />
<br />
5,TÌNH HÌNH TRỪNG PHẠT LOẠN LUÂN TÀ HẠNH TẠI ĐẢO LUÂN BĂNG THIÊN ĐỊA NGỤC VÀ HOA MÀU RỪNG KIẾM ĐỊA NGỤC.<br />
<br />
A Ngọc đảnh lễ Địa Tạng Bồ Tát ! rất vui lại được lợi ích từ pháp diệu !<br />
Địa Tạng bồ Tát khai thị A Ngọc về năm giới,giữ năm giới có thể được thân người,là căn bổn làm người,không bị đọa lạc,xem có vẻ đơn giản nhưng đa số chúng sinh đều phạm mà không hay biết.Chúng ta thường nghe nhiều kẻ xung quanh nói,tôi không có cướp của giết người,phóng hỏa hại ai,là một người dân lương thiện.Thật ra giết người phóng hỏa đã là tội rất nghiêm trọng,phải xuống địa ngục thọ báo.Bây giờ chúng ta lắng nghe Địa Tạng bồ tát từ bi khai thị,nếu nghe có sai sót thì là vấn đề của bản thân A Ngọc,A Ngọc đơn giản thuật lại lời khai thị của bồ tát như sau:<br />
1,không sát sanh: nghiêm cấm đoạt lấy sinh mạng bất kỳ hữu tình nào,thanh tịnh ăn chay là căn bản của việc giữ giới này,sao gọi là thanh tịnh ? cần nghiêm chỉnh thủ hộ giáo nghĩa của kinh Lăng Nghiêm,bất cứ thứ gì liên quan đến bản thân đều không được dùng,ăn,tất cả thức ăn liên quan đến động vật đều không được ăn.Ví dụ: sữa bò,trứng,mật ong,pho mát,mỡ bò,những cái liên quan đến động vật đều giới cấm,vật phẩm trang điểm đa số đều có thành phần của động vật,không được dùng.Khi chúng ta bị bệnh cần uống thuốc,đặc biệt là thuốc đông y có nhiều thành phần động vật.<br />
2,không trộm cắp: chưa được sự chấp nhận của người khác mà chiếm giữ cho bản thân là trộm cắp.Có rất nhiều người tại công ty,lấy đồ văn phòng của công ty dùng cho việc riêng tư hay đem về nhà dùng,hoặc gọi điện thoại cho việc riêng tư,sạc điện di động tại công ty,dùng máy photocopy,máy fax làm việc riêng tư v.v...,nếu chưa được công ty đồng ý thì đều là phạm giới trộm cắp.<br />
3,không tà dâm: là quan hệ tình dục ngoài vợ chồng ra đều là tà dâm.Phi thời,phi địa,phi khí,xem đĩa phim sex,dùng công cụ trợ dâm đều là phạm giới tà dâm.<br />
4,không vọng ngữ: nói lời chân thực,không lừa gạt người khác.Có thì nói có,không thì nói không,cố ý lừa gạt là phạm giới nghiêm trọng;trường hợp thuận tiện vọng ngữ thì cố gắng đừng nói,nhân vì nói nhiều thì sẽ trở thành thói quen tự nhiên.<br />
5,không uống rượu: cấm rượu và chất ma túy.Sản phẩm liên quan đến rượu đều không được ăn,ví dụ như chao,đa phần là có rượu không được ăn,mặc dù cho người chủ bán chao nói là dùng rất ít rượu,chỉ cần có một ít cũng là rượu,trừ khi dùng với thuốc để cứu mạng người thì không sao,còn có nhiều vật phẩm trang điểm có thành chất rượu,tốt nhất không dùng.<br />
Sau khi nghe Địa Tạng bồ tát khai thị,A Ngọc tiếp tục đến trước gặp phán quan.Phán quan,a di đà phật ! hôm nay muốn thỉnh giáo phán quan quả báo của việc loạn luân.<br />
Phán quan nói,loạn luân là bại hoại đạo đức,nhiễu loạn phong khí xã hội,là hành vi phá hoại chánh khí nhân luân,địa phủ sẽ trừng phạt nghiêm khắc loại chúng sanh này.Nhưng chúng sanh phạm tội này,lúc sống giảm phước thọ 2 tháng rưỡi,mạng chung vào đảo luân địa ngục thọ khổ 500 năm,ôm trụ đồng địa ngục 500 năm,giường sắt địa ngục 500 năm,khói hoa lăn lộn địa ngục 500 năm,rừng kiếm địa ngục 500 năm,đây chỉ là hình phạt cho trường hợp loạn luân bình thường,đương nhiên là hình phạt tùy thuộc vào mỗi trường hợp vi phạm khác nhau mà phán định,,trong sát na,ngồi hoa sen trắng đến đảo luân địa ngục rồi,ở đây nam hồn nhiều hơn nữ hồn.<br />
Những hồn loạn luân tại địa ngục này,toàn là những kẻ hành dâm với người thân khác giới của mình.Tức là nam với chị dâu,em dâu,chị,em gái,hoặc là hành dâm với người khác giới bên vợ.Nữ với anh rễ,em rễ,anh,em trai,hoặc người thân khác giới bên chồng.<br />
Đảo luân băng thiên địa ngục có một cái bánh xe rất lớn tự chuyển động,bốn mặt là tường bằng băng đá lạnh,phía trên là một mảnh băng như cái gương,thì gọi là băng kính vậy.Băng kính này không giống bốn bức tường,nó có độ trong suốt và độ chiếu xạ hơn,nói chung là có công năng của tấm gương,có thể soi rọi tình hình trong bánh xe lớn;mặt tấm gương đó không ngừng phóng ra băng đá trong suốt,bắn vào những chúng sinh đang thọ hình trong bánh xe lớn.<br />
Lúc này chỉ thấy một hồn nam toàn thân lõa lồ chạy đến bánh xe lớn,bánh xe hút anh ta vào giam lại chuyển động,mặt gương phóng ra băng đá đâm vào người hắn,mỗi miếng băng đá đều làm cho tội hồn chảy máu đứt tay đứt chân,đau khổ muôn phần,tội hồn bán mạng chạy ra ngoài.Khi anh ta bị thọ thương tạm thời rời khỏi được bánh xe lớn,quỉ sứ bên ngoài dùng thiết xoa đâm hắn bỏ vào lại,tình trạng vô cùng thảm khốc,a di đà phật !<br />
Lúc này phán quan gọi tôi đến hoa màu rừng kiếm địa ngục kế bên xem thử,địa ngục này là do lúc còn sống phạm dâm với thân thuộc trực hệ,cưỡng ép hay tự nguyện.Nếu như bị ép bức mà lúc đó không có ý hưởng lạc,thông qua sám hối thì không bị thọ hình phạt;nếu như có ý hưởng lạc thì phải thọ báo.Phàm là nam với con gái,cháu gái,bà ngoại,bà nội hay thân thuộc trực hệ bên nhà vợ;Nữ với cha,cháu trai,ông nội,ông ngoại hay là thân thuộc trực hệ bên nhà chồng.Trong địa ngục này có vô số hoa đẹp,số hoa này có rất nhiều cơ quan,hoa sẽ biến sắc,xem hoa hình như rất hấp dẫn người.<br />
Lúc này có nam hồn thân mình lõa lồ,lòng đầy dục vọng muốn hái hoa,hoa mau chóng biến hình bám vào người hắn,hoa từ từ bám xuống bộ phận sinh dục của hắn rồi lập tức bẽ gãy nó,máu tuôn đầy đất,máu thịt bầy nhầy,sau đó hoa biến thành vô số cánh hoa cứng không ngừng đánh vào tội hồn chết ngất đi,rồi quỉ sứ dùng nước hàn băng tưới lên mặt tội hồn làm hắn tỉnh dậy,tiếp tục hành hình,lại phải chịu thêm một lần đau khổ muôn phần,sớm biết như vậy thì lúc đầu đừng phạm !<br />
Phán quan nói: "nhân gian loạn luân tà hạnh thì thiên địa bất dung,tội ác thật lớn,nhất định phạt nặng,không được tha thứ,để làm sáng tỏ âm luật vô tư".<br />
Hôm nay đến đây là đủ,ngày khác quay lại.<br />
Bái biệt phán quan,cám ơn sự chỉ dạy của phán quan !<br />
<br />
6,THIẾU NIÊN ĐẮM MÊ TRANG WEB SẮC TÌNH PHƯỚC THỌ GIẢM HẾT,LÚC CHẾT CHỈ 20 TUỔI !<br />
<br />
Cảm ân chư phật bồ tát ! A Ngọc ngồi hoa sen trắng xuất phát.<br />
Phán quan,a di đà phật ! A Ngọc hợp chưởng hành lễ !<br />
hôm nay phán quan dẫn tôi đi tham quan tà dâm điện quang nhãn địa ngục.Địa ngục này là giành cho người lúc sống thích xem sách truyện hay trang web sex,mạng chung vào địa ngục thọ báo.Chúng sinh đến địa ngục này sẽ căn cứ vào mức tuổi và mức độ xem mà định phán hình,ít nhất là 50 năm,số tuổi càng trẻ phán tội càng nặng.<br />
Đa số người sau khi xem trang web sex đều sẽ tiếp tục phạm nhiều loại tà dâm khác,như thủ dâm hoặc phi thời,phi địa,phi khí tà hạnh,thậm chí dùng công cụ trợ dâm.Xem loại sách sắc tình này sẽ nghiêm trọng phá hoại bản tánh tốt lành của con người,đặc biệt là thiên tính thuần tịnh thuần dương của trẻ nhỏ,người trưởng thành cũng không được xem huống chi là trẻ vị thành niên.<br />
Hiện tại nhân gian có rất nhiều thanh thiếu niên đều lên mạng xem những trang web sex.Bất cứ người nào đắm mê sắc dục đều sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển tốt lành của tâm linh.Con người mỗi ngày đều phải nhờ vào ý niệm tư duy để sống.Ý niệm tư duy sẽ thúc đẩy hành vi,hành vi tạo thiện ác nghiệp,thiện ác nghiệp quyết định vận mạng,vận mạng tạo thành nghiệp lực,nghiệp lực sản sanh phải thọ báo.<br />
Thường xuyên xem trang web sắc tình,tư duy của con người sẽ hôn trầm,xử lý mọi việc không tinh tế;đặc biệt là trẻ nhỏ bị ảnh hưởng rất nhiều,đoạn mất cơ hội tu hành giải thoát.Trên đầu chữ sắc là một con dao,cổ kim đã có biết bao danh nhân tướng sĩ không qua nổi cửa ải này.<br />
Phán quan nói: "mỗi lần xem sách hay trang web sex sẽ bị giảm phước thọ,sau đó phạm tội tà dâm khác lại cũng giảm phước thọ,cũng như là mãn tính tự sát".<br />
"hiện tại nhân gian khoa học phát đạt,trẻ nhỏ đều dùng máy vi tính,có rất nhiều đứa trẻ nhỏ xem trang web sex.Có một vài phụ huynh không biết,vì bản thân phụ huynh không biết sử dụng máy vi tính,mặc cho con em tự học vi tính mà không quan sát,mỗi ngày làm việc lại rất bận rộn,căn bổn là không có thời gian quan tâm đến con em.Hoặc là kinh tế tốt một chút thì thuê người giữ con,người làm thì không nhất định sẽ chăm sóc chu đáo,do đó những phụ huynh này sẽ bị giảm phước,không thể nói không biết mà không quan tâm,nuôi mà không dạy là lỗi của cha mẹ.Cha mẹ cần phải quan tâm nhiều đến việc giáo dục con cái lành mạnh trưởng thành.Cho đến có một số cha mẹ rõ ràng biết như vậy nhưng không ngăn cản hoặc xem như là giáo dục giới tính mà buông thả cho trẻ nhỏ xem.Có người lại nói thời đại không như trước rồi,hiện tại là thời đại mở thoáng,tại trường học cũng có khóa trình học giáo dục giới tính cho trẻ nhỏ,đó là quan điểm sai lầm nghiêm trọng.Minh phủ hy vọng lần này mượn cơ hội A Ngọc tham quan địa ngục,sau khi về nhân gian kêu gọi chúng hữu tình cải tà qui chánh,quí trọng nhân gian mấy chục năm sinh sống,cố làm nhiều việc lợi lạc thế đạo nhân tâm,đừng làm những việc hại người hại mình;nếu không một khi nhắm mắt sẽ đến đây gặp ta đấy !".<br />
Đã nghe thấy tiếng thảm kêu,thì ra là chúng sinh trong điện quang nhãn địa ngục đang thọ cực hình.Trong địa ngục này thiết lập rất nhiều máy vi tính lớn có nhiều cơ quan,mỗi hồn một cái máy vi tính;trong máy tính có hình để xem,mỗi hồn đều đang xem máy tính của mình;không xem thì thôi,một khi xem thì lớn tiếng thảm kêu.<br />
Có hồn nam rất trẻ,chỉ 20 tuổi; máy tính của nó phóng ra móc câu điện quang màu đỏ móc vào 2 mắt của nó,kéo xé hai con ngươi ra ngoài,máu đỏ đầy đất,nam hồn có vẻ cực kỳ đau khổ bi ai ! đây là quả báo của việc xem phim sách hay tiểu thuyết sex trên mạng.<br />
Phán quan nói,nam hồn này đã xem những trang web sắc tình từ nhỏ,không những thế mà còn thủ dâm; vì phạm ở mức độ cao nên phước báo cả đời gần như giảm hết mà đọa vào địa ngục này,cha mẹ của nó tại nhân gian còn đang kêu khóc con mình.<br />
Bên cạnh có tội hồn ngồi trên một cái ghế xem sách sắc tình,giống như trường hợp móc mắt lúc nãy nhưng tốc độ thọ hình chậm hơn.Tôi xin thỉnh giáo phán quan vì sao thọ hình tốc độ lại có sai khác vậy ?<br />
Phán quan nói : "nhân vì khi xem trang web sex,thường xem được số lượng nhiều trong thời gian ngắn,thời gian xem cũng tương đối dài,còn xem sách hình hay tiểu thuyết sắc tình,chỉ giới hạn trong vài quyển thôi.Nếu như chúng sanh lúc còn sống có xem mà sau này giác ngộ sám hối không tái phạm nữa,đồng thời cố gắng tuyên truyền sách thiện này,khuyên bảo chúng sinh không được xem những trang web,đĩa,sách sex nữa,dùng tiền của mình tận lực mua sách đĩa sex đem thiêu hủy hết,lấy công chuộc tội thì miễn chịu địa ngục khổ báo".<br />
Phán quan nghiêm khắc nói: "những chúng sinh thọ báo tại địa ngục điện nhãn quang,thường thì phải tiếp tục thọ hình tại những địa ngục khác.Phạm thủ dâm,phạm phi thời,phi địa,phi khí đẳng tội,sau khi chết quyết định sẽ bị đánh vào các ngục nuốt viên đồng,ôm trụ đồng,khói hoa lăn lộn và nhiều đủ loại địa ngục khác nữa thọ hình".<br />
Hôm nay tạm thời đến đây,bái biệt phán quan !<br />
A Ngọc hợp chưởng hướng phán quan hành lễ,cảm ân phán quan ! ngồi hoa sen trắng quay về.<br />
Trang web sắc tình và đĩa phim sex đúng là hại người không ít,mùi máu tanh trong các loại đại địa ngục làm A Ngọc khó lòng chịu đựng.Tham quan các loại đại địa ngục thấy nhiều tội hồn bị quỷ tốt chặt đầu chặt tay,xẻo thịt cắt chân,rên la thảm thiết trong máu tanh thật kinh hoàng,A Ngọc sau khi về nhà,trong lòng cũng phải điều chỉnh một phen mới hồi phục bình thường lại được !<br />
<br />
7,THỦ DÂM TRỪNG PHẠT THẢM THIẾT-ĐỊA NGỤC ĐIỆN NHÃN THIẾT HOÀN.<br />
<br />
Cảm ân chư phật bồ tát ! ngồi hoa sen trắng xuất phát.<br />
Phán quan,a di đà phật ! A Ngọc hợp chưởng hành lễ !<br />
Hôm nay phán quan dẫn tôi đi tham quan tà dâm địa ngục,điện quang thiết hoàn địa ngục.<br />
Điện quang thiết hoàn địa ngục là giành cho những người đắm mê những trang web sex,hình ảnh sắc tình,sách báo sex và vừa xem vừa thủ dâm,mạng chung vào địa ngục này thọ phạt,thời gian là 800 năm;sau đó xem xét linh thức chuyển hóa như thế nào để quyết định có thọ phạt tại đây nữa không.<br />
Lúc trước có nói,mỗi lần xem sách báo sắc tình thì bị giảm phước thọ 1 tháng;Trừ lần đầu giảm phước thọ nữa tháng ra,những lần sau đều giảm 1 tháng.nếu như xem thường xuyên lại thủ dâm thì chắc chắn phước báo một đời mau chóng hết sạch rồi.<br />
Địa ngục này bên cạnh điện quang nhãn địa ngục,so với điện quang nhãn địa ngục khổ hơn ngàn vạn lần.Ở đây hầu như đa số đều là thanh thiếu niên.Oa ! thật tội nghiệp,đứa nào cũng rất nhỏ tuổi.Nhớ lại bản thân mình vào độ tuổi này còn đi học ở trường ngu khờ biết mấy,cái gì cũng không biết,tại sao chúng nó có trường không học mà chạy tới đây thọ hình vậy,chỉ một chữ,thật đau lòng ! những đứa trẻ nhỏ phải biết giữ mình trong sạch,địa ngục thật khổ lắm khổ lắm vậy,đừng có bao giờ đến đây,ở nhân gian cố gắng đi học tu hành,quí trọng cuộc đời tươi đẹp này.<br />
Ở đây phát hiện có một nam sinh trung học thật quen mặt,gặp qua ở đâu vậy ? ah,nghĩ ra rồi,đại khái là nữa năm trước nhìn thấy di ảnh của nó tại tang đường.Nữa năm trước tôi xử lý tang sự của người thân,linh đường của nó ở kế bên,lúc đó linh đường bên chúng tôi vì nhiều người,trẻ con nhiều,cảm giác rất náo nhiệt;Còn bên linh đường của nó thì thật lạnh lẽo,chỉ có cha mẹ và hai,ba người thân.Lúc đó,thân thuộc chúng tôi bên đây nghị luận đứa trẻ này nhỏ như vậy,không biết xảy ra chuyện gì.Cha mẹ rất thảm sầu,mẹ của nó rất đau lòng,tôi chỉ có thể hướng về di ảnh của nó niệm vài câu a di đà phật hồi hướng,không ngờ lại gặp nó tại địa ngục,mạng người thật vô thường !<br />
Nghe phán quan nói,cha mẹ đứa trai nhỏ này chỉ có một mình nó,lúc sống nó mê đắm những trang web sex,sách báo sắc tình,lại còn nhiễm thói ác thủ dâm,lại dùng công cụ tự mình sáng tạo ra trợ dâm.6 tuổi bắt đầu thủ dâm,10 tuổi đã hư thận;mẹ của nó dẫn nó đi khắp nơi trị bệnh,uống rất nhiều thuốc đông y,đi đường giống như ông già dùng gậy chống; vì nó không biết quí trọng sinh mạng,quí trọng sức khoẻ,trong thời kỳ uống thuốc lại tiếp tục thủ dâm,do đó 12 tuổi phước báo mất hết bị đánh vào địa ngục điện nhãn thiết hoàn thọ phạt 800 năm.<br />
Tôi thấy bên cạnh nó có hình cụ máy tính và rắn lửa bám vào thân nó.Trong máy tính phóng ra móc câu hồng quang móc mắt nó,máu huyết bay tung;rắn lửa bám vào,hình như là sờ mó bộ phận sinh dục của nó rồi lập tức cắn đứt,lại là máu phun đầy đất.Trong khi nó chưa kịp phản ứng thì có hai con sói dữ đến cắn xé nó,cắn đứt hai tay nó,thật là thê thảm quá ! đúng là cực hình trong cực hình,rất đau khổ khó chịu.<br />
Tôi hỏi phán quan,tại sao trong một lúc chịu nhiều loại hình phạt như vậy ? sao không để nó lành đôi mắt rồi mới thọ hình rắn lửa và chó sói.<br />
Phán quan nói: "đây tuyệt đối không thể phân ra thọ chịu,nhân vì lúc còn sống hắn vừa xem vi tính vừa thủ dâm,sau đó lại dùng công cụ tự chế phạm tà dâm lần nữa,do đó mà hắn rất mau đến địa ngục thọ báo vậy.Sau khi thọ báo ở đây xong,hắn còn phải đến đại địa ngục kêu la tiếp tục chấp hành hình phạt.Do hắn phạm phải thủ dâm sớm ngày tiêu trừ hết phước báo,làm cha mẹ đau buồn thương tâm,người tóc bạc đưa người tóc đen,là mang tội bất hiếu mà chịu hình phạt này.Hiện tại người ở nhân gian,tuổi đời nhỏ nhỏ,đã không giữ lễ nghĩa;đối với song thân ngỗ nghịch trả treo,mở lời nhục mạ,càng tay đấm chân đá,hành vi còn thua loài cầm thú hạ đẳng.Ở giữa trời đất là kẻ đại bất hiếu,sau khi chết phải đến đây thọ phạt,tẩy rửa linh thức,tịnh hóa nguyên thần,đến khi thật lòng sám hối sửa lỗi".<br />
"hôm nay đến đây chấm dứt,bổn quan còn công vụ tại thân,ngày khác lại đến".<br />
"A Ngọc bái biệt phán quan,đa tạ phán quan !"<br />
<br />
8,DƯƠNG THỌ CHƯA HẾT ĐÃ CÂU BA HỒN !!!<br />
<br />
Cảm ân phật lực gia bị ! ngồi hoa sen trắng xuất phát.<br />
A di đà phật ! A Ngọc hướng phán quan hành lễ.<br />
Hôm nay phán quan dẫn tôi đi tham quan địa ngục tội tà dâm,địa ngục roi trượng.Sao gọi là địa ngục roi trượng ? tức là chúng sinh phạm tội tà dâm mà dương thọ chưa hết,một bộ phận thần thức của họ bị quỉ sai nơi địa phủ bắt đến địa phủ chịu trừng phạt.Người có ba hồn bảy vía,quỉ sai bắt ba hồn của tội linh hành hình.Chúng sinh nhân gian cảm thấy đau đầu chóng mặt rất hôn hôn trầm trầm,có người cảm thấy bị đánh trong lúc mơ hồ;nhưng đa số bọn họ đều nghỉ rằng mình bị ác mộng,nghiêm trọng thì bị sốt nằm trên giường thiếp đi.Đến khi thọ hết hình phạt về đến dương gian,có người thấy toàn thân đau đớn,cảm giác đau đến thấu xương.<br />
Cái địa ngục roi trượng này,thật là quá lớn ! có thể nói nhìn không thấy nơi tận cùng;giống nhân gian nhìn biển lớn vậy,không thấy nơi chấm dứt ở đâu,là địa ngục lớn nhất tôi nhìn thấy từ trước đến giờ.Trong roi trượng địa ngục này có rất nhiều người không cùng một quốc gia,như Trung Quốc,Anh,Mỹ,Pháp,Nhật Bổn,Thái Lan,còn có Ấn Độ,Phi Châu,Pakistan v.v...rất nhiều quốc tịch khác nhau.Có một điều thật không may là lại có rất nhiều vô số thanh thiếu niên và trẻ nhỏ trong ngục chịu trừng phạt.<br />
Tôi xin hỏi phán quan sao lại có nhiều người như vậy ? cái địa ngục này sao lớn đến kinh dị như vậy !<br />
Phán quan nói: " chính vì khoa học phát đạt,nhân gian phát minh máy vi tính,số lượng trang web sex kinh người đã đầu độc ô nhiễm thanh thiếu niên và trẻ nhỏ,bọn họ đều đang phạm tà dâm tạo nhân địa ngục,con số những chúng sanh bất thiện này không gián đoạn vượt thăng lên,do đó phật đặc biệt phái ngươi đến địa ngục tham quan,quay về hãy cáo giới chúng sanh cần giữ ngũ thường bát đức;đặc biệt là người trẻ tuổi,đừng nghĩ là những thứ này đã cũ rít rồi mà phải giữ mình trong sạch,cải tà qui chánh,bỏ ác tòng thiện,nếu không sau này khó thoát khổ hình địa ngục,đến lúc đó hối tiếc cũng quá muộn rồi !".<br />
Lúc này,tôi thấy chúng sanh tại địa ngục roi trượng,toàn bộ bị quỉ sai lấy roi trượng đánh đập.Quỉ sai ở đây một mực cầm roi trượng đánh tội hồn,tội hồn đau quá kêu oa oa,tiếng kêu lớn cứ như sóng lan từ chỗ này đến chỗ khác.Bị đánh là để tội hồn phản tỉnh lỗi lầm của bản thân,số ít tội hồn sau khi tỉnh dậy sẽ thay đổi lỗi cũ,nhưng đa số tội hồn sau khi về nhân gian lại tiếp tục phạm lỗi.<br />
A Ngọc xin thỉnh giáo phán quan,làm sao để chúng sinh dương gian tin tưởng "Âm Luật Vô Tình",bộ sách trước tác muôn nghìn lần chân thật về tình trạng địa ngục hiện nay ? Nhân vì có một vài người có thể nói A ngọc tự mình hoang tưởng hoặc hư cấu viết ra,giống tiểu thuyết vậy,thật khó làm người ta tin vậy.<br />
Phán quan nói: "trong âm thầm tất cả đều có nhân quả,không phải nhìn không thấy thì cho là giả.Chúng ta mỗi một người đều không thể thấy mẹ mình sinh ra mình nhưng đây là sự thật chắc chắn,không nhìn thấy không có nghĩa là không tồn tại.Trên đầu ba tấc có thần linh,trong đại thiên thế giới này có quá nhiều sự vật mà chúng ta nhìn không thấy,nhưng chúng và cuộc sống của chúng ta có quan hệ mật thiết,tương quan từng chút,chỉ có điều chúng ta không phát hiện ra sự tồn tại của phật bồ tát và quỉ thần thôi.Cơ duyên và phước báo của mỗi người không giống nhau,sở cảm thọ và kinh nghiệm qua cũng không giống; thiện ác nhân quả như bóng theo hình,không phải không báo,thời gian chưa đến thôi,lưới trời lồng lộng tuy thưa mà khó thoát.Lần này A Ngọc con đến tham quan tình hình các đại địa ngục,cũng phải qua sự chọn lựa an bày của phật;con có đủ tư cách gánh vác sứ mệnh này như một đệ tử phật giữ giới,cố gắng hoàn thành tốt thiện hạnh lợi lạc chúng sanh này".<br />
Đa tạ phán quan khích lệ,A Ngọc nhất định tận dụng hết khả năng hoàn thành nhiệm vụ thần thánh này.<br />
Lúc này,tôi nhìn thấy có vài quan viên địa phủ hướng về roi trượng địa ngục đi đến.Oa ! thì ra là Diêm Vương đến rồi,A Ngọc hợp chưởng hướng Diêm Vương hành lễ ! thì ra địa phủ phải xây lớn thêm địa ngục roi trượng,Diêm vương đến để xem xét thực tế.Diêm Vương đang mật thiết quan tâm đến thanh thiếu niên tại nhân gian phạm tội tà dâm,một vấn đề lớn của xã hội,hiện tại phát hiện không chỉ đơn giản là vấn đề của nhân gian mà địa phủ cũng bị li]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Quan điểm mới về Vũ trụ - Tôn giáo - Con người]]></title>
			<link>https://uhm.vn/forum/Thread-Quan-%C4%91i%E1%BB%83m-m%E1%BB%9Bi-v%E1%BB%81-V%C5%A9-tr%E1%BB%A5-T%C3%B4n-gi%C3%A1o-Con-ng%C6%B0%E1%BB%9Di</link>
			<pubDate>Tue, 14 Jan 2014 21:56:58 +0700</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://uhm.vn/forum/member.php?action=profile&uid=159105">doquangsang</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://uhm.vn/forum/Thread-Quan-%C4%91i%E1%BB%83m-m%E1%BB%9Bi-v%E1%BB%81-V%C5%A9-tr%E1%BB%A5-T%C3%B4n-gi%C3%A1o-Con-ng%C6%B0%E1%BB%9Di</guid>
			<description><![CDATA[<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">"Xã hội loài người hình thành bởi tư tưởng, vận hành bởi tư tưởng và thay đổi bởi tư tưởng"</span><br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">WEBSITE CÁ NHÂN:</span> <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">doquangsang.com</span><br />
<br />
Link Full + Video và trao đổi, phản biện với cộng đồng: <br />
tinhte.vn/threads/quan-diem-moi-ve-vu-tru-ton-giao-con-nguoi.2159137/<br />
<br />
Link tác phẩm trọn bộ: dropbox.com/s/r83y12gf2sn2i3o/TWO%20SIDE%20%28V%29.pdf<br />
<br />
Như Albert Einstein đã từng nói: "<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Học thuyết là thứ mà không ai tin vào, trừ người tạo ra nó. Thí nghiệm là thứ mà ai cũng tin vào, trừ người tạo ra nó</span>."<br />
<br />
Những gì quá mới mẻ và xa lạ thường khó được mọi người chấp nhận ngay, nhất là các lý thuyết thuộc về triết học với tính trừu tượng vốn có. Nhưng tôi vẫn xây dựng ngôi nhà của mình bằng niềm đam mê bất tận và hi vọng truyền được phần nào niềm đam mê đó đến mọi người. <br />
<br />
Vì đây là cuốn sách free cho cộng đồng nên tôi mạo muội đưa vào phần thảo luận với mọi người (nhưng chỉ ghi là đọc giả thôi, không ghi tên - vẫn giữ nguyên nội dung vì tôn trọng sự thật). Nếu bạn nào cảm thấy không thích thì cứ nói, tôi sẽ loại bỏ ngay. Vì tôi nghĩ cuốn sách này không chỉ là công sức của riêng tôi mà cũng là của chính các bạn đã dành thời gian đóng góp.<br />
<br />
Do đây là tác phẩm đầu tay và tôi nhận thấy còn thiếu một người thầy dẫn dắt thật sự nên việc trình bày không tránh những sai xót, nhất là về phần nội dung.<br />
<br />
Qua đây, tôi cũng mong nhận được những phản hồi, góp ý tiếp theo từ mọi người để tôi có thể hoàn thiện tốt hơn tác phẩm trong phiên bản sau.<br />
<br />
Xin chân thành cảm ơn!<br />
<br />
<br />
Đỗ Quang Sang<br />
<br />
_ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ <br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">MỤC LỤC SÁCH</span><br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">+ LỜI NÓI ĐẦU (3)<br />
+ KHÁI NIỆM CẦN CHÚ Ý TRONG TWO SIDE (5)<br />
+ GIỚI THIỆU NỘI DUNG (6)<br />
+ VŨ TRỤ (10)<br />
- Vận động (19)<br />
- Không – Thời gian (22)<br />
- Sơ đồ phân bố tính bền của Zezro và Vật chất (25)<br />
+ TÔN GIÁO (26)<br />
+ CON NGƯỜI (31)<br />
- Thiên đàng và Địa ngục (36)<br />
- Linh hồn (37)<br />
- Vai trò và ý nghĩa của Con người trong vũ trụ (40)<br />
- Con người đang làm gì? (43)<br />
+ CHIA SẺ NGOÀI (45)<br />
+ THẢO LUẬN VÀ PHẢN BIỆN (53)</span><br />
<br />
_ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ <br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">KHÁI NIỆM CẦN CHÚ Ý TRONG TWO SIDE</span><br />
<br />
- <span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Thực thể</span></span> là trạng thái có thực đã và đang tồn tại.<br />
<br />
- <span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Vũ trụ </span></span>là thực thể đang tồn tại được cấu thành bởi Zezro và Vật Chất.<br />
<br />
- <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b"><span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Vật chất</span></span> là thực thể đang tồn tại có khối lượng.<br />
<br />
- <span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Khối lượng</span></span> là đại lượng mà con người dùng để lượng hóa Vật chất và là sự biểu hiện của Vật chất đối với con người.<br />
<br />
- <span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Zezro</span></span> là thực thể đang tồn tại không khối lượng nói chính xác hơn là chưa và sẽ có khối lượng ở một trạng thái khác do vận động quyết định, lúc này trạng thái của nó không còn là Zezro nữa mà chính là Vật chất.<br />
<br />
- <span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Năng lượng </span></span>là đại lượng mà con người dùng để lượng hóa Zezro và là sự biểu hiện của Zezro đối với con người.<br />
<br />
- <span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Thể cơ bản</span></span> là thực thể không thể phân chia, tách rời.<br />
<br />
- <span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Hệ thống nhỏ</span></span> là thực thể bao gồm các thể cơ bản và có sự thống nhất trong một tương tác tổng thể ứng với một hệ quy chiếu xác định.<br />
<br />
- <span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Hệ thống lớn</span></span> là thực thể bao gồm các hệ thống nhỏ và có sự thống nhất trong một tương tác tổng thể ứng với một hệ quy chiếu xác định.<br />
<br />
- <span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Đối tượng</span></span> là thực thể tồn tại bất kỳ bao gồm: Thể cơ bản, Hệ thống nhỏ và Hệ thống lớn.<br />
<br />
- <span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Vận động của một đối tượng</span></span> là trạng thái di chuyển của đối tượng đó bao gồm các thuộc tính về vận tốc (tốc độ và hướng) + quỹ đạo di chuyển (tương tác tổng thể).<br />
<br />
- <span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Thay đổi của một hệ thống</span></span> là sự lựa chọn thay thế (của con người/tự nhiên) một/nhiều đối tượng trong một hệ thống hoặc tác động (của con người/tự nhiên) làm sai khác trạng thái vận động của một/nhiều đối tượng trong một hệ thống &gt; sinh ra trạng thái vận động mới của hệ thống đó hoặc có thể dẫn đến hình thành hệ thống mới hoàn toàn.<br />
<br />
_ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ <br />
<br />
Hai vấn đề lớn nhất, bao trùm tất cả mà con người thường xuyên nghĩ đến nhưng chưa có câu trả lời thống nhất là:<br />
<br />
<span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">1. Bản chất của vũ trụ?  </span></span><br />
Nếu giải mã được vấn đề này thì con người sẽ trả lời được hàng loạt câu hỏi lớn khác: <br />
Vũ trụ sinh ra từ đâu? Vũ trụ hữu hạn hay vô hạn?<br />
Có mối liên hệ thống nhất nào giữa khoa học, tôn giáo?<br />
Có sự thống nhất nào ngay trong chính nội tại của khoa học giữa khoa học vi mô (khoa học thực nghiệm) và khoa học vĩ mô (triết học)? <br />
Có sự thống nhất nào ngay trong nội tại của các tôn giáo? Từ đó, các tôn giáo hiện tại có thể thống nhất về một hệ tư tưởng gốc?<br />
Việc kết nối tất cả mấu chốt quan trọng nhất của vũ trụ tạo thành một hệ thống tư tưởng xuyên suốt như một “bổ đề” ở cấp độ vĩ mô và cao nhất.<br />
<br />
<span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">2. Bản chất của con người? </span></span><br />
Nếu trả lời được câu hỏi này, ta cũng sẽ giải thích được hàng loạt vấn đề về con người (tâm lý, hành vi, hạnh phúc và khổ đau, linh hồn – thể xác)? sự hình thành xã hội loài người? vai trò và vị trí của con người trong thế giới, trong vũ trụ?<br />
Two Side sẽ giải quyết tuần tự toàn bộ những vấn đề tôi đã đặt ra ở trên. <br />
<br />
<span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Two Side là tư tưởng triết học (khoa học vĩ mô) bao gồm các nền tảng chính sau:</span></span><br />
<br />
- Đưa ra khái niệm mới về Zezro và Vật chất với biểu hiện và được con người lượng hóa thông qua Năng lượng – Zezro và Khối lượng – Vật chất, đưa 2 đối tượng trong 1 này là cơ sở cấu thành nên toàn bộ vũ trụ.<br />
<br />
- Bác bỏ sự tồn tại của "Không tuyệt đối - Trống rỗng" và đưa Zezro thay thế vào vị trí đó.<br />
<br />
- Zezro và vũ trụ là 1 bản thể duy nhất - vô hạn.<br />
<br />
- Lý giải về không - thời gian trong mô hình.<br />
<br />
- Zezro sinh ra toàn bộ các trạng thái trong vũ trụ và cột mốc quan trọng nhất chính là 1 phần Zezro chuyển hóa sang Vật chất hay nói cách khác Năng lượng chuyển hóa thành Khối lượng.<br />
<br />
- Vận động quyết định đến sự hình thành các trạng thái của Zezro - Vật chất trong vũ trụ.<br />
<br />
- Khẳng định thuyết về Big Bang và các thuyết khác lý giải sự hình thành - phát triển của vật chất chỉ lý giải được 1/2 về sự hình thành và phát triển của vũ trụ. Thông qua đó, cho thấy con người đang nghiên cứu và đưa ra những học thuyết chỉ phù hợp với phạm vi vũ trụ nhỏ (hình thành sau Big Bang và nghiên về trạng thái vật chất) và trong vũ trụ lớn - vô hạn chứa vô số vũ trụ nhỏ như vậy.<br />
<br />
- Liên kết các vấn đề lớn tưởng chừng như đối lập: Triết học (khoa học vĩ mô) với Khoa học thực nghiệm (khoa học vi mô), Tôn giáo với vs Khoa học, Tôn giáo với  Tôn giáo, Tâm linh với Khoa học.<br />
<br />
- Bản chất con người và linh hồn…<br />
<br />
Mọi người hãy nhìn bức tranh Two Side 1 cách tổng thể nhất sẽ thấy được nét đẹp của nó và ý nghĩa thực sự. Nếu ai đó chỉ nhìn ở 1 khía cạnh (có thể chính là những hiện tượng, vấn đề được đưa vào kiểm chứng) thì sẽ không thấy được những cái mới lạ và càng khó hình dung. <br />
<br />
Nhưng điều cơ bản mà mọi người dễ nhận thấy nhất chính là khi ta đưa những vấn đề tưởng chừng như đã cũ vào mô hình Two Side, nó vẫn không mất đi giá trị đúng đắn của từng vấn đề riêng lẻ và điểm đặc biệt nhất chính là những vấn đề tưởng chừng như đối lập khi đứng riêng này nó lại phù hợp và có mối tương quan kỳ lạ trong mô hình Two Side mà các lý thuyết khác không có được.<br />
<br />
Two Side là mô hình mang tính định hướng với nhiều quy luật cơ bản được đưa ra chứ không phải đi vào chi tiết từng vấn đề (theo chiều rộng và không theo chiều sâu). Nhưng dựa vào những quy luật cơ bản đó, chúng ta có thể đưa ra những mô hình dự báo và ứng dụng vào những hệ qui chiếu đơn lẻ để giải thích gốc rễ các hiện tượng, vấn đề. Hoặc mở ra 1 hướng nghiên cứu mới với những nền tảng tư duy mới về các vấn đề trong vũ trụ.<br />
<br />
Two Side không chấp nhận đưa vào các thuyết khác (thuộc về lý giải bản chất) vì chưa biết đúng hay sai như thế nào? Nhưng trước tiên, chúng ta nhận thấy rất rõ kết quả từ các thuyết đó: 1. Chỉ đúng trong 1 phạm vi nhất định. 2. Không thể giải quyết được tổng quát các vấn đề lớn trong vũ trụ và dẫn đến bế tắc. <br />
<br />
Nhưng những thuyết này đều có 1 giá trị nhất định tùy phạm vi và cấp độ mà chúng lý giải phù hợp với loại quy luật (trang 12).<br />
<br />
Niềm tin của con người có 2 hướng:<br />
1.Tin vào những gì đã biết &gt; Khoa học. 2.Tin vào những gì chưa biết &gt; Tôn giáo.<br />
Nhưng rồi 1 ngày nào đó, khoa học lại cho con người biết được nhiều hơn...nhiều hơn...và rồi con người nhận thấy sự tương đồng kỳ lạ ở những triết lý ẩn chứa về vũ trụ của các tôn giáo<br />
&gt; Có 1 sợi dây liên kết nào đó trong vũ trụ giữa tất cả vấn đề tưởng chừng như rời rạc và mâu thuẫn. Vậy phải mất bao lâu để Khoa học biết nhiều đến thế nếu Tôn giáo vẫn đứng nguyên kiêu ngạo và tự cho mình là bí ẩn, bất khả tri?<br />
<br />
Để thúc đẩy tiến trình thống nhất đó, Tôn giáo phải quy nạp về các gốc rễ cuối cùng, phải đưa gần mọi thứ hơn đến sự hợp lý. Tôn giáo và Khoa học phải tự tiến về cùng 1 hướng nhìn là vũ trụ, giải quyết các vấn đề của Vũ trụ. Khi đó niềm tin sẽ khác đi hoàn toàn, tin vào những gì đã biết (đã được chứng minh) và tin vào những gì chưa biết nhưng có cơ sở thực sự chứ không phải bằng niềm tin mù quáng, mặc định - không được xét và chạm đến.<br />
<br />
Nếu có những cách hiểu Khoa học từ Tôn giáo hoặc ngược lại thì sẽ thống nhất được các tư tưởng chung và nhiều bí ẩn mà con người chưa lý giải được sẽ được làm sáng tỏ. <br />
<br />
Mâu thuẫn giữa Khoa học – Tôn giáo hoặc giữa các Tôn giáo có thực sự tốt cho thế giới này?<br />
<br />
Vũ trụ này đa diện và đủ chỗ để mỗi người nhìn ngắm nó theo cách của mình. Cách thức nhìn ngắm của tôi là tạo sợi dây liên kết các vấn đề lớn đang hoàn toàn tách biệt hoặc mâu thuẫn để đi đến một sự thống nhất chung. Và kết quả không đưa con người theo hướng xấu đi trong tư duy và hành động - có thể nói là tốt hơn.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">"Xã hội loài người hình thành bởi tư tưởng, vận hành bởi tư tưởng và thay đổi bởi tư tưởng"</span><br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">WEBSITE CÁ NHÂN:</span> <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">doquangsang.com</span><br />
<br />
Link Full + Video và trao đổi, phản biện với cộng đồng: <br />
tinhte.vn/threads/quan-diem-moi-ve-vu-tru-ton-giao-con-nguoi.2159137/<br />
<br />
Link tác phẩm trọn bộ: dropbox.com/s/r83y12gf2sn2i3o/TWO%20SIDE%20%28V%29.pdf<br />
<br />
Như Albert Einstein đã từng nói: "<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Học thuyết là thứ mà không ai tin vào, trừ người tạo ra nó. Thí nghiệm là thứ mà ai cũng tin vào, trừ người tạo ra nó</span>."<br />
<br />
Những gì quá mới mẻ và xa lạ thường khó được mọi người chấp nhận ngay, nhất là các lý thuyết thuộc về triết học với tính trừu tượng vốn có. Nhưng tôi vẫn xây dựng ngôi nhà của mình bằng niềm đam mê bất tận và hi vọng truyền được phần nào niềm đam mê đó đến mọi người. <br />
<br />
Vì đây là cuốn sách free cho cộng đồng nên tôi mạo muội đưa vào phần thảo luận với mọi người (nhưng chỉ ghi là đọc giả thôi, không ghi tên - vẫn giữ nguyên nội dung vì tôn trọng sự thật). Nếu bạn nào cảm thấy không thích thì cứ nói, tôi sẽ loại bỏ ngay. Vì tôi nghĩ cuốn sách này không chỉ là công sức của riêng tôi mà cũng là của chính các bạn đã dành thời gian đóng góp.<br />
<br />
Do đây là tác phẩm đầu tay và tôi nhận thấy còn thiếu một người thầy dẫn dắt thật sự nên việc trình bày không tránh những sai xót, nhất là về phần nội dung.<br />
<br />
Qua đây, tôi cũng mong nhận được những phản hồi, góp ý tiếp theo từ mọi người để tôi có thể hoàn thiện tốt hơn tác phẩm trong phiên bản sau.<br />
<br />
Xin chân thành cảm ơn!<br />
<br />
<br />
Đỗ Quang Sang<br />
<br />
_ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ <br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">MỤC LỤC SÁCH</span><br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">+ LỜI NÓI ĐẦU (3)<br />
+ KHÁI NIỆM CẦN CHÚ Ý TRONG TWO SIDE (5)<br />
+ GIỚI THIỆU NỘI DUNG (6)<br />
+ VŨ TRỤ (10)<br />
- Vận động (19)<br />
- Không – Thời gian (22)<br />
- Sơ đồ phân bố tính bền của Zezro và Vật chất (25)<br />
+ TÔN GIÁO (26)<br />
+ CON NGƯỜI (31)<br />
- Thiên đàng và Địa ngục (36)<br />
- Linh hồn (37)<br />
- Vai trò và ý nghĩa của Con người trong vũ trụ (40)<br />
- Con người đang làm gì? (43)<br />
+ CHIA SẺ NGOÀI (45)<br />
+ THẢO LUẬN VÀ PHẢN BIỆN (53)</span><br />
<br />
_ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ <br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">KHÁI NIỆM CẦN CHÚ Ý TRONG TWO SIDE</span><br />
<br />
- <span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Thực thể</span></span> là trạng thái có thực đã và đang tồn tại.<br />
<br />
- <span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Vũ trụ </span></span>là thực thể đang tồn tại được cấu thành bởi Zezro và Vật Chất.<br />
<br />
- <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b"><span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Vật chất</span></span> là thực thể đang tồn tại có khối lượng.<br />
<br />
- <span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Khối lượng</span></span> là đại lượng mà con người dùng để lượng hóa Vật chất và là sự biểu hiện của Vật chất đối với con người.<br />
<br />
- <span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Zezro</span></span> là thực thể đang tồn tại không khối lượng nói chính xác hơn là chưa và sẽ có khối lượng ở một trạng thái khác do vận động quyết định, lúc này trạng thái của nó không còn là Zezro nữa mà chính là Vật chất.<br />
<br />
- <span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Năng lượng </span></span>là đại lượng mà con người dùng để lượng hóa Zezro và là sự biểu hiện của Zezro đối với con người.<br />
<br />
- <span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Thể cơ bản</span></span> là thực thể không thể phân chia, tách rời.<br />
<br />
- <span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Hệ thống nhỏ</span></span> là thực thể bao gồm các thể cơ bản và có sự thống nhất trong một tương tác tổng thể ứng với một hệ quy chiếu xác định.<br />
<br />
- <span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Hệ thống lớn</span></span> là thực thể bao gồm các hệ thống nhỏ và có sự thống nhất trong một tương tác tổng thể ứng với một hệ quy chiếu xác định.<br />
<br />
- <span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Đối tượng</span></span> là thực thể tồn tại bất kỳ bao gồm: Thể cơ bản, Hệ thống nhỏ và Hệ thống lớn.<br />
<br />
- <span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Vận động của một đối tượng</span></span> là trạng thái di chuyển của đối tượng đó bao gồm các thuộc tính về vận tốc (tốc độ và hướng) + quỹ đạo di chuyển (tương tác tổng thể).<br />
<br />
- <span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Thay đổi của một hệ thống</span></span> là sự lựa chọn thay thế (của con người/tự nhiên) một/nhiều đối tượng trong một hệ thống hoặc tác động (của con người/tự nhiên) làm sai khác trạng thái vận động của một/nhiều đối tượng trong một hệ thống &gt; sinh ra trạng thái vận động mới của hệ thống đó hoặc có thể dẫn đến hình thành hệ thống mới hoàn toàn.<br />
<br />
_ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ <br />
<br />
Hai vấn đề lớn nhất, bao trùm tất cả mà con người thường xuyên nghĩ đến nhưng chưa có câu trả lời thống nhất là:<br />
<br />
<span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">1. Bản chất của vũ trụ?  </span></span><br />
Nếu giải mã được vấn đề này thì con người sẽ trả lời được hàng loạt câu hỏi lớn khác: <br />
Vũ trụ sinh ra từ đâu? Vũ trụ hữu hạn hay vô hạn?<br />
Có mối liên hệ thống nhất nào giữa khoa học, tôn giáo?<br />
Có sự thống nhất nào ngay trong chính nội tại của khoa học giữa khoa học vi mô (khoa học thực nghiệm) và khoa học vĩ mô (triết học)? <br />
Có sự thống nhất nào ngay trong nội tại của các tôn giáo? Từ đó, các tôn giáo hiện tại có thể thống nhất về một hệ tư tưởng gốc?<br />
Việc kết nối tất cả mấu chốt quan trọng nhất của vũ trụ tạo thành một hệ thống tư tưởng xuyên suốt như một “bổ đề” ở cấp độ vĩ mô và cao nhất.<br />
<br />
<span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">2. Bản chất của con người? </span></span><br />
Nếu trả lời được câu hỏi này, ta cũng sẽ giải thích được hàng loạt vấn đề về con người (tâm lý, hành vi, hạnh phúc và khổ đau, linh hồn – thể xác)? sự hình thành xã hội loài người? vai trò và vị trí của con người trong thế giới, trong vũ trụ?<br />
Two Side sẽ giải quyết tuần tự toàn bộ những vấn đề tôi đã đặt ra ở trên. <br />
<br />
<span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Two Side là tư tưởng triết học (khoa học vĩ mô) bao gồm các nền tảng chính sau:</span></span><br />
<br />
- Đưa ra khái niệm mới về Zezro và Vật chất với biểu hiện và được con người lượng hóa thông qua Năng lượng – Zezro và Khối lượng – Vật chất, đưa 2 đối tượng trong 1 này là cơ sở cấu thành nên toàn bộ vũ trụ.<br />
<br />
- Bác bỏ sự tồn tại của "Không tuyệt đối - Trống rỗng" và đưa Zezro thay thế vào vị trí đó.<br />
<br />
- Zezro và vũ trụ là 1 bản thể duy nhất - vô hạn.<br />
<br />
- Lý giải về không - thời gian trong mô hình.<br />
<br />
- Zezro sinh ra toàn bộ các trạng thái trong vũ trụ và cột mốc quan trọng nhất chính là 1 phần Zezro chuyển hóa sang Vật chất hay nói cách khác Năng lượng chuyển hóa thành Khối lượng.<br />
<br />
- Vận động quyết định đến sự hình thành các trạng thái của Zezro - Vật chất trong vũ trụ.<br />
<br />
- Khẳng định thuyết về Big Bang và các thuyết khác lý giải sự hình thành - phát triển của vật chất chỉ lý giải được 1/2 về sự hình thành và phát triển của vũ trụ. Thông qua đó, cho thấy con người đang nghiên cứu và đưa ra những học thuyết chỉ phù hợp với phạm vi vũ trụ nhỏ (hình thành sau Big Bang và nghiên về trạng thái vật chất) và trong vũ trụ lớn - vô hạn chứa vô số vũ trụ nhỏ như vậy.<br />
<br />
- Liên kết các vấn đề lớn tưởng chừng như đối lập: Triết học (khoa học vĩ mô) với Khoa học thực nghiệm (khoa học vi mô), Tôn giáo với vs Khoa học, Tôn giáo với  Tôn giáo, Tâm linh với Khoa học.<br />
<br />
- Bản chất con người và linh hồn…<br />
<br />
Mọi người hãy nhìn bức tranh Two Side 1 cách tổng thể nhất sẽ thấy được nét đẹp của nó và ý nghĩa thực sự. Nếu ai đó chỉ nhìn ở 1 khía cạnh (có thể chính là những hiện tượng, vấn đề được đưa vào kiểm chứng) thì sẽ không thấy được những cái mới lạ và càng khó hình dung. <br />
<br />
Nhưng điều cơ bản mà mọi người dễ nhận thấy nhất chính là khi ta đưa những vấn đề tưởng chừng như đã cũ vào mô hình Two Side, nó vẫn không mất đi giá trị đúng đắn của từng vấn đề riêng lẻ và điểm đặc biệt nhất chính là những vấn đề tưởng chừng như đối lập khi đứng riêng này nó lại phù hợp và có mối tương quan kỳ lạ trong mô hình Two Side mà các lý thuyết khác không có được.<br />
<br />
Two Side là mô hình mang tính định hướng với nhiều quy luật cơ bản được đưa ra chứ không phải đi vào chi tiết từng vấn đề (theo chiều rộng và không theo chiều sâu). Nhưng dựa vào những quy luật cơ bản đó, chúng ta có thể đưa ra những mô hình dự báo và ứng dụng vào những hệ qui chiếu đơn lẻ để giải thích gốc rễ các hiện tượng, vấn đề. Hoặc mở ra 1 hướng nghiên cứu mới với những nền tảng tư duy mới về các vấn đề trong vũ trụ.<br />
<br />
Two Side không chấp nhận đưa vào các thuyết khác (thuộc về lý giải bản chất) vì chưa biết đúng hay sai như thế nào? Nhưng trước tiên, chúng ta nhận thấy rất rõ kết quả từ các thuyết đó: 1. Chỉ đúng trong 1 phạm vi nhất định. 2. Không thể giải quyết được tổng quát các vấn đề lớn trong vũ trụ và dẫn đến bế tắc. <br />
<br />
Nhưng những thuyết này đều có 1 giá trị nhất định tùy phạm vi và cấp độ mà chúng lý giải phù hợp với loại quy luật (trang 12).<br />
<br />
Niềm tin của con người có 2 hướng:<br />
1.Tin vào những gì đã biết &gt; Khoa học. 2.Tin vào những gì chưa biết &gt; Tôn giáo.<br />
Nhưng rồi 1 ngày nào đó, khoa học lại cho con người biết được nhiều hơn...nhiều hơn...và rồi con người nhận thấy sự tương đồng kỳ lạ ở những triết lý ẩn chứa về vũ trụ của các tôn giáo<br />
&gt; Có 1 sợi dây liên kết nào đó trong vũ trụ giữa tất cả vấn đề tưởng chừng như rời rạc và mâu thuẫn. Vậy phải mất bao lâu để Khoa học biết nhiều đến thế nếu Tôn giáo vẫn đứng nguyên kiêu ngạo và tự cho mình là bí ẩn, bất khả tri?<br />
<br />
Để thúc đẩy tiến trình thống nhất đó, Tôn giáo phải quy nạp về các gốc rễ cuối cùng, phải đưa gần mọi thứ hơn đến sự hợp lý. Tôn giáo và Khoa học phải tự tiến về cùng 1 hướng nhìn là vũ trụ, giải quyết các vấn đề của Vũ trụ. Khi đó niềm tin sẽ khác đi hoàn toàn, tin vào những gì đã biết (đã được chứng minh) và tin vào những gì chưa biết nhưng có cơ sở thực sự chứ không phải bằng niềm tin mù quáng, mặc định - không được xét và chạm đến.<br />
<br />
Nếu có những cách hiểu Khoa học từ Tôn giáo hoặc ngược lại thì sẽ thống nhất được các tư tưởng chung và nhiều bí ẩn mà con người chưa lý giải được sẽ được làm sáng tỏ. <br />
<br />
Mâu thuẫn giữa Khoa học – Tôn giáo hoặc giữa các Tôn giáo có thực sự tốt cho thế giới này?<br />
<br />
Vũ trụ này đa diện và đủ chỗ để mỗi người nhìn ngắm nó theo cách của mình. Cách thức nhìn ngắm của tôi là tạo sợi dây liên kết các vấn đề lớn đang hoàn toàn tách biệt hoặc mâu thuẫn để đi đến một sự thống nhất chung. Và kết quả không đưa con người theo hướng xấu đi trong tư duy và hành động - có thể nói là tốt hơn.]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[30 Cách phân biệt đàn ông giàu và nghèo]]></title>
			<link>https://uhm.vn/forum/Thread-30-C%C3%A1ch-ph%C3%A2n-bi%E1%BB%87t-%C4%91%C3%A0n-%C3%B4ng-gi%C3%A0u-v%C3%A0-ngh%C3%A8o</link>
			<pubDate>Sat, 09 Nov 2013 18:09:20 +0700</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://uhm.vn/forum/member.php?action=profile&uid=3203">MaFiaKing2000</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://uhm.vn/forum/Thread-30-C%C3%A1ch-ph%C3%A2n-bi%E1%BB%87t-%C4%91%C3%A0n-%C3%B4ng-gi%C3%A0u-v%C3%A0-ngh%C3%A8o</guid>
			<description><![CDATA[1.Đàn ông giàu hay nói tới đi chơi. Đàn ông nghèo hay nói tới công việc.  <br />
2. Đàn ông giàu ăn mặc theo sở thích của mình. Đàn ông nghèo ăn mặc theo sở thích của người xung quanh hoặc theo quy định. <br />
<br />
3. Đàn ông nghèo dẫn bạn gái vào tiệm sang trọng. Đàn ông giàu dẫn vào tiệm kín đáo.<br />
 4. Đàn ông nghèo hay mang tiền trong túi. Đàn ông giàu mang thẻ tín dụng. Đàn ông cực giàu chả mang gì hết.<br />
 5. Đàn ông nghèo hay nói về tài sản. Đàn ông giàu hay nói về các dự định.<br />
 6. Đàn ông giàu tặng quà theo cảm hứng. Đàn ông nghèo tặng quà theo những ngày quy định trong năm. Đàn ông giàu hay nói tới đi chơi. Đàn ông nghèo hay nói tới công việc (Ảnh minh họa).<br />
 7. Đàn ông nghèo nhiều bạn bè. Đàn ông giàu nhiều cấp dưới. <br />
8. Đàn ông giàu thường già. Đàn ông nghèo thường trẻ. Nếu quá trẻ mà giàu thì đấy chỉ là con của đàn ông giàu. <br />
9. Đàn ông nghèo hay kể về những cô gái anh ấy ghét. Đàn ông giàu hay kể về những cô gái anh ấy yêu. 10. Đàn ông giàu bước ra khỏi xe hơi là đi thẳng. Đàn ông nghèo bước ra là nhìn chung quanh.<br />
 11. Đàn ông nghèo hay kể về những nơi đã đi qua. Đàn ông giàu hay kể về những người đã gặp. <br />
12. Đàn ông nghèo hay đeo dây chuyền và nhẫn vàng. Đàn ông giàu chả có gì hết. <br />
13. Dẫn bạn gái vào cửa hàng, đàn ông giàu thả đó rồi đi. Đàn ông nghèo luôn luôn muốn đi kèm. <br />
14. Nếu bạn đòi đi thi hoa hậu, đàn ông nghèo sẽ can và nói: “Em không đậu đâu”, còn đàn ông giàu cũng can và nói: “Em đậu để làm gì?”. <br />
15. Đến nhà bạn gái, đàn ông nghèo nhìn đồ đạc trong phòng. Đàn ông giàu nhìn tranh ảnh trên tường. <br />
16. Mới gặp nhau, đàn ông nghèo hỏi: “Em làm nghề gì?”. Đàn ông giàu hỏi: “Em định không làm nghề gì?”. 17. Kể về thời thơ ấu, đàn ông nghèo hay nói: “Ngày xưa anh khổ”. Còn đàn ông giàu hay nói: “Ngày xưa anh chả biết gì”.<br />
 18. Khi bị mất cắp, đàn ông nghèo nói: “Của đi thay người”. Còn đàn ông giàu nói: “Thôi cho chúng nó”.<br />
 19. Vô khách sạn, đàn ông nghèo quan tâm tới những gì trong phòng. Đàn ông giàu quan tâm những gì ngoài cửa sổ.<br />
 20. Gặp bọn cướp, đàn ông giàu đưa tiền, đàn ông nghèo chiến đấu dũng cảm.<br />
 21. Đàn ông nghèo giáo dục con cái quan tâm tới học hành. Đàn ông giàu giáo dục con cái quan tâm tới giao tiếp. <br />
22. Đàn ông nghèo uống rượu theo nhãn hiệu. Đàn ông giàu uống rượu theo năm.<br />
 23. Đàn ông nghèo khoe bạn giàu. Đàn ông giàu khoe bạn nghèo. <br />
24. Đàn ông nghèo nói: “Xa em là anh chết”. Đàn ông giàu nói: “Xa em anh sẽ sống khác đi”.<br />
 25. Dự hội nghị, đàn ông nghèo quan tâm lãnh đạo nói gì. Đàn ông giàu quan tâm ai là lãnh đạo.<br />
 26. Đàn ông nghèo mua tặng bố mẹ vợ thuốc bổ. Đàn ông giàu mua tặng vé đi du lịch.<br />
 27. Đàn ông nghèo da trắng trẻo. Đàn ông giàu da rám nắng.<br />
 28. Đàn ông nghèo đọc xem báo chí viết gì. Đàn ông giàu đọc xem báo chí không viết gì. <br />
29. Đàn ông nghèo hứa: “Yêu em cho đến chết”. Đàn ông giàu hứa: “Yêu em cho đến hết yêu”.<br />
<br />
 30. Đi bên em, đàn ông nghèo nắm tay. Đàn ông giàu khoác vai.<br />
<br />
Trên mạng xã hội, chủ đề này nhận được hàng trăm lượt bình luận. Nhiều người đều xem đây là một bài viết vui vui. Thành viên Atrong Nguyễn bình luận: “30 điều nên đọc cho vui, không nên áp dụng trong mọi trường hợp. Có phải ai giàu, ai nghèo cũng đúng như thế này đâu. Còn mình, nếu cứ chiếu theo những điều trong này thì được xếp vào dạng nghèo rớt mồng tơi rồi”. Thành viên Nhat Vo còn hóm hỉnh bổ sung thêm điều 31: “Đàn ông giàu hay đi với chân dài, đàn ông nghèo đi với… bà già đại gia”<br />
<img src="https://uhm.vn/forum/images/smilies/biggrin.png" alt="Big Grin" title="Big Grin" class="smilie smilie_4" /><img src="https://uhm.vn/forum/images/smilies/biggrin.png" alt="Big Grin" title="Big Grin" class="smilie smilie_4" /><img src="https://uhm.vn/forum/images/smilies/biggrin.png" alt="Big Grin" title="Big Grin" class="smilie smilie_4" /><img src="https://uhm.vn/forum/images/smilies/biggrin.png" alt="Big Grin" title="Big Grin" class="smilie smilie_4" /><img src="https://uhm.vn/forum/images/smilies/biggrin.png" alt="Big Grin" title="Big Grin" class="smilie smilie_4" /><img src="https://uhm.vn/forum/images/smilies/biggrin.png" alt="Big Grin" title="Big Grin" class="smilie smilie_4" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[1.Đàn ông giàu hay nói tới đi chơi. Đàn ông nghèo hay nói tới công việc.  <br />
2. Đàn ông giàu ăn mặc theo sở thích của mình. Đàn ông nghèo ăn mặc theo sở thích của người xung quanh hoặc theo quy định. <br />
<br />
3. Đàn ông nghèo dẫn bạn gái vào tiệm sang trọng. Đàn ông giàu dẫn vào tiệm kín đáo.<br />
 4. Đàn ông nghèo hay mang tiền trong túi. Đàn ông giàu mang thẻ tín dụng. Đàn ông cực giàu chả mang gì hết.<br />
 5. Đàn ông nghèo hay nói về tài sản. Đàn ông giàu hay nói về các dự định.<br />
 6. Đàn ông giàu tặng quà theo cảm hứng. Đàn ông nghèo tặng quà theo những ngày quy định trong năm. Đàn ông giàu hay nói tới đi chơi. Đàn ông nghèo hay nói tới công việc (Ảnh minh họa).<br />
 7. Đàn ông nghèo nhiều bạn bè. Đàn ông giàu nhiều cấp dưới. <br />
8. Đàn ông giàu thường già. Đàn ông nghèo thường trẻ. Nếu quá trẻ mà giàu thì đấy chỉ là con của đàn ông giàu. <br />
9. Đàn ông nghèo hay kể về những cô gái anh ấy ghét. Đàn ông giàu hay kể về những cô gái anh ấy yêu. 10. Đàn ông giàu bước ra khỏi xe hơi là đi thẳng. Đàn ông nghèo bước ra là nhìn chung quanh.<br />
 11. Đàn ông nghèo hay kể về những nơi đã đi qua. Đàn ông giàu hay kể về những người đã gặp. <br />
12. Đàn ông nghèo hay đeo dây chuyền và nhẫn vàng. Đàn ông giàu chả có gì hết. <br />
13. Dẫn bạn gái vào cửa hàng, đàn ông giàu thả đó rồi đi. Đàn ông nghèo luôn luôn muốn đi kèm. <br />
14. Nếu bạn đòi đi thi hoa hậu, đàn ông nghèo sẽ can và nói: “Em không đậu đâu”, còn đàn ông giàu cũng can và nói: “Em đậu để làm gì?”. <br />
15. Đến nhà bạn gái, đàn ông nghèo nhìn đồ đạc trong phòng. Đàn ông giàu nhìn tranh ảnh trên tường. <br />
16. Mới gặp nhau, đàn ông nghèo hỏi: “Em làm nghề gì?”. Đàn ông giàu hỏi: “Em định không làm nghề gì?”. 17. Kể về thời thơ ấu, đàn ông nghèo hay nói: “Ngày xưa anh khổ”. Còn đàn ông giàu hay nói: “Ngày xưa anh chả biết gì”.<br />
 18. Khi bị mất cắp, đàn ông nghèo nói: “Của đi thay người”. Còn đàn ông giàu nói: “Thôi cho chúng nó”.<br />
 19. Vô khách sạn, đàn ông nghèo quan tâm tới những gì trong phòng. Đàn ông giàu quan tâm những gì ngoài cửa sổ.<br />
 20. Gặp bọn cướp, đàn ông giàu đưa tiền, đàn ông nghèo chiến đấu dũng cảm.<br />
 21. Đàn ông nghèo giáo dục con cái quan tâm tới học hành. Đàn ông giàu giáo dục con cái quan tâm tới giao tiếp. <br />
22. Đàn ông nghèo uống rượu theo nhãn hiệu. Đàn ông giàu uống rượu theo năm.<br />
 23. Đàn ông nghèo khoe bạn giàu. Đàn ông giàu khoe bạn nghèo. <br />
24. Đàn ông nghèo nói: “Xa em là anh chết”. Đàn ông giàu nói: “Xa em anh sẽ sống khác đi”.<br />
 25. Dự hội nghị, đàn ông nghèo quan tâm lãnh đạo nói gì. Đàn ông giàu quan tâm ai là lãnh đạo.<br />
 26. Đàn ông nghèo mua tặng bố mẹ vợ thuốc bổ. Đàn ông giàu mua tặng vé đi du lịch.<br />
 27. Đàn ông nghèo da trắng trẻo. Đàn ông giàu da rám nắng.<br />
 28. Đàn ông nghèo đọc xem báo chí viết gì. Đàn ông giàu đọc xem báo chí không viết gì. <br />
29. Đàn ông nghèo hứa: “Yêu em cho đến chết”. Đàn ông giàu hứa: “Yêu em cho đến hết yêu”.<br />
<br />
 30. Đi bên em, đàn ông nghèo nắm tay. Đàn ông giàu khoác vai.<br />
<br />
Trên mạng xã hội, chủ đề này nhận được hàng trăm lượt bình luận. Nhiều người đều xem đây là một bài viết vui vui. Thành viên Atrong Nguyễn bình luận: “30 điều nên đọc cho vui, không nên áp dụng trong mọi trường hợp. Có phải ai giàu, ai nghèo cũng đúng như thế này đâu. Còn mình, nếu cứ chiếu theo những điều trong này thì được xếp vào dạng nghèo rớt mồng tơi rồi”. Thành viên Nhat Vo còn hóm hỉnh bổ sung thêm điều 31: “Đàn ông giàu hay đi với chân dài, đàn ông nghèo đi với… bà già đại gia”<br />
<img src="https://uhm.vn/forum/images/smilies/biggrin.png" alt="Big Grin" title="Big Grin" class="smilie smilie_4" /><img src="https://uhm.vn/forum/images/smilies/biggrin.png" alt="Big Grin" title="Big Grin" class="smilie smilie_4" /><img src="https://uhm.vn/forum/images/smilies/biggrin.png" alt="Big Grin" title="Big Grin" class="smilie smilie_4" /><img src="https://uhm.vn/forum/images/smilies/biggrin.png" alt="Big Grin" title="Big Grin" class="smilie smilie_4" /><img src="https://uhm.vn/forum/images/smilies/biggrin.png" alt="Big Grin" title="Big Grin" class="smilie smilie_4" /><img src="https://uhm.vn/forum/images/smilies/biggrin.png" alt="Big Grin" title="Big Grin" class="smilie smilie_4" />]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[triết học]]></title>
			<link>https://uhm.vn/forum/Thread-tri%E1%BA%BFt-h%E1%BB%8Dc</link>
			<pubDate>Tue, 08 Oct 2013 16:32:37 +0700</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://uhm.vn/forum/member.php?action=profile&uid=156168">luffylovenami</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://uhm.vn/forum/Thread-tri%E1%BA%BFt-h%E1%BB%8Dc</guid>
			<description><![CDATA[bạn nào giúp mình với.,mình sắp phải làm bài thuyế trình về câu nói <br />
“Nếu ai làm việc gì đó nhiều nhất cho nhân loại thì hạnh phúc của người đó thuộc về hàng triệu người” (C.Mác).<br />
nhưng không biết phải làm như thế nào.bạn nào biết thì giúp mình với nha,thứ 5 mình làm mà giờ chưa biết phải bắt đầu từ đâu nữa. Thân]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[bạn nào giúp mình với.,mình sắp phải làm bài thuyế trình về câu nói <br />
“Nếu ai làm việc gì đó nhiều nhất cho nhân loại thì hạnh phúc của người đó thuộc về hàng triệu người” (C.Mác).<br />
nhưng không biết phải làm như thế nào.bạn nào biết thì giúp mình với nha,thứ 5 mình làm mà giờ chưa biết phải bắt đầu từ đâu nữa. Thân]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Trung Đạo]]></title>
			<link>https://uhm.vn/forum/Thread-Trung-%C4%90%E1%BA%A1o</link>
			<pubDate>Tue, 06 Aug 2013 00:08:36 +0700</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://uhm.vn/forum/member.php?action=profile&uid=69438">phimanh</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://uhm.vn/forum/Thread-Trung-%C4%90%E1%BA%A1o</guid>
			<description><![CDATA[<span style="font-size: 4pt;" class="mycode_size">Trung đạo là con đường đạo đức nhân bản - nhân quả: <span style="color: #ff0000;" class="mycode_color"><span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">"sống không làm khổ mình, khổ người và khổ các loài vạn vật khác."</span></span></span><br />
<br />
Khi  chưa hiểu con đường trung đạo, con người thường hay bị dính mắc vào 2  thái cực của thế giới nhị nguyên: Được hay mất, có hay không, tôn giáo  hay không tôn giáo, tri thức hay không tri thức, chánh hay tà, yêu hận,  thắng thua, đẹp xấu, ngon dở, giàu nghèo, sang hèn, tốt xấu, đúng sai,  phải trái, thượng hạ, nam nữ... Do vậy không tránh khỏi sống trong đau khổ và thường xuyên làm khổ chính mình, khổ người và khổ các loài vật khác.<br />
<br />
Người thường tư duy và hiểu rõ con đường trung đạo, luôn quán xét mọi việc dưới con mắt trí tuệ: <span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">"những việc này có làm khổ mình, khổ người và khổ các loài vật hay không?"</span></span>  Nếu có thì không nói và không làm, nếu không thì nói và làm. Người sống  theo con đường trung đạo là người có trí tuệ. Đức Phật đã nói: "<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Ở đâu có trí tuệ, ở đó có đạo đức, ở đâu có đạo đức, ở đó có trí tuệ"</span><br />
<br />
Chỉ  khi có chánh tư duy như vậy, con người mới biết sống đem niềm vui và  hạnh phúc cho chính mình, mọi người và muôn loài vạn vật khác được.</span><br />
<span style="font-size: 4pt;" class="mycode_size"><br />
</span><br />
<span style="font-size: 4pt;" class="mycode_size">Mời các bạn đọc tiếp các bài sau:</span><br />
<span style="font-size: 4pt;" class="mycode_size">1- <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b"><span style="color: #0000ff;" class="mycode_color"><a href="http://chanhkien-pa.blogspot.com/2010/08/ky-nang-song.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Nghệ thuật sống</a></span></span></span><br />
<span style="font-size: 4pt;" class="mycode_size">2- <a href="http://chanhkien-pa.blogspot.com/2012/06/song-khong-lam-kho-minh.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b"><span style="color: #0000ff;" class="mycode_color">Sống không làm khổ mình</span></span></a></span><br />
<span style="font-size: 4pt;" class="mycode_size">3- <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b"><span style="color: #0000ff;" class="mycode_color"><a href="http://chanhkien-pa.blogspot.com/2010/08/ky-nang-song.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Sống Không làm khổ người khác </a></span></span></span>]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<span style="font-size: 4pt;" class="mycode_size">Trung đạo là con đường đạo đức nhân bản - nhân quả: <span style="color: #ff0000;" class="mycode_color"><span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">"sống không làm khổ mình, khổ người và khổ các loài vạn vật khác."</span></span></span><br />
<br />
Khi  chưa hiểu con đường trung đạo, con người thường hay bị dính mắc vào 2  thái cực của thế giới nhị nguyên: Được hay mất, có hay không, tôn giáo  hay không tôn giáo, tri thức hay không tri thức, chánh hay tà, yêu hận,  thắng thua, đẹp xấu, ngon dở, giàu nghèo, sang hèn, tốt xấu, đúng sai,  phải trái, thượng hạ, nam nữ... Do vậy không tránh khỏi sống trong đau khổ và thường xuyên làm khổ chính mình, khổ người và khổ các loài vật khác.<br />
<br />
Người thường tư duy và hiểu rõ con đường trung đạo, luôn quán xét mọi việc dưới con mắt trí tuệ: <span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">"những việc này có làm khổ mình, khổ người và khổ các loài vật hay không?"</span></span>  Nếu có thì không nói và không làm, nếu không thì nói và làm. Người sống  theo con đường trung đạo là người có trí tuệ. Đức Phật đã nói: "<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Ở đâu có trí tuệ, ở đó có đạo đức, ở đâu có đạo đức, ở đó có trí tuệ"</span><br />
<br />
Chỉ  khi có chánh tư duy như vậy, con người mới biết sống đem niềm vui và  hạnh phúc cho chính mình, mọi người và muôn loài vạn vật khác được.</span><br />
<span style="font-size: 4pt;" class="mycode_size"><br />
</span><br />
<span style="font-size: 4pt;" class="mycode_size">Mời các bạn đọc tiếp các bài sau:</span><br />
<span style="font-size: 4pt;" class="mycode_size">1- <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b"><span style="color: #0000ff;" class="mycode_color"><a href="http://chanhkien-pa.blogspot.com/2010/08/ky-nang-song.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Nghệ thuật sống</a></span></span></span><br />
<span style="font-size: 4pt;" class="mycode_size">2- <a href="http://chanhkien-pa.blogspot.com/2012/06/song-khong-lam-kho-minh.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b"><span style="color: #0000ff;" class="mycode_color">Sống không làm khổ mình</span></span></a></span><br />
<span style="font-size: 4pt;" class="mycode_size">3- <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b"><span style="color: #0000ff;" class="mycode_color"><a href="http://chanhkien-pa.blogspot.com/2010/08/ky-nang-song.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Sống Không làm khổ người khác </a></span></span></span>]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản - Phần II : Những người vô sản và tư sản]]></title>
			<link>https://uhm.vn/forum/Thread-Tuy%C3%AAn-ng%C3%B4n-c%E1%BB%A7a-%C4%90%E1%BA%A3ng-C%E1%BB%99ng-s%E1%BA%A3n-Ph%E1%BA%A7n-II-Nh%E1%BB%AFng-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-v%C3%B4-s%E1%BA%A3n-v%C3%A0-t%C6%B0-s%E1%BA%A3n</link>
			<pubDate>Sun, 30 Oct 2011 11:25:57 +0700</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://uhm.vn/forum/member.php?action=profile&uid=16547">CuBin.Black</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://uhm.vn/forum/Thread-Tuy%C3%AAn-ng%C3%B4n-c%E1%BB%A7a-%C4%90%E1%BA%A3ng-C%E1%BB%99ng-s%E1%BA%A3n-Ph%E1%BA%A7n-II-Nh%E1%BB%AFng-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-v%C3%B4-s%E1%BA%A3n-v%C3%A0-t%C6%B0-s%E1%BA%A3n</guid>
			<description><![CDATA[<div style="text-align: left;" class="mycode_align"><span style="color: #000000;" class="mycode_color"><div style="text-align: right;" class="mycode_align"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Tác giả: K.Marx - F.Engels</span></div>
<br />
<br />
<br />
Quan hệ giữa người cộng sản với những người vô sản nói chung như thế nào? <br />
Những người cộng sản không phải là một đảng riêng biệt, đối lập với các đảng công nhân khác. <br />
Họ tuyệt nhiên không có một lợi ích nào tách khỏi lợi ích của toàn thể giai cấp vô sản. <br />
Họ không đặt ra những nguyên tắc riêng biệt[6] nhằm khuôn phong trào vô sản theo những nguyên tắc ấy. <br />
Những người cộng sản chỉ khác với các đảng vô sản khác trên hai điểm:<br />
+ Một là, trong các cuộc đấu tranh của những người vô sản thuộc các dân tộc khác nhau, họ đặt lên hàng đầu và bảo vệ những lợi ích không phụ thuộc vào dân tộc và chung cho toàn thể giai cấp vô sản;<br />
+ Hai là, trong các giai đoạn khác nhau của cuộc đấu tranh giữa vô sản và tư sản, họ luôn luôn đại biểu cho lợi ích của toàn bộ phong trào. <br />
Vậy là về mặt thực tiễn, những người cộng sản là bộ phận kiên quyết nhất trong các đảng công nhân ở tất cả các nước, là bộ phận luôn luôn thúc đẩy phong trào tiến lên[7] về mặt lý luận, họ hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ là họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào vô sản. <br />
Mục đích trước mắt của những người cộng sản cũng là mục đích trước mắt của tất cả các đảng vô sản khác: tổ chức những người vô sản thành giai cấp, lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, giai cấp vô sản giành lấy chính quyền. <br />
Những quan điểm lý luận của những người cộng sản tuyệt nhiên không dựa trên những ý niệm, những nguyên lý do một nhà cải cách thế giới nào phát minh hay phát hiện ra. <br />
Những nguyên lý ấy chỉ biểu hiện khái quát của những quan hệ thực tại của một cuộc đấu tranh giai cấp hiện có, của một sự vận động lịch sử đang diễn ra trước mắt chúng ta, việc xoá bỏ những quan hệ sở hữu đã tồn tại trước kia không phải là cái gì đặc trưng vốn có của chủ nghĩa cộng sản. <br />
Tất cả những quan hệ sở hữu đã trải qua những thay đổi liên tiếp, những cải biến liên tiếp trong lịch sử. <br />
Chẳng hạn, cách mạng Pháp đã xoá bỏ chế độ sở hữu phong kiến và bênh vực chế độ sở hữu tư sản. <br />
Nhưng chế độ tư hữu tư sản hiện thời, lại là biểu hiện cuối cùng và đầy đủ nhất của phương thức sản xuất và chiếm hữu sản phẩm dựa trên những đối kháng giai cấp, trên cơ sở những người này bóc lột những người kia[8]<br />
Theo ý nghĩa đó, những người cộng sản có thể tóm tắt lý luận của mình thành một luận điểm duy nhất này là: xoá bỏ chế độ tư hữu. <br />
Người ta trách những người cộng sản chúng tôi là muốn xoá bỏ sở hữu do cá nhân mỗi người làm ra, kết quả lao động của cá nhân, sở hữu mà người ta bảo là cơ sở của mọi tự do, mọi hoạt động và mọi sự độc lập của cá nhân. <br />
Cái sở hữu làm ra, kiếm được một cách lương thiện và do lao động của bản thân tạo ra ! Phải chăng người ta muốn nói đến cái hình thức sở hữu có trước sở hữu tư sản, tức là sở hữu của người tiểu tư sản, của người tiểu nông? Chúng tôi có cần gì phải xoá bỏ cái đó, sự phát triển của công nghiệp đã xoá bỏ và hàng ngày vẫn tiếp tục xoá bỏ cái đó rồi. <br />
Hay là người ta muốn nói đến chế độ tư hữu tư sản hiện thời. <br />
Nhưng phải chăng lao động làm thuê, lao động của người vô sản, lại tạo ra sở hữu cho người vô sản? Tuyệt đối không. Nó tạo ra tư bản, tức là cái sở hữu bóc lột lao động làm thuê, cái sở hữu chỉ có thể tăng thêm với điều kiện là phải sản xuất ra lao động làm thuê mới để lại bóc lột lao động làm thuê đó. Trong hình thái hiện tại của nó, sở hữu vận động trong sự đối lập giữa hai cực: tư bản và lao động. Chúng ta hãy xét hai cực của sự đối lập ấy. <br />
Trở thành nhà tư bản có nghĩa là không những chỉ chiếm một địa vị thuần tuý cá nhân, mà còn chiếm một địa vị xã hội trong sản xuất. Tư bản là một sản phẩm tập thể và nó chỉ có thể vận động được là nhờ sự hoạt động chung của nhiều thành viên trong xã hội, xét đến cùng, là nhờ sự hoạt động chung của tất cả các thành viên trong xã hội. <br />
Vậy tư bản không phải là một lực lượng cá nhân, nó là một lực lượng xã hội. <br />
Cho nên, nếu tư bản biến thành sở hữu tập thể thuộc tất cả mọi thành viên trong xã hội thì đó không phải là một sở hữu cá nhân chuyển thành sở hữu xã hội. Chỉ có tính chất xã hội của sở hữu là thay đổi thôi. Sở hữu mất tính chất giai cấp của nó. <br />
Bây giờ chúng ta nói đến lao động làm thuê. <br />
Giá cả trung bình của lao động làm thuê là số tiền công tối thiểu, nghĩa là tổng số tư liệu sinh hoạt cần thiết cho công nhân duy trì đời sống với tính cách là công nhân. Cho nên cái mà người công nhân làm thuê chiếm hữu được bằng hoạt động của mình cũng chỉ vừa đủ để tái xuất ra đời sống mà thôi. Chúng tôi tuyệt không muốn xoá bỏ sự chiếm hữu cá nhân ấy về những sản phẩm của lao động, cần thiết để tái xuất ra đời sống, vì sự chiếm hữu ấy không đẻ ra một khoản dư nào có thể đem lại một quyền lực chi phối lao động của người khác. Điều chúng tôi muốn, là xoá bỏ tính chất bi thảm của các phương thức chiếm hữu nó khiến cho người công nhân chỉ sống để làm tăng thêm tư bản, và chỉ sống trong chừng mực mà những lợi ích của giai cấp thống trị đòi hỏi. <br />
Trong xã hội tư sản, lao động sống chỉ là một phương tiện để tăng thêm lao động tích luỹ. Trong xã hội cộng sản, lao động tích luỹ chỉ là một phương tiện để mở rộng, làm phong phú hoặc làm giảm nhẹ cho quá trình sống của những người lao động. <br />
Như vậy, trong xã hội tư sản, quá khứ chi phối hiện tại; còn trong xã hội cộng sản thì chính hiện tại chi phối quá khứ. Trong xã hội tư sản, tư bản có tính độc lập và cá tính, còn cá nhân người lao động lại mất tính độc lập và cá tính. <br />
Và chính việc xoá bỏ những quan hệ như thế, là việc mà giai cấp tư sản cho là xoá bỏ cá tính và tự do! mà cũng có lý đấy. Vì quả thật vấn đề là phải xoá bỏ cá tính tư sản, tính độc lập tư sản và tự do tư sản. <br />
Trong khuôn khổ những quan hệ sản xuất tư sản hiện tại thì tự do có nghĩa là tự do buôn bán, tự do mua và bán. <br />
Nhưng nếu buôn bán không còn thì buôn bán tự do cũng không còn nữa. Vả lại, tất cả những luận điệu về tự do buôn bán, cũng như tất cả các lời nói khoa trương khác của các nhà tư sản của chúng ta nói về tự do, nói chung chỉ có ý nghĩa, khi đem đối chiếu với việc buôn bán bị cản trở, với những người thị dân bị nô dịch ở thời trung cổ mà thôi; Những luận điệu và lời nói đó không còn ý nghĩa gì nữa, khi vấn đề đặt ra là chủ nghĩa cộng sản phải xoá bỏ buôn bán, xoá bỏ những quan hệ sản xuất tư sản và xoá bỏ ngay cả giai cấp tư sản nữa. <br />
Các ông hoảng lên, vì chúng tôi muốn xoá bỏ chế độ tư hữu. Nhưng trong xã hội hiện nay của các ông, chế độ tư hữu đã bị xoá bỏ đối với chín phần mười số thành viên của xã hội đó rồi; chính vì nó không tồn tại đối với số chín phần mười ấy, nên nó mới tồn tại được. Như vậy, các ông trách chúng tôi là muốn xoá bỏ một hình thức sở hữu chỉ có thể tồn tại với điều kiện tất yếu là tuyệt đại đa số bị tước mất hết mọi sở hữu. <br />
Nói tóm loại, ông buộc tội chúng tôi là muốn xoá bỏ sở hữu riêng của các ông. Quả thật, đó chính là điều chúng tôi muốn. <br />
Khi mà lao động không còn có thể biến thành tư bản, thành tiền bạc, thành địa tô, tóm lại, thành quyền lực xã hội có thể biến thành độc quyền được, nói tóm lại, khi mà sở hữu cá nhân không còn có thể biến thành sở hữu tư sản được nữa thì lúc đó, thì các ông tuyên bố rằng cá nhân bị thủ tiêu. <br />
Như vậy là các ông thú nhận rằng khi các ông nói đến cá nhân, là các ông chỉ muốn nói đến người tư sản, người tư hữu tư sản mà thôi. Mà cái cá nhân ấy thì chắc chắn cần phải thủ tiêu đi. <br />
Chủ nghĩa cộng sản không tước bỏ của ai cái khả năng đang chiếm hữu những sản phẩm xã hội cả. Chủ nghĩa cộng sản chỉ tước bỏ quyền dùng sự chiếm hữu ấy để nô dịch lao động của người khác. <br />
Người ta còn phản đối lại rằng xoá bỏ chế độ tư hữu thì mọi hoạt động sẽ ngừng lại, thì bệnh lười biếng sẽ phổ biến sẽ ngự trị. <br />
Nếu quả như vậy thì xã hội tư sản phải sụp đổ từ lâu rồi do tình trạng lười biếng, vì trong xã hội ấy, những người lao động thì không được hưởng, mà những kẻ được hưởng lại không lao động. Tất cả sự lo ngại chung quy chỉ là luận điệu trùng phức cho rằng không còn tư bản thì cũng không còn lao động làm thuê nữa. <br />
Tất cả những lời phản đối nhằm chống lại phương thức cộng sản chủ nghĩa của sự sản xuất và chiếm hữu những sản phẩm vật chất được tung ra, cũng nhằm chống lại sự sản xuất và chiếm hữu những sản phẩm tinh thần. Nếu đối với người tư sản, sở hữu giai cấp bị thủ tiêu có nghĩa là chính sản xuất cũng bị thủ tiêu, thì đối với họ, văn hoá giai cấp bị thủ tiêu, cũng có nghĩa là văn hoá nói chung bị mất đi. <br />
Cái văn hoá mà người tư sản than tiếc là bị tiêu diệt đi đó, thì đối với đại đa số, chỉ là việc biến họ thành vật phụ thuộc vào máy móc mà thôi. <br />
Nếu các ông lấy những quan điểm tư sản của các ông về tự do, về văn hoá, về luật pháp,... làm tiêu chuẩn để xét việc xoá bỏ sở hữu tư sản thì chẳng cần phải tranh cãi với chúng tôi làm gì. Chính những tư tưởng của các ông là sản phẩm của những quan hệ sản xuất và sở hữu tư sản, cũng như pháp quyền của các ông chỉ là ý chí của giai cấp các ông được đề lên thành luật pháp, cái ý chí mà nội dung là do những điều kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp các ông quyết định. <br />
Cái quan niệm thiên vị khiến các ông biến những quan hệ sản xuất và quan hệ sở hữu của các ông từ quan hệ lịch sử, mang tính chất nhất thời trong quá trình phát triển của sản xuất thành những quy luật vĩnh cửu của tự nhiên và lý trí, - quan niệm ấy, các ông cũng tán đồng với tất cả các giai cấp thống trị trước đây và hiện không còn nữa. Điều mà các ông nhận thức được đối với sở hữu thời cổ đại hay sở hữu phong kiến thì đối với sở hữu tư sản, các ông lại không giám nhận thức nữa. <br />
Xoá bỏ gia đình! Ngay cả những người cấp tiến cực đoan nhất cũng phẫn nộ về cái ý định xấu xa ấy của những người cộng sản. <br />
Gia đình tư sản hiện nay dựa trên cơ sở nào? Dựa trên tư bản, trên lợi nhuận cá nhân. Gia đình dưới hình thái hoàn toàn phát triển của nó, chỉ tồn tại đối với giai cấp tư sản thôi, nhưng nó lại kèm theo sự bắt buộc phải thủ tiêu mọi gia đình đối với người vô sản và kèm theo nạn mãi dâm công khai. <br />
Gia đình tư sản dĩ nhiên là sẽ tiêu tan cùng với cái vật bổ sung đó của nó, và cả hai cái đó đều mất đi cùng với sự tan biến của tư bản . <br />
Các ông trách chúng tôi muốn xoá bỏ hiện tượng cha mẹ bóc lột con cái chăng? tội ấy, chúng tôi xin nhận. <br />
Nhưng các ông lại bảo rằng chúng tôi muốn thủ tiêu những mối quan hệ thân thiết nhất đối với con người, bằng cách đem giáo dục xã hội thay thế cho các giáo dục gia đình. <br />
Thế nền giáo dục của các ông, chẳng phải cũng do xã hội quyết định đó sao? chẳng phải do những quan hệ xã hội trong xác ông nuôi dạy con cái các ông, do sự can thiệp trực tiếp hay gián tiếp của xã hội thông qua nhà trường,... quyết định gì? Người cộng sản không bịa đặt ra tác động xã hội đối với giáo dục, họ không chỉ thay đổi tính chất của sự giáo dục ấy và kéo giáo dục ra khỏi ảnh hưởng của giai cấp thống trị mà thôi. <br />
Đại công nghiệp phát triển càng phá huỷ mọi mối quan hệ gia đình trong giai cấp vô sản và càng biến trẻ em thành những món hàng mua bán, những công cụ lao động đơn thuần, thì những lời huênh hoang của giai cấp tư sản về gia đình và giáo dục, về những mối quan hệ thân thiết gắn bó con cái với cha mẹ, lại càng trở nên ghê tởm. <br />
Nhưng bọn cộng sản các anh, muốn thực hành chế độ cộng thê, toàn thể giai cấp tư sản đồng thanh tru tréo lên như vậy. <br />
Đối với người tư sản, vợ hắn chẳng qua chỉ là một công cụ sản xuất. Cho nên nghe nói công cụ sản xuất phải được đem dùng chung thì tất nhiên là hắn kết luận rằng chính đàn bà rồi cũng phải chịu cái số phận chung là bị xã hội hoá. <br />
Thậm chí hắn không ngờ rằng vấn đề ở đây, chính là kéo đàn bà ra khỏi vai trò hiện nay của họ là một công cụ sản xuất đơn thuần. <br />
Vả lại, không có gì lố bịch bằng ghê sợ quá đạo đức của những nhà tư sản với cái gọi là cộng thê chính thức do những người cộng sản chủ trương. Những người cộng sản không cần phải áp dụng chế độ cộng thê, chế độ ấy hầu như đã luôn luôn tồn tại. <br />
Các ngài tư sản của chúng ta chưa thoả mãn là đã sẵn có vợ và con gái của vô sản để dùng, đó là chưa kể chế độ mãi dâm công khai, các ngài ấy còn lấy việc cắm sừng lẫn nhau làm một thú vui đặc biệt. <br />
Hôn nhân của giai cấp tư sản thật ra là chế độ cộng thê. Có chăng người ta chỉ có thể buộc tội những người cộng sản là họ tuồng như muốn đem một chế độ cộng thê công khai và chính thức thay cho chế độ cộng thê được che đậy một cách giả nhân giả nghĩa mà thôi. Nhưng với sự xoá bỏ những quan hệ sản xuất hiện tại thì dĩ nhiên là chế độ cộng thê do những quan hệ sản xuất ấy đẻ ra, tức là chế độ mãi dâm chính thức và không chính thức, cũng sẽ biến mất. <br />
Ngoài ra, người ta còn buộc tội những người cộng sản là muốn xoả bỏ tổ quốc, xoá bỏ dân tộc. <br />
Công nhân không có tổ quốc. Người ta không thể cướp của họ cái mà họ không có. Vì giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền, phải tự vươn lên thành giai cấp dân tộc[9], phải tự mình giành dân tộc, tuy hoàn toàn không phải theo cái nghĩa như giai cấp tư sản hiểu. <br />
Với sự phát triển của giai cấp tư sản, tự do buôn bán, thị trường thế giới sự đồng đều của sản xuất công nghiệp và những điều kiện sinh hoạt thích ứng với nền sản xuất ấy thì những sự cách biệt dân tộc và những sự đối lập giữa nhân dân các nước cũng ngày càng mất đi. <br />
Sự thống trị của giai cấp vô sản sẽ càng làm cho những sự cách biệt và những sự đối lập mất đi nhanh hơn. Hành động chung của giai cấp vô sản, ít ra là ở những nước văn minh, là một trong những điều kiện đầu tiên cho sự giải phóng của họ. <br />
Hãy xoá bỏ tình trạng người bóc lột người thì tình trạng dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bị xoá bỏ. <br />
Khi mà sự đối kháng giữa các giai cấp trong nội bộ dân tộc không còn nữa thì sự thù địch giữa các dân tộc cũng đồng thời mất theo. <br />
Còn những lời buộc tội chủ nghĩa cộng sản, xuất phát từ những quan điểm tôn giáo, triết học và nói chung là xuất phát từ những quan điểm tư tưởng thì không đáng phải xét kỹ. <br />
Liệu có cần phải sáng suốt lắm thì mới hiểu những tư tưởng, những qua điểm và những khái niệm của con người, tóm lại là ý thức của con người, đều thay đổi cùng với mọi sự thay đổi xảy ra trong điều kiện sinh hoạt, trong quan hệ xã hội, trong đời sống xã hội của con người không? <br />
Lịch sử tư tưởng chứng minh cái gì, nếu không phải là chứng minh rằng sản xuất tinh thần cũng biến đổi theo sản xuất vật chất? Những tư tưởng thống trị của một thời đại bao giờ cũng chỉ là những tư tưởng của giai cấp thống trị. <br />
Khi người ta nói đến những tư tưởng đang cách mạng hoá cả một xã hội thì như thế là người ta chỉ nêu ra sự thật này là trong lòng xã hội cũ, những yếu tố của một xã hội mới đã hình thành là sự tan rã của những tư tưởng cũng đi đôi với sự tan rã của những điều kiện sinh hoạt cũ. <br />
Khi thế giới cổ đại đang suy tàn thì những tôn giáo cũ bị đạo Cơ Đốc đánh bại. Vào thế kỷ XVIII, khi tư tưởng của đạo Cơ Đốc nhường chỗ cho những tư tưởng tiến bộ thì xã hội phong kiến đang giao chiến trận cuối cùng với giai cấp tư sản, lúc bấy giờ là giai cấp cách mạng. Những tư tưởng về tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo chẳng qua chỉ nói lên thời kỳ thống trị của cạnh trạnh trong tự do lĩnh vực tri thức mà thôi. <br />
Có người sẽ nói:"Cố nhiên là những quan niệm tôn giáo, đạo đức, triết học, chính trị, pháp quyền,... đã biến đổi trong tiến trình phát triển lịch sử. Nhưng tôn giáo, đạo đức, triết học, chính trị, pháp quyền, vẫn luôn luôn được bảo tồn qua những biến đổi không ngừng ấy. <br />
Vả lại, còn có những chân lý vĩnh cửu như tự do, công lý,... là những cái chung cho tất cả mọi chế độ xã hội. Thế mà chủ nghĩa cộng sản lại xoá bỏ những chân lý vĩnh cửu, xoá bỏ tôn giáo và đạo đức chứ không đổi mới hình thức của tôn giáo và đạo đức; làm như thế là nó mâu thuẫn với toàn bộ tiến trình phát triển lịch sử trước kia". <br />
Lời buộc tội ấy rút cục lại là gì? Lịch sử của toàn bộ các xã hội, từ trước đến nay, đều diễn ra trong những đối kháng giai cấp, những đối kháng mang hình thức khác nhau tuỳ từng thời đại. <br />
Nhưng dù những đối kháng ấy mang hình thức nào đi nữa thì hiện tượng một bộ phận này của xã hội bóc lột một bộ phận khác cũng vẫn là hiện tượng chung cho tất cả các thế kỷ trước kia. Vậy không có gì ngạc nhiên khi thấy rằng ý thức xã hội của mọi thế kỷ, mặc dù có muôn màu muôn vẻ và hết sức khác nhau, vẫn vận động trong một hình thức nào đó, trong những hình thức ý thức chỉ hoàn toàn tiêu tan khi hoàn toàn không còn có đối kháng giữa giai cấp nữa. <br />
Cách mạng cộng sản chủ nghĩa là sự đoạn tuyệt triệt để nhất với những quan hệ sở hữu kế thừa của quá khứ; không có gì đáng ngạc nhiên khi thấy rằng trong tiến trình phát triển của nó, nó đoạn tuyệt một cách triệt để nhất với những tư tưởng kế thừa của quá khứ. <br />
Nhưng hãy gác lại những lời giai cấp tư sản phản đối chủ nghĩa cộng sản. <br />
Như chúng ta đã thấy trên kia, bước thứ nhất trong cuộc cách mạng công nhân là giai cấp vô sản biến thành giai cấp thống trị, là giành lấy dân chủ. <br />
Giai cấp vô sản sẽ dùng sự thống trị chính trị của mình để từng bước một đoạt lấy toàn bộ tư bản trong tay giai cấp tư sản, để tập trung tất cả những công cụ sản xuất vào trong tay nhà nước, tức là trong tay giai cấp vô sản đã được tổ chức thành giai cấp thống trị, và để tăng thật nhanh số lượng những lực lượng sản xuất. <br />
Cố nhiên, điều đó lúc đầu chỉ có thể thực hiện bằng cách xâm phạm một cách chuyên chế vào sở hữu và những quan hệ sản xuất tư sản, nghĩa là bằng những biện pháp, mà về mặt kinh tế thì hình như không được đầy đủ và không có hiệu lực, nhưng trong tiến trình vận động, những biện pháp ấy sẽ vượt quá bản thân chúng[10] và là thủ đoạn không thể thiếu để đảo lộn toàn bộ phương thức sản xuất. <br />
Trong những nước khác nhau, những biện pháp ấy dĩ nhiên sẽ khác nhau rất nhiều. <br />
Nhưng đối với những nước tiên tiến nhất thì những biện pháp sau đây sẽ có thể áp dụng khá phổ biến: <br />
1. Tước đoạt sở hữu ruộng đất và trao nộp tô vào quỹ chi tiêu của nhà nước. <br />
2. áp dụng thuế luỹ tiến cao. <br />
3. Xoá bỏ quyền thừa kế <br />
4. Tịch thu tài sản của tất cả những kẻ lưu vong và của tất cả những kẻ phiến loạn <br />
5. Tập trung tín dụng vào tay nhà nước thông qua một ngân hàng quốc gia với tư bản của nhà nước và ngân hàng này sẽ nắm độc quyền hoàn toàn. <br />
6. Tập trung tất cả các phương tiện vận tải vào trong tay nhà nước. <br />
7. Tăng thêm số công xưởng nhà nước và công cụ sản xuất; khai khẩn đất đai để cấy cầy và cải tạo ruộng đất trong một kế hoạch chung. <br />
8. Thực hành nghĩa vụ lao động đối với tất cả mọi người, tổ chức các đạo quân công nghiệp, đặc biệt là nông nghiệp. <br />
9. Kết hợp nông nghiệp, thi hành những biện pháp nhằm làm mất dần sự khác biệt thành thị và nông thôn[11]<br />
10. Giáo dục công cộng và không mất tiền cho tất cả các trẻ em. Xoá bỏ việc sử dụng trẻ em làm trong các khu công xưởng như hiện nay. Kết hợp giáo dục với sản xuất vật chất,... <br />
Khi những đối kháng giai cấp đã mất đi trong tiến trình của sự phát triển và toàn bộ sản xuất đã tập trung trong tay những cá nhân đã liên hợp lại với nhau thì quyền lực công cộng cũng mất tính chất chính trị của nó. Quyền lực chính trị, theo đúng nghĩa của nó, là bạo lực có tổ chức của một giai cấp để trấn áp một giai cấp khác. Nếu giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản, nhất định phải tự tổ chức thành giai cấp, nếu giai cấp vô sản thông qua con đường cách mạng mà trở thành giai cấp thống trị và với tư cách là giai cấp thống trị, nó dùng bạo lực tiêu diệt những quan hệ sản xuất cũ, thì đồng thời với việc tiêu diệt những quan hệ sản xuất ấy, nó cũng tiêu diệt luôn cả những điều kiện tồn tại của sự đối kháng giai cấp, nó tiêu diệt những giai cấp nói chung và cũng do đấy, tiêu diệt cả sự thống trị của chính nó với tư cách là một giai cấp. <br />
Thay cho xã hội tư sản cũ, với những giai cấp và đối kháng giai cấp của nó, sẽ xuất hiện một liên hợp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người.<br />
---------------<br />
Chú thích<br />
[6] Trong bản tiếng Anh xuất bản năm 1888 thay cho những chữ "những nguyên tắc riêng biệt" là những chữ "những nguyên tắc bè phái" <br />
[7] Trong bản tiếng Anh xuất bản năm 1888 thay cho những chữ "luôn luôn thúc đẩy phong trào tiến lên" là những chữ "tiên tiến nhất" <br />
[8] Trong bản tiếng Anh xuất bản năm 1888 thay cho những chữ "những người này bóc lột những người kia" là những chữ "thiểu số bóc lột đa số". <br />
[9] Trong bản tiếng Anh xuất bản năm 1888 thay cho những chữ "tự vươn lên thành giai cấp dân tộc" là những chữ tự vươn lên thành giai cấp chủ đạo trong dân tộc". <br />
[10] Trong bản tiếng Anh xuất bản năm 1888 sau những chữ "vượt quá bản thân chúng" còn có thêm những chữ "khiến tất yếu phải tiến công thêm một bước vào chế độ xã hội cũ"<br />
<br />
</span></div>]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div style="text-align: left;" class="mycode_align"><span style="color: #000000;" class="mycode_color"><div style="text-align: right;" class="mycode_align"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Tác giả: K.Marx - F.Engels</span></div>
<br />
<br />
<br />
Quan hệ giữa người cộng sản với những người vô sản nói chung như thế nào? <br />
Những người cộng sản không phải là một đảng riêng biệt, đối lập với các đảng công nhân khác. <br />
Họ tuyệt nhiên không có một lợi ích nào tách khỏi lợi ích của toàn thể giai cấp vô sản. <br />
Họ không đặt ra những nguyên tắc riêng biệt[6] nhằm khuôn phong trào vô sản theo những nguyên tắc ấy. <br />
Những người cộng sản chỉ khác với các đảng vô sản khác trên hai điểm:<br />
+ Một là, trong các cuộc đấu tranh của những người vô sản thuộc các dân tộc khác nhau, họ đặt lên hàng đầu và bảo vệ những lợi ích không phụ thuộc vào dân tộc và chung cho toàn thể giai cấp vô sản;<br />
+ Hai là, trong các giai đoạn khác nhau của cuộc đấu tranh giữa vô sản và tư sản, họ luôn luôn đại biểu cho lợi ích của toàn bộ phong trào. <br />
Vậy là về mặt thực tiễn, những người cộng sản là bộ phận kiên quyết nhất trong các đảng công nhân ở tất cả các nước, là bộ phận luôn luôn thúc đẩy phong trào tiến lên[7] về mặt lý luận, họ hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ là họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào vô sản. <br />
Mục đích trước mắt của những người cộng sản cũng là mục đích trước mắt của tất cả các đảng vô sản khác: tổ chức những người vô sản thành giai cấp, lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, giai cấp vô sản giành lấy chính quyền. <br />
Những quan điểm lý luận của những người cộng sản tuyệt nhiên không dựa trên những ý niệm, những nguyên lý do một nhà cải cách thế giới nào phát minh hay phát hiện ra. <br />
Những nguyên lý ấy chỉ biểu hiện khái quát của những quan hệ thực tại của một cuộc đấu tranh giai cấp hiện có, của một sự vận động lịch sử đang diễn ra trước mắt chúng ta, việc xoá bỏ những quan hệ sở hữu đã tồn tại trước kia không phải là cái gì đặc trưng vốn có của chủ nghĩa cộng sản. <br />
Tất cả những quan hệ sở hữu đã trải qua những thay đổi liên tiếp, những cải biến liên tiếp trong lịch sử. <br />
Chẳng hạn, cách mạng Pháp đã xoá bỏ chế độ sở hữu phong kiến và bênh vực chế độ sở hữu tư sản. <br />
Nhưng chế độ tư hữu tư sản hiện thời, lại là biểu hiện cuối cùng và đầy đủ nhất của phương thức sản xuất và chiếm hữu sản phẩm dựa trên những đối kháng giai cấp, trên cơ sở những người này bóc lột những người kia[8]<br />
Theo ý nghĩa đó, những người cộng sản có thể tóm tắt lý luận của mình thành một luận điểm duy nhất này là: xoá bỏ chế độ tư hữu. <br />
Người ta trách những người cộng sản chúng tôi là muốn xoá bỏ sở hữu do cá nhân mỗi người làm ra, kết quả lao động của cá nhân, sở hữu mà người ta bảo là cơ sở của mọi tự do, mọi hoạt động và mọi sự độc lập của cá nhân. <br />
Cái sở hữu làm ra, kiếm được một cách lương thiện và do lao động của bản thân tạo ra ! Phải chăng người ta muốn nói đến cái hình thức sở hữu có trước sở hữu tư sản, tức là sở hữu của người tiểu tư sản, của người tiểu nông? Chúng tôi có cần gì phải xoá bỏ cái đó, sự phát triển của công nghiệp đã xoá bỏ và hàng ngày vẫn tiếp tục xoá bỏ cái đó rồi. <br />
Hay là người ta muốn nói đến chế độ tư hữu tư sản hiện thời. <br />
Nhưng phải chăng lao động làm thuê, lao động của người vô sản, lại tạo ra sở hữu cho người vô sản? Tuyệt đối không. Nó tạo ra tư bản, tức là cái sở hữu bóc lột lao động làm thuê, cái sở hữu chỉ có thể tăng thêm với điều kiện là phải sản xuất ra lao động làm thuê mới để lại bóc lột lao động làm thuê đó. Trong hình thái hiện tại của nó, sở hữu vận động trong sự đối lập giữa hai cực: tư bản và lao động. Chúng ta hãy xét hai cực của sự đối lập ấy. <br />
Trở thành nhà tư bản có nghĩa là không những chỉ chiếm một địa vị thuần tuý cá nhân, mà còn chiếm một địa vị xã hội trong sản xuất. Tư bản là một sản phẩm tập thể và nó chỉ có thể vận động được là nhờ sự hoạt động chung của nhiều thành viên trong xã hội, xét đến cùng, là nhờ sự hoạt động chung của tất cả các thành viên trong xã hội. <br />
Vậy tư bản không phải là một lực lượng cá nhân, nó là một lực lượng xã hội. <br />
Cho nên, nếu tư bản biến thành sở hữu tập thể thuộc tất cả mọi thành viên trong xã hội thì đó không phải là một sở hữu cá nhân chuyển thành sở hữu xã hội. Chỉ có tính chất xã hội của sở hữu là thay đổi thôi. Sở hữu mất tính chất giai cấp của nó. <br />
Bây giờ chúng ta nói đến lao động làm thuê. <br />
Giá cả trung bình của lao động làm thuê là số tiền công tối thiểu, nghĩa là tổng số tư liệu sinh hoạt cần thiết cho công nhân duy trì đời sống với tính cách là công nhân. Cho nên cái mà người công nhân làm thuê chiếm hữu được bằng hoạt động của mình cũng chỉ vừa đủ để tái xuất ra đời sống mà thôi. Chúng tôi tuyệt không muốn xoá bỏ sự chiếm hữu cá nhân ấy về những sản phẩm của lao động, cần thiết để tái xuất ra đời sống, vì sự chiếm hữu ấy không đẻ ra một khoản dư nào có thể đem lại một quyền lực chi phối lao động của người khác. Điều chúng tôi muốn, là xoá bỏ tính chất bi thảm của các phương thức chiếm hữu nó khiến cho người công nhân chỉ sống để làm tăng thêm tư bản, và chỉ sống trong chừng mực mà những lợi ích của giai cấp thống trị đòi hỏi. <br />
Trong xã hội tư sản, lao động sống chỉ là một phương tiện để tăng thêm lao động tích luỹ. Trong xã hội cộng sản, lao động tích luỹ chỉ là một phương tiện để mở rộng, làm phong phú hoặc làm giảm nhẹ cho quá trình sống của những người lao động. <br />
Như vậy, trong xã hội tư sản, quá khứ chi phối hiện tại; còn trong xã hội cộng sản thì chính hiện tại chi phối quá khứ. Trong xã hội tư sản, tư bản có tính độc lập và cá tính, còn cá nhân người lao động lại mất tính độc lập và cá tính. <br />
Và chính việc xoá bỏ những quan hệ như thế, là việc mà giai cấp tư sản cho là xoá bỏ cá tính và tự do! mà cũng có lý đấy. Vì quả thật vấn đề là phải xoá bỏ cá tính tư sản, tính độc lập tư sản và tự do tư sản. <br />
Trong khuôn khổ những quan hệ sản xuất tư sản hiện tại thì tự do có nghĩa là tự do buôn bán, tự do mua và bán. <br />
Nhưng nếu buôn bán không còn thì buôn bán tự do cũng không còn nữa. Vả lại, tất cả những luận điệu về tự do buôn bán, cũng như tất cả các lời nói khoa trương khác của các nhà tư sản của chúng ta nói về tự do, nói chung chỉ có ý nghĩa, khi đem đối chiếu với việc buôn bán bị cản trở, với những người thị dân bị nô dịch ở thời trung cổ mà thôi; Những luận điệu và lời nói đó không còn ý nghĩa gì nữa, khi vấn đề đặt ra là chủ nghĩa cộng sản phải xoá bỏ buôn bán, xoá bỏ những quan hệ sản xuất tư sản và xoá bỏ ngay cả giai cấp tư sản nữa. <br />
Các ông hoảng lên, vì chúng tôi muốn xoá bỏ chế độ tư hữu. Nhưng trong xã hội hiện nay của các ông, chế độ tư hữu đã bị xoá bỏ đối với chín phần mười số thành viên của xã hội đó rồi; chính vì nó không tồn tại đối với số chín phần mười ấy, nên nó mới tồn tại được. Như vậy, các ông trách chúng tôi là muốn xoá bỏ một hình thức sở hữu chỉ có thể tồn tại với điều kiện tất yếu là tuyệt đại đa số bị tước mất hết mọi sở hữu. <br />
Nói tóm loại, ông buộc tội chúng tôi là muốn xoá bỏ sở hữu riêng của các ông. Quả thật, đó chính là điều chúng tôi muốn. <br />
Khi mà lao động không còn có thể biến thành tư bản, thành tiền bạc, thành địa tô, tóm lại, thành quyền lực xã hội có thể biến thành độc quyền được, nói tóm lại, khi mà sở hữu cá nhân không còn có thể biến thành sở hữu tư sản được nữa thì lúc đó, thì các ông tuyên bố rằng cá nhân bị thủ tiêu. <br />
Như vậy là các ông thú nhận rằng khi các ông nói đến cá nhân, là các ông chỉ muốn nói đến người tư sản, người tư hữu tư sản mà thôi. Mà cái cá nhân ấy thì chắc chắn cần phải thủ tiêu đi. <br />
Chủ nghĩa cộng sản không tước bỏ của ai cái khả năng đang chiếm hữu những sản phẩm xã hội cả. Chủ nghĩa cộng sản chỉ tước bỏ quyền dùng sự chiếm hữu ấy để nô dịch lao động của người khác. <br />
Người ta còn phản đối lại rằng xoá bỏ chế độ tư hữu thì mọi hoạt động sẽ ngừng lại, thì bệnh lười biếng sẽ phổ biến sẽ ngự trị. <br />
Nếu quả như vậy thì xã hội tư sản phải sụp đổ từ lâu rồi do tình trạng lười biếng, vì trong xã hội ấy, những người lao động thì không được hưởng, mà những kẻ được hưởng lại không lao động. Tất cả sự lo ngại chung quy chỉ là luận điệu trùng phức cho rằng không còn tư bản thì cũng không còn lao động làm thuê nữa. <br />
Tất cả những lời phản đối nhằm chống lại phương thức cộng sản chủ nghĩa của sự sản xuất và chiếm hữu những sản phẩm vật chất được tung ra, cũng nhằm chống lại sự sản xuất và chiếm hữu những sản phẩm tinh thần. Nếu đối với người tư sản, sở hữu giai cấp bị thủ tiêu có nghĩa là chính sản xuất cũng bị thủ tiêu, thì đối với họ, văn hoá giai cấp bị thủ tiêu, cũng có nghĩa là văn hoá nói chung bị mất đi. <br />
Cái văn hoá mà người tư sản than tiếc là bị tiêu diệt đi đó, thì đối với đại đa số, chỉ là việc biến họ thành vật phụ thuộc vào máy móc mà thôi. <br />
Nếu các ông lấy những quan điểm tư sản của các ông về tự do, về văn hoá, về luật pháp,... làm tiêu chuẩn để xét việc xoá bỏ sở hữu tư sản thì chẳng cần phải tranh cãi với chúng tôi làm gì. Chính những tư tưởng của các ông là sản phẩm của những quan hệ sản xuất và sở hữu tư sản, cũng như pháp quyền của các ông chỉ là ý chí của giai cấp các ông được đề lên thành luật pháp, cái ý chí mà nội dung là do những điều kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp các ông quyết định. <br />
Cái quan niệm thiên vị khiến các ông biến những quan hệ sản xuất và quan hệ sở hữu của các ông từ quan hệ lịch sử, mang tính chất nhất thời trong quá trình phát triển của sản xuất thành những quy luật vĩnh cửu của tự nhiên và lý trí, - quan niệm ấy, các ông cũng tán đồng với tất cả các giai cấp thống trị trước đây và hiện không còn nữa. Điều mà các ông nhận thức được đối với sở hữu thời cổ đại hay sở hữu phong kiến thì đối với sở hữu tư sản, các ông lại không giám nhận thức nữa. <br />
Xoá bỏ gia đình! Ngay cả những người cấp tiến cực đoan nhất cũng phẫn nộ về cái ý định xấu xa ấy của những người cộng sản. <br />
Gia đình tư sản hiện nay dựa trên cơ sở nào? Dựa trên tư bản, trên lợi nhuận cá nhân. Gia đình dưới hình thái hoàn toàn phát triển của nó, chỉ tồn tại đối với giai cấp tư sản thôi, nhưng nó lại kèm theo sự bắt buộc phải thủ tiêu mọi gia đình đối với người vô sản và kèm theo nạn mãi dâm công khai. <br />
Gia đình tư sản dĩ nhiên là sẽ tiêu tan cùng với cái vật bổ sung đó của nó, và cả hai cái đó đều mất đi cùng với sự tan biến của tư bản . <br />
Các ông trách chúng tôi muốn xoá bỏ hiện tượng cha mẹ bóc lột con cái chăng? tội ấy, chúng tôi xin nhận. <br />
Nhưng các ông lại bảo rằng chúng tôi muốn thủ tiêu những mối quan hệ thân thiết nhất đối với con người, bằng cách đem giáo dục xã hội thay thế cho các giáo dục gia đình. <br />
Thế nền giáo dục của các ông, chẳng phải cũng do xã hội quyết định đó sao? chẳng phải do những quan hệ xã hội trong xác ông nuôi dạy con cái các ông, do sự can thiệp trực tiếp hay gián tiếp của xã hội thông qua nhà trường,... quyết định gì? Người cộng sản không bịa đặt ra tác động xã hội đối với giáo dục, họ không chỉ thay đổi tính chất của sự giáo dục ấy và kéo giáo dục ra khỏi ảnh hưởng của giai cấp thống trị mà thôi. <br />
Đại công nghiệp phát triển càng phá huỷ mọi mối quan hệ gia đình trong giai cấp vô sản và càng biến trẻ em thành những món hàng mua bán, những công cụ lao động đơn thuần, thì những lời huênh hoang của giai cấp tư sản về gia đình và giáo dục, về những mối quan hệ thân thiết gắn bó con cái với cha mẹ, lại càng trở nên ghê tởm. <br />
Nhưng bọn cộng sản các anh, muốn thực hành chế độ cộng thê, toàn thể giai cấp tư sản đồng thanh tru tréo lên như vậy. <br />
Đối với người tư sản, vợ hắn chẳng qua chỉ là một công cụ sản xuất. Cho nên nghe nói công cụ sản xuất phải được đem dùng chung thì tất nhiên là hắn kết luận rằng chính đàn bà rồi cũng phải chịu cái số phận chung là bị xã hội hoá. <br />
Thậm chí hắn không ngờ rằng vấn đề ở đây, chính là kéo đàn bà ra khỏi vai trò hiện nay của họ là một công cụ sản xuất đơn thuần. <br />
Vả lại, không có gì lố bịch bằng ghê sợ quá đạo đức của những nhà tư sản với cái gọi là cộng thê chính thức do những người cộng sản chủ trương. Những người cộng sản không cần phải áp dụng chế độ cộng thê, chế độ ấy hầu như đã luôn luôn tồn tại. <br />
Các ngài tư sản của chúng ta chưa thoả mãn là đã sẵn có vợ và con gái của vô sản để dùng, đó là chưa kể chế độ mãi dâm công khai, các ngài ấy còn lấy việc cắm sừng lẫn nhau làm một thú vui đặc biệt. <br />
Hôn nhân của giai cấp tư sản thật ra là chế độ cộng thê. Có chăng người ta chỉ có thể buộc tội những người cộng sản là họ tuồng như muốn đem một chế độ cộng thê công khai và chính thức thay cho chế độ cộng thê được che đậy một cách giả nhân giả nghĩa mà thôi. Nhưng với sự xoá bỏ những quan hệ sản xuất hiện tại thì dĩ nhiên là chế độ cộng thê do những quan hệ sản xuất ấy đẻ ra, tức là chế độ mãi dâm chính thức và không chính thức, cũng sẽ biến mất. <br />
Ngoài ra, người ta còn buộc tội những người cộng sản là muốn xoả bỏ tổ quốc, xoá bỏ dân tộc. <br />
Công nhân không có tổ quốc. Người ta không thể cướp của họ cái mà họ không có. Vì giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền, phải tự vươn lên thành giai cấp dân tộc[9], phải tự mình giành dân tộc, tuy hoàn toàn không phải theo cái nghĩa như giai cấp tư sản hiểu. <br />
Với sự phát triển của giai cấp tư sản, tự do buôn bán, thị trường thế giới sự đồng đều của sản xuất công nghiệp và những điều kiện sinh hoạt thích ứng với nền sản xuất ấy thì những sự cách biệt dân tộc và những sự đối lập giữa nhân dân các nước cũng ngày càng mất đi. <br />
Sự thống trị của giai cấp vô sản sẽ càng làm cho những sự cách biệt và những sự đối lập mất đi nhanh hơn. Hành động chung của giai cấp vô sản, ít ra là ở những nước văn minh, là một trong những điều kiện đầu tiên cho sự giải phóng của họ. <br />
Hãy xoá bỏ tình trạng người bóc lột người thì tình trạng dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bị xoá bỏ. <br />
Khi mà sự đối kháng giữa các giai cấp trong nội bộ dân tộc không còn nữa thì sự thù địch giữa các dân tộc cũng đồng thời mất theo. <br />
Còn những lời buộc tội chủ nghĩa cộng sản, xuất phát từ những quan điểm tôn giáo, triết học và nói chung là xuất phát từ những quan điểm tư tưởng thì không đáng phải xét kỹ. <br />
Liệu có cần phải sáng suốt lắm thì mới hiểu những tư tưởng, những qua điểm và những khái niệm của con người, tóm lại là ý thức của con người, đều thay đổi cùng với mọi sự thay đổi xảy ra trong điều kiện sinh hoạt, trong quan hệ xã hội, trong đời sống xã hội của con người không? <br />
Lịch sử tư tưởng chứng minh cái gì, nếu không phải là chứng minh rằng sản xuất tinh thần cũng biến đổi theo sản xuất vật chất? Những tư tưởng thống trị của một thời đại bao giờ cũng chỉ là những tư tưởng của giai cấp thống trị. <br />
Khi người ta nói đến những tư tưởng đang cách mạng hoá cả một xã hội thì như thế là người ta chỉ nêu ra sự thật này là trong lòng xã hội cũ, những yếu tố của một xã hội mới đã hình thành là sự tan rã của những tư tưởng cũng đi đôi với sự tan rã của những điều kiện sinh hoạt cũ. <br />
Khi thế giới cổ đại đang suy tàn thì những tôn giáo cũ bị đạo Cơ Đốc đánh bại. Vào thế kỷ XVIII, khi tư tưởng của đạo Cơ Đốc nhường chỗ cho những tư tưởng tiến bộ thì xã hội phong kiến đang giao chiến trận cuối cùng với giai cấp tư sản, lúc bấy giờ là giai cấp cách mạng. Những tư tưởng về tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo chẳng qua chỉ nói lên thời kỳ thống trị của cạnh trạnh trong tự do lĩnh vực tri thức mà thôi. <br />
Có người sẽ nói:"Cố nhiên là những quan niệm tôn giáo, đạo đức, triết học, chính trị, pháp quyền,... đã biến đổi trong tiến trình phát triển lịch sử. Nhưng tôn giáo, đạo đức, triết học, chính trị, pháp quyền, vẫn luôn luôn được bảo tồn qua những biến đổi không ngừng ấy. <br />
Vả lại, còn có những chân lý vĩnh cửu như tự do, công lý,... là những cái chung cho tất cả mọi chế độ xã hội. Thế mà chủ nghĩa cộng sản lại xoá bỏ những chân lý vĩnh cửu, xoá bỏ tôn giáo và đạo đức chứ không đổi mới hình thức của tôn giáo và đạo đức; làm như thế là nó mâu thuẫn với toàn bộ tiến trình phát triển lịch sử trước kia". <br />
Lời buộc tội ấy rút cục lại là gì? Lịch sử của toàn bộ các xã hội, từ trước đến nay, đều diễn ra trong những đối kháng giai cấp, những đối kháng mang hình thức khác nhau tuỳ từng thời đại. <br />
Nhưng dù những đối kháng ấy mang hình thức nào đi nữa thì hiện tượng một bộ phận này của xã hội bóc lột một bộ phận khác cũng vẫn là hiện tượng chung cho tất cả các thế kỷ trước kia. Vậy không có gì ngạc nhiên khi thấy rằng ý thức xã hội của mọi thế kỷ, mặc dù có muôn màu muôn vẻ và hết sức khác nhau, vẫn vận động trong một hình thức nào đó, trong những hình thức ý thức chỉ hoàn toàn tiêu tan khi hoàn toàn không còn có đối kháng giữa giai cấp nữa. <br />
Cách mạng cộng sản chủ nghĩa là sự đoạn tuyệt triệt để nhất với những quan hệ sở hữu kế thừa của quá khứ; không có gì đáng ngạc nhiên khi thấy rằng trong tiến trình phát triển của nó, nó đoạn tuyệt một cách triệt để nhất với những tư tưởng kế thừa của quá khứ. <br />
Nhưng hãy gác lại những lời giai cấp tư sản phản đối chủ nghĩa cộng sản. <br />
Như chúng ta đã thấy trên kia, bước thứ nhất trong cuộc cách mạng công nhân là giai cấp vô sản biến thành giai cấp thống trị, là giành lấy dân chủ. <br />
Giai cấp vô sản sẽ dùng sự thống trị chính trị của mình để từng bước một đoạt lấy toàn bộ tư bản trong tay giai cấp tư sản, để tập trung tất cả những công cụ sản xuất vào trong tay nhà nước, tức là trong tay giai cấp vô sản đã được tổ chức thành giai cấp thống trị, và để tăng thật nhanh số lượng những lực lượng sản xuất. <br />
Cố nhiên, điều đó lúc đầu chỉ có thể thực hiện bằng cách xâm phạm một cách chuyên chế vào sở hữu và những quan hệ sản xuất tư sản, nghĩa là bằng những biện pháp, mà về mặt kinh tế thì hình như không được đầy đủ và không có hiệu lực, nhưng trong tiến trình vận động, những biện pháp ấy sẽ vượt quá bản thân chúng[10] và là thủ đoạn không thể thiếu để đảo lộn toàn bộ phương thức sản xuất. <br />
Trong những nước khác nhau, những biện pháp ấy dĩ nhiên sẽ khác nhau rất nhiều. <br />
Nhưng đối với những nước tiên tiến nhất thì những biện pháp sau đây sẽ có thể áp dụng khá phổ biến: <br />
1. Tước đoạt sở hữu ruộng đất và trao nộp tô vào quỹ chi tiêu của nhà nước. <br />
2. áp dụng thuế luỹ tiến cao. <br />
3. Xoá bỏ quyền thừa kế <br />
4. Tịch thu tài sản của tất cả những kẻ lưu vong và của tất cả những kẻ phiến loạn <br />
5. Tập trung tín dụng vào tay nhà nước thông qua một ngân hàng quốc gia với tư bản của nhà nước và ngân hàng này sẽ nắm độc quyền hoàn toàn. <br />
6. Tập trung tất cả các phương tiện vận tải vào trong tay nhà nước. <br />
7. Tăng thêm số công xưởng nhà nước và công cụ sản xuất; khai khẩn đất đai để cấy cầy và cải tạo ruộng đất trong một kế hoạch chung. <br />
8. Thực hành nghĩa vụ lao động đối với tất cả mọi người, tổ chức các đạo quân công nghiệp, đặc biệt là nông nghiệp. <br />
9. Kết hợp nông nghiệp, thi hành những biện pháp nhằm làm mất dần sự khác biệt thành thị và nông thôn[11]<br />
10. Giáo dục công cộng và không mất tiền cho tất cả các trẻ em. Xoá bỏ việc sử dụng trẻ em làm trong các khu công xưởng như hiện nay. Kết hợp giáo dục với sản xuất vật chất,... <br />
Khi những đối kháng giai cấp đã mất đi trong tiến trình của sự phát triển và toàn bộ sản xuất đã tập trung trong tay những cá nhân đã liên hợp lại với nhau thì quyền lực công cộng cũng mất tính chất chính trị của nó. Quyền lực chính trị, theo đúng nghĩa của nó, là bạo lực có tổ chức của một giai cấp để trấn áp một giai cấp khác. Nếu giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản, nhất định phải tự tổ chức thành giai cấp, nếu giai cấp vô sản thông qua con đường cách mạng mà trở thành giai cấp thống trị và với tư cách là giai cấp thống trị, nó dùng bạo lực tiêu diệt những quan hệ sản xuất cũ, thì đồng thời với việc tiêu diệt những quan hệ sản xuất ấy, nó cũng tiêu diệt luôn cả những điều kiện tồn tại của sự đối kháng giai cấp, nó tiêu diệt những giai cấp nói chung và cũng do đấy, tiêu diệt cả sự thống trị của chính nó với tư cách là một giai cấp. <br />
Thay cho xã hội tư sản cũ, với những giai cấp và đối kháng giai cấp của nó, sẽ xuất hiện một liên hợp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người.<br />
---------------<br />
Chú thích<br />
[6] Trong bản tiếng Anh xuất bản năm 1888 thay cho những chữ "những nguyên tắc riêng biệt" là những chữ "những nguyên tắc bè phái" <br />
[7] Trong bản tiếng Anh xuất bản năm 1888 thay cho những chữ "luôn luôn thúc đẩy phong trào tiến lên" là những chữ "tiên tiến nhất" <br />
[8] Trong bản tiếng Anh xuất bản năm 1888 thay cho những chữ "những người này bóc lột những người kia" là những chữ "thiểu số bóc lột đa số". <br />
[9] Trong bản tiếng Anh xuất bản năm 1888 thay cho những chữ "tự vươn lên thành giai cấp dân tộc" là những chữ tự vươn lên thành giai cấp chủ đạo trong dân tộc". <br />
[10] Trong bản tiếng Anh xuất bản năm 1888 sau những chữ "vượt quá bản thân chúng" còn có thêm những chữ "khiến tất yếu phải tiến công thêm một bước vào chế độ xã hội cũ"<br />
<br />
</span></div>]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản - Phần I : Tư sản và vô sản]]></title>
			<link>https://uhm.vn/forum/Thread-Tuy%C3%AAn-ng%C3%B4n-c%E1%BB%A7a-%C4%90%E1%BA%A3ng-C%E1%BB%99ng-s%E1%BA%A3n-Ph%E1%BA%A7n-I-T%C6%B0-s%E1%BA%A3n-v%C3%A0-v%C3%B4-s%E1%BA%A3n--15964</link>
			<pubDate>Sun, 30 Oct 2011 11:24:29 +0700</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://uhm.vn/forum/member.php?action=profile&uid=16547">CuBin.Black</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://uhm.vn/forum/Thread-Tuy%C3%AAn-ng%C3%B4n-c%E1%BB%A7a-%C4%90%E1%BA%A3ng-C%E1%BB%99ng-s%E1%BA%A3n-Ph%E1%BA%A7n-I-T%C6%B0-s%E1%BA%A3n-v%C3%A0-v%C3%B4-s%E1%BA%A3n--15964</guid>
			<description><![CDATA[<div style="text-align: left;" class="mycode_align"><span style="color: #000000;" class="mycode_color"><div style="text-align: right;" class="mycode_align"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Tác giả: K.Marx - F.Engels</span></div>
<br />
<br />
<br />
Lịch sử tất cả các xã hội tồn tại từ trước đến ngày nay[2] chỉ là lịch sử đấu tranh giai cấp.<br />
Người tự do và người nô lệ, quý tộc và bình dân, chúa đất và nông nô, thợ cả phường hội[3] và thợ bạn, nói tóm lại, những kẻ áp bức và những người bị áp bức, luôn luôn đối kháng với nhau, đã tiến hành một cuộc đấu tranh không ngừng, lúc công khai, lúc ngấm ngầm, một cuộc đấu tranh bao giờ cũng kết thúc hoặc bằng một cuộc cải tạo cách mạng toàn bộ xã hội, hoặc bằng sự diệt vong của hai giai cấp đấu tranh với nhau. <br />
Trong những thời đại lịch sử trước, hầu khắp mọi nơi, chúng ta đều thấy xã hội hoàn toàn chia thành những đẳng cấp khác nhau, một cái thang chia thành từng nấc thang địa vị xã hội. Ở La Mã thời cổ, chúng ta thấy có quý tộc, hiệp sĩ, bình dân, nô lệ; thời trung cổ thì có lãnh chúa phong kiến, chư hầu, thợ cả, thợ bạn, nông nô, và hơn nữa, hầu như mỗi giai cấp ấy, lại có những thứ bậc đặc biệt nữa. <br />
Xã hội tư sản hiện đại, sinh ra từ trong lòng xã hội phong kiến đã bị diệt vong, không xoá bỏ được những đối kháng giai cấp. Nó chỉ đem những giai cấp mới, những điều kiện áp bức mới, những hình thức đấu tranh mới thay thế những giai cấp, những điều kiện áp bức, những hình thức đấu tranh cũ mà thôi. <br />
Tuy nhiên, đặc điểm của thời đại chúng ta, thời đại của giai cấp tư sản, là đã đơn giản hoá những đối kháng giai cấp. Xã hội ngày càng chia thành hai phe lớn thù địch với nhau, hai giai cấp lớn hoàn toàn đối lập nhau: giai cấp tư sản và giai cấp vô sản. <br />
Từ những nông nô thời trung cổ, đã nảy sinh ra những thị dân tự do của các thành thị đầu tiên; từ dân cư thành thị này, nảy sinh ra những phần tử đầu tiên của giai cấp tư sản. <br />
Việc tìm ra Châu Mỹ và con đường biển vòng Châu phi đã đem lại một địa bàn hoạt động mới cho giai cấp tư sản vừa mới ra đời. Những thị trường Đông - Ấn và Trung Quốc, việc thực dân hoá Châu Mỹ, việc buôn bán với thuộc địa, việc tăng thêm nhiều tư liệu trao đổi và nói chung tăng thêm nhiều hàng hoá, đã đem lại cho thương nghiệp, cho ngành hàng hải, cho công nghiệp, một sự phát đạt chưa từng có, và do đấy, đã đem lại một sự phát triển mau chóng cho yếu tố cách mạng trong xã hội phong kiến đang tan rã. <br />
Tổ chức công nghiệp theo lối phong kiến hay phường hội trước kia không còn có thể thỏa mãn những nhu cầu luôn luôn tăng theo sự mở mang những thị trường mới. Công trường thủ công thay đổi tổ chức cũ ấy. Tầng lớp kinh doanh công nghiệp trung đẳng thay cho thợ cả phường hội; Sự phân công lao động giữa các phường hội khác nhau đã nhường chỗ cho sự phân công lao động bên trong từng xưởng thợ. <br />
Nhưng các thị trường cứ lớn lên không ngừng, nhu cầu luôn luôn tăng lên. Ngay cả công trường thủ công cũng không thoả mãn được nhu cầu đó nữa. Lúc ấy, hơi nước và máy móc dẫn đến một cuộc cách mạng trong công nghiệp. Đại công nghiệp hiện đại thay cho công trường thủ công; tầng lớp kinh doanh công nghiệp trung đẳng nhường chỗ cho các nhà công nghiệp triệu phú, cho những kẻ cầm đầu cả hàng loạt đạo quân công nghiệp, những tên tư sản hiện đại. <br />
Đại công nghiệp đã tạo ra thị trường thế giới, thị trường mà việc tìm ra châu Mỹ đã chuẩn bị sẵn. Thị trường thế giới thúc đẩy cho thương nghiệp, hàng hải, những phương tiện giao thông tiến bộ phát triển mau chóng lạ thường. Sự phát triển này lại tác động trở lại đến việc mở rộng công nghiệp; mà công nghiệp, thương nghiệp, hàng hải, đường sắt càng phát triển thì giai cấp tư sản càng lớn lên, làm tăng những tư bản của họ lên và đẩy các giai cấp do thời trung cổ để lại xuống phía sau. <br />
Như vậy, chúng ta thấy rằng bản thân giai cấp tư sản hiện đại cũng là sản phẩm của một quá trình phát triển lâu dài, của một loạt các cuộc cách mạng trong phương thức sản xuất và trao đổi. <br />
Mỗi bước phát triển của giai cấp tư sản đều có một bước tiến bộ chính trị tương ứng. Là đẳng cấp bị chế độ chuyên chế phong kiến áp bức; là đoàn thể vũ trang tự quản trong công xã[4]; ở nơi này, là cộng hoà thành thị độc lập; ở nơi kia, là đẳng cấp thứ ba phải đóng thuế trong chế độ quân chủ[5]; rồi suốt trong thời kỳ công trường thủ công, là lực lượng đối lập với tầng lớp quý tộc trong chế độ quân chủ theo đẳng cấp hay trong chế độ quân chủ chuyên chế; là cơ sở chủ yếu của những nước quân chủ lớn nói chung,- giai cấp tư sản, từ khi đại công nghiệp và thị trường thế giới được thiết lập, đã độc chiếm hẳn được quyền thống trị chính trị trong nước đại nghị hiện đại. Chính quyền nhà nước hiện đại chỉ là một uỷ ban quản lý những công việc chung của toàn thể giai cấp tư sản. <br />
Giai cấp tư sản đã đóng một vai trò hết sức cách mạng trong lịch sử. <br />
Bất cứ ở chỗ nào mà giai cấp tư sản chiếm được chính quyền thì nó đã đạp đổ những quan hệ phong kiến, gia trưởng và điền viên. Tất cả những mối quan hệ phức tạp và muôn màu muôn vẻ ràng buộc con người phong kiến với "những bề trên tự nhiên" của mình, đều bị giai cấp tư sản thẳng tay phá vỡ, không để lại giữa người và người một mối quan hệ nào khác, ngoài lợi ích trần trụi và lối "tiền trao cháo múc" không tình không nghĩa. Giai cấp tư sản đã dìm những xúc động thiêng liêng của lòng sùng đạo, của nhiệt tình hiệp sĩ, của tính đa cảm tiểu tư sản xuống dòng nước giá lạnh của sự tính toán ích kỷ. Nó đã biến phẩm giá của con người thành giá trị trao đổi; nó đã đem tự do buôn bán duy nhất và vô sỉ thay cho biết bao quyền tự do đã được ban cho và đã giành được một cách chính đáng. Tóm lại, giai cấp tư sản đã đem lại sự bóc lột công nhiên, vô sỉ, trực tiếp, tàn nhẫn thay cho sự bóc lột được che đậy bằng những ảo tưởng tôn giáo và chính trị. <br />
Giai cấp tư sản tước hết hào quang thần thánh của tất cả những hoạt động xưa nay vẫn được trọng vọng và tôn sùng. Bác sĩ, luật gia, tu sĩ, bác học đều bị giai cấp tư sản biến thành những người làm thuê được trả lương của nó. <br />
Giai cấp tư sản đã xé toang tấm màn tình cảm bao phủ những quan hệ gia đình và làm cho những quan hệ ấy chỉ còn là quan hệ tiền nong đơn thuần. <br />
Giai cấp tư sản đã cho thấy rằng biểu hiện tàn bạo của vũ lực trong thời trung cổ biểu hiện mà phe phản động hết sức ca ngợi, đã được bổ sung một cách tự nhiên bằng thói chây lười và bất động như thế nào. Chính giai cấp tư sản là giai cấp đầu tiên đã cho chúng ta thấy hoạt động của loài người có khả năng làm được những gì. Nó đã tạo ra những kỳ quan khác hẳn những kim tự tháp Ai-cập, những cầu dẫn ở nước La-mã, những nhà thờ kiểu Gô-tích; nó đã tiến hành những cuộc viễn chinh khác hẳn những cuộc di cư của các dân tộc và những cuộc chiến tranh thập tự. <br />
Giai cấp tư sản không thể tồn tại, nếu không luôn luôn cách mạng hoá công cụ sản xuất, do đó cách mạng hoá những quan hệ sản xuất, nghĩa là cách mạng hoá toàn bộ những quan hệ trong xã hội. Trái lại đối với tất cả các giai cấp công nghiệp trước kia thì việc duy trì nguyên vẹn phương thức sản xuất cũ là điều kiện kiên quyết cho sự tôn tại của họ. Sự đảo lộn liên tiếp của sản xuất, sự rung chuyển không ngừng trong tất cả những quan hệ xã hội, sự luôn luôn hoài nghi và sự vận động làm cho thời đại tư sản khác với tất cả các thời đại trước. Tất cả những quan hệ xã hội cứng đờ và hoen rỉ, với cả tràng những quan niệm và tư tưởng vốn được tôn sùng từ nghìn năm đi kèm những quan hệ ấy, đều đang tiêu tan; những quan hệ xã hội thay thế những quan hệ đó chưa kịp cứng lại thì đã già cỗi ngay. Tất cả những gì mang tính đẳng cấp và trí tuệ đều tiêu tan như mây khói; tất cả những gì là thiêng liêng đều bị ô uế, và rốt cuộc, mỗi người đều buộc phải nhìn những điều kiện sinh hoạt của họ và những quan hệ giữa họ với nhau bằng con mắt tỉnh táo. <br />
Vì luôn luôn bị thúc đẩy bởi nhu cầu về những nơi tiêu thụ sản phẩm, giai cấp tư sản sâm lấn khắp toàn cầu. Nó phải xâm nhập vào khắp nơi, trụ lại ở khắp nơi và thiết lập những mối liên hệ ở khắp nơi. <br />
Do bóp nặn thị trường thế giới, giai cấp tư sản đã làm cho sản xuất và tiêu dùng trong tất cả các nước mang tính chất thế giới. Mặc cho bọn phản động đau buồn, nó đã làm cho công nghiệp mất cơ sở dân tộc. Những ngành công nghiệp dân tộc đã bị tiêu diệt và đang ngày càng bị tiêu diệt. Những ngành công nghiệp dân tộc bị thay thế bởi những ngành công nghiệp mới, tức là những ngành công nghiệp mà việc thu nhập chúng trở thành một vấn đề sống còn đối với tất cả các dân tộc văn minh, những ngành công nghiệp không dùng những nguyên liệu bản sứ mà dùng những nguyên liệu đưa từ những miền xa xôi nhất trên trái đất đến và sản phẩm làm ra không những được tiêu thụ ngay trong sứ mà còn được tiêu thụ ở tất cả các nơi trên trái đất nữa. Thay cho những nhu cầu cũ được thoả mãn bằng những sản phẩm trong nước, thì nảy sinh ra những nhu cầu mới, đòi hỏi được thoả mãn bằng những sản phẩm đưa từ những miền và xứ xa xôi nhất về. Thay cho tình trạng cô lập trước kia của các địa phương và các dân tộc vẫn tự cung tự cấp, ta thấy phát triển những quan hệ phổ biến, sự phụ thuộc phổ biến giữa các dân tộc. Mà sản xuất vật chất đã như thế thì sản xuất tinh thần cũng không kém như thế. Những thành quả của hoạt động tinh thần của một dân tộc trở thành tài sản chung của tất cả các dân tộc. Tính chất đơn phương và phiến diện dân tộc ngày càng không thể tồn tại được nữa; và từ những nền văn học dân tộc và địa phương, muôn hình muôn vẻ, đang nảy nở ra một nền văn học toàn thế giới. <br />
Nhờ cải tiến mau chóng công cụ sản xuất và làm cho các phương tiện giao thông trở nên vô cùng tiện lợi, giai cấp tư sản lôi cuốn đến cả những dân tộc dã man nhất và trào lưu văn minh. Giá rẻ của những sản phẩm của giai cấp ấy là trọng pháo bắn thủng tất cả những vạn lý trường thành và buộc những người dã man bài ngoại một cách ngoan cường nhất cũng phải hàng phục. Nó buộc tất cả các dân tộc phải thực hành phương thức sản xuất tư sản, nếu không sẽ bị tiêu diệt; nó buộc tất cả các dân tộc phải du nhập cái gọi là văn minh, nghĩa là phải trở thành tư sản. Nói tóm lại, nó tạo ra cho nó một thế giới theo hình dạng của nó. <br />
Giai cấp tư sản bắt nông thôn phải phục tùng thành thị. Nó lập ra những đô thị đồ sộ; nó làm cho dân số thành thị tăng lên phi thường so với dân số nông thôn, và do đó, nó kéo một bộ phận lớn dân cư thoát khỏi vòng ngu muội của đời sống thôn dã. Cũng như nó đã bắt nông thôn phải phụ thuộc vào thành thị, bắt những nước dã man hay nửa dã man phải phụ thuộc vào các nước văn minh, nó đã bắt những dân tộc nông dân phải phụ thuộc vào những dân tộc tư sản, bắt phương Đông phải phụ thuộc vào phương Tây. <br />
Giai cấp tư sản ngày càng xoá bỏ tình trạng phân tán về tư liệu sản xuất, về tài sản và về dân cư. Nó tụ tập dân cư, tập trung các tư liệu sản xuất, và tích tụ tài sản vào trong tay một số ít người. Kết quả tất nhiên của những thay đổi ấy là sự tập trung về chính trị. Những địa phương độc lập, liên hệ với nhau hầu như chỉ bởi những quan hệ liên minh và có những lợi ích, luật lệ, chính phủ, thuế quan khác nhau, thì đã được tập hợp lại thành một dân tộc thống nhất, có một chính phủ thống nhất, một luật pháp thống nhất, một lợi ích dân tộc thống nhất mang tính giai cấp và một hàng rào thuế quan thống nhất. <br />
Giai cấp tư sản, trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại. Sự chinh phục những lực lượng thiên nhiên, sự sản xuất bằng máy móc, việc áp dụng hoá học vào công nghiệp và nông nghiệp, việc dùng tàu chạy bằng hơi nước, đường sắt, máy điện báo, việc khai phá từng lục địa nguyên vẹn, việc khai thông các dòng sông cho tầu bè đi lại được, hàng khối dân cư tựa hồ như từ dưới đất trôi lên, có thế kỷ nào trước đây lại ngờ được rằng có những lực lượng sản xuất như thế vẫn nằm tiềm tàng trong lòng lao động xã hội!. <br />
Vậy là chúng ta đã thấy rằng: những tư liệu sản xuất và trao đổi, làm cơ sở của giai cấp tư sản hình thành, đã tạo ra được từ trong lòng xã hội phong kiến. Những tư liệu sản xuất và trao đổi ấy phát triển tới một trình độ nhất định nào đó thì những quan hệ mà trong đó xã hội phong kiến tiến hành sản xuất và trao đổi, tổ chức nông nghiệp và công nghiệp theo lối phong kiến, nói tóm lại, những quan hệ sở hữu phong kiến không phù hợp với những lực lượng sản xuất đã phát triển. Những cái đó đã cản trở sản xuất, chứ không làm cho sản xuất tiến triển lên. Tất cả những cái đó đều biến thành xiềng xích. Phải đập tan những xiềng xích ấy, và qủa nhiên những xiềng xích ấy đã bị đập tan. <br />
Thay vào đó là sự cạnh tranh tự do, với một chế độ xã hội và chính trị thích ứng, với sự thống trị kinh tế và chính trị của giai cấp tư sản. <br />
Ngày nay, trước mắt chúng ta, đang diễn ra một quá trình tương tự. Xã hội tư sản hiện đại, với những quan hệ sản xuất và trao đổi tư sản của nó, với những quan hệ sở hữu tư sản, đã tạo ra những tư liệu sản xuất và trao đổi hết sức mạnh mẽ như thế, thì giờ đây, giống như một tay phù thuỷ không còn đủ sức trị những âm binh mà y đã triệu lên. Từ hàng chục năm nay, lịch sử công nghiệp và thương nghiệp không phải là cái gì khác hơn là lịch sử cuộc nổi dậy của lực lượng sản xuất hiện đại chống lại những quan hệ sản xuất hiện đại, chống lại những quan hệ sở hữu đang quyết định những tồn tại và sự thống trị của giai cấp tư sản. Để chứng minh điều đó, chỉ cần nêu ra các cuộc khủng hoảng thương nghiệp diễn đi diễn lại một cách chu kỳ và ngày càng đe doạ sự tồn tại của toàn xã hội tư sản. Mỗi cuộc khủng hoảng đều phá hoại không những một số lớn sản phẩm đã được tạo ra, mà cả một phần lớn chính ngay những lực lượng sản xuất đã có nữa. Một nạn dịch nếu ở một thời kỳ nào khác thì nạn dịch này hình như là một điều phi lý - thường gieo tai hoạ cho xã hội, đó là nạn dịch sản xuất thừa. Xã hội đột nhiện bị đẩy lùi về một trạng thái dã man nhất thời; dường như một nạn đói, một cuộc chiến tranh huỷ diệt đã tàn phá sạch mọi tư liệu sinh hoạt của xã hội; công nghiệp và thương nghiệp như bị tiêu diệt. Vì sao thế? Vì xã hội có quá thừa văn minh, có quá nhiều tư liệu sinh hoạt, quá nhiều công nghiệp, quá nhiều thương nghiệp. Những lực lượng sản xuất mà xã hội sẵn có, không thúc đẩy quan hệ sở hữu tư sản phát triển nữa; trái lại, chúng ta đã trở thành quá mạnh đối với quan hệ sở hữu ấy, cái quan hệ sở hữu lúc đó đang cản trở sự phát triển của chúng; và mỗi khi những lực lượng sản xuất xã hội khắc phục được sự cản trở ấy thì chúng lại xô toàn thể xã hội tư sản vào tình trạng rối loạn và đe doạ sự sống còn của sở hữu tư sản. Những quan hệ tư sản đã trở thành quá hẹp, không đủ để chứa đựng những của cải được tạo ra trong lòng nó nữa.- giai cấp tư sản khắc phục những cuộc khủng hoảng ấy như thế nào? Một mặt, bằng cách cưỡng bức phải huỷ bỏ một số lớn lực lượng sản xuất; mặt khác, bằng cách chiếm những thị trường mới và bóc lột triệt để hơn nữa những thị trường cũ. Như thế thì đi đến đâu? Đi đến chỗ chuẩn bị cho những cuộc khủng hoảng toàn diện hơn và ghê gớm hơn và giảm bớt những phương cách ngăn ngừa những cuộc khủng hoảng ấy. <br />
Những vũ khí mà giai cấp tư sản đã dùng để đánh đổ chế độ phong kiến thì ngày nay quay lạị đập vào ngay chính giai cấp tư sản. <br />
Những giai cấp tư sản không những đã rèn những vũ khí đã giết mình; nó còn tạo ra những người sử dụng vũ khí ấy chống lại nó, đó là những công nhân hiện đại, những người vô sản. <br />
Giai cấp tư sản, tức là tư bản, mà lớn lên thì giai cấp vô sản, giai cấp công nhân hiện đại - tức là giai cấp chỉ có thể sống với điều kiện là kiếm được việc làm, và chỉ kiếm được việc làm, nếu lao động của họ tăng thêm tư bản cũng phát triển theo. Những công nhân ấy, buộc phải tự bán mình để kiếm ăn từng bữa một, là một hàng hoá, tức là một món hàng đem bán như bất cứ một món hàng nào khác; vì thế họ phải chịu hết mọi sự may rủi của cạnh tranh, mọi sự lên xuống của thị trường với mức độ như nhau. <br />
Do sự phát triển của việc dùng máy móc và sự phân công, nên lao động của người vô sản mất hết tính chất độc lập, do đó họ mất hết hứng thú. Người công nhân trở thành một vật phụ thuộc giản đơn của máy móc, người ta chỉ đòi hỏi người công nhân làm được một công việc đơn giản nhất, đơn điệu nhất, dễ học nhất mà thôi. Do đó, chi phí một công nhân hầu như chỉ là còn là số tư liệu sinh hoạt cần thiết để duy trì đời sống và nòi giống của anh ta mà thôi. Nhưng giá cả lao động, cũng như giá cả hàng hoá, lại bằng chi phí sản xuất ra nó. Cho nên lao động càng trở nên thiếu hấp dẫn thì tiền công càng hạ. Hơn nữa, việc sử dụng máy móc và sự phân công mà tăng lên thì lượng lao động cũng tăng lên theo, hoặc là do tăng thêm giờ làm, hoặc là do tăng thêm lượng lao động phải tăng thêm lượng lao động phải làm trong một thời gian nhất định, do cho máy chạy tăng thêm,... <br />
Công nghiệp hiện đại đã biến xưởng thợ nhỏ của người thợ cả gia trưởng thành công xưởng lớn của nhà tư bản công nghiệp. Những khối đông đảo công dân, chen chúc nhau trong xưởng, được tổ chức theo lối quân sự. Là những người lính trơn của công nghiệp, họ bị đặt dưới quyền giám sát của cả một hệ thống cấp bậc sĩ quan và hạ sĩ quan. Họ không những là nô lệ của giai cấp tư sản, của nhà nước tư sản, mà hàng ngày, hàng giờ, còn là nô lệ của máy móc, của người đốc công và trước hết là của chính nhà tư sản chủ công xưởng. Chế độ chuyên chế ấy càng công khai tuyên bố lợi nhuận là mục đích duy nhất của nó thì nó lại càng trở thành ti tiện, bỉ ổi, đáng căm ghét. <br />
Lao động thủ công càng ít cần đến sự khéo léo và sức lực chừng nào, nghĩa là công nghiệp hiện đại càng tiến triển thì lao động của đàn ông càng được thay thế của đàn bà và trẻ em. Những sự phân biệt về lứa tuổi và giới tính không còn có ý nghĩa xã hội gì nữa đối với giai cấp công nhân. Tất cả đều là công cụ lao động mà chi phí thì thay đổi theo lứa tuổi và giới tính. <br />
Một khi người thợ đã bị chủ xưởng bóc lột và đã được trả tiền công rồi thì anh ta lại trở thành miếng mồi cho các phần tử khác trong giai cấp tư sản: chủ nhà thuê, chủ hiệu bán lẻ, kẻ cho vay nặng lãi,... <br />
Những nhà tiểu công nghiệp, tiểu thương nghiệp và người thực lợi nhỏ, thợ thủ công và nông dân là những tầng lớp dưới của tầng lớp trung đẳng xa kia, đều bị rơi xuống hàng ngũ giai cấp vô sản, một phần vì số vốn ít ỏi của họ không đủ cho phép họ quản lý những xí nghiệp, nên họ bị sự cạnh tranh của bọn tư bản hơn đánh bại, một phần vì sự khéo léo nhà nghề của họ bị những phương pháp sản xuất mới làm giảm giá trị đi. Thành thử giai cấp vô sản được tuyển mộ trong tất cả các giai cấp của dân cư. <br />
Giai cấp vô sản trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau. Cuộc đấu tranh của họ chống giai cấp tư sản bắt đầu ngay từ lúc họ mới ra đời. <br />
Thoạt đầu, cuộc đấu tranh được tiến hành bởi những công nhân riêng lẻ; kế đến, bởi những công nhân cùng một công xưởng; và sau đó, bởi những công nhân cùng một ngành công nghiệp, cùng một địa phương, chống lại người tư sản trực tiếp bóc lột họ. Họ không phải chỉ đả kích vào quan hệ sản xuất tư sản mà còn đánh ngay vào cả công cụ sản xuất nữa; họ phá huỷ hàng ngoại hoá cạnh tranh với họ, đập phá máy móc, đốt các công xưởng và ra sức giành lại địa vị đã mất của người thợ thủ công thời trung cổ. <br />
Trong giai đoạn đó, giai cấp vô sản còn là một khối quần chúng sống tản mạn trong cả nước và bị cạnh tranh chia nhỏ. Nếu có lúc quần chúng công nhân tập hợp nhau lại thì đó cũng chưa phải là kết quả của sự liên hợp của chính họ, mà là kết quả của sự liên hợp của giai cấp tư sản, nó muốn đạt những mục đích chính trị cả nó, nên phải huy động toàn thể giai cấp vô sản và tạm thời có khả năng huy động được như vậy. Bởi vậy, suốt trong giai đoạn này, những người vô sản chưa đánh kẻ thù của chính mình, mà đánh kẻ thù của kẻ thù của mình, tức là những tàn dư của chế độ quân chủ chuyên chế, bọn địa chủ, bọn tư sản phi công nghiệp, bọn tiểu tư sản. Toàn bộ sự vận động lịch sử được tập trung như vậy vào tay giai cấp tư sản; mọi thắng lợi đạt được trong những điều kiện ấy đều là thắng lợi của giai cấp tư sản. <br />
Nhưng sự phát triển của công nghiệp không những đã làm tăng thêm số người vô sản, mà còn tập hợp họ lại thành những khối quần chúng lớn hơn; lực lượng của những người vô sản tăng thêm và họ thấy rõ lực lượng của mình hơn. Máy móc càng xoá bỏ mọi sự khác nhau trong lao động và càng rút tiền công ở khắp mọi nơi xuống một mức thấp ngang nhau, thì lợi ích, điều kiện sinh hoạt của vô sản, càng dần dần ngang bằng nhau. Vì bọn tư sản ngày càng cạnh tranh với nhau hơn và vì khủng hoảng thương mại do sự cạnh tranh ấy sinh ra, cho nên tiền công càng trở nên bấp bênh; việc cải tiến máy móc không ngừng và ngày càng nhanh chóng hơn làm cho tình cảnh của công nhân ngày càng bấp bênh, những cuộc xung đột cá nhân giữa công nhân và tư sản ngày càng có tính chất những cuộc xung đột giữa hai giai cấp. Công nhân bắt đầu thành lập những Liên minh (Công đoàn) chống lại bọn tư sản để bảo vệ tiền công của mình. Thậm chí họ đi tới chỗ lập thành những đoàn thể thường trực để sẵn sàng đối phó, khi những cuộc xung đột bất ngờ xảy ra. Đây đó, đấu tranh nổ thành bạo động.<br />
Đôi khi công nhân thắng; nhưng đó là một thắng lợi tạm thời. Kết quả thực sự của những cuộc đấu tranh của họ là sự đoàn kết ngày càng rộng của những người lao động, hơn là sự thành công tức thời. Việc tăng thêm phương tiện giao thông do đại công nghiệp tạo ra, giúp cho công nhân các địa phương tiếp xúc với nhau, đã làm cho sự đoàn kết đó được dễ dàng. Mà chỉ tiếp xúc như vậy cũng đủ để tập trung nhiều cuộc đấu tranh địa phương, đâu đâu cũng mang tính chất giống nhau, thành một cuộc đấu tranh toàn quốc, thành một cuộc đấu tranh giai cấp. Nhưng bất cứ cuộc đấu tranh giai cấp nào cũng là một cuộc đấu tranh chính trị, và sự đoàn kết mà những thị dân thời trung cổ đã phải mất hàng thế kỷ mới xây dựng được bằng những con đường làng nhỏ hẹp của họ, thì những người vô sản hiện đại chỉ xây dựng trong một vài năm, nhờ có đường sắt.<br />
Sự tổ chức như vậy của người vô sản thành giai cấp và do đó thành chính đảng, luôn luôn bị sự cạnh tranh giữa công nhân với nhau phá vỡ. Nhưng nó luôn luôn được tái lập và luôn luôn mạnh mẽ hơn, vững chắc hơn, hùng mạnh hơn. Nó lợi dụng những bất hoà trong nội bộ giai cấp tư sản để buộc giai cấp tư sản phải thừa nhận, bằng luật pháp, một số quyền lợi của giai cấp công nhân : chẳng hạn như đạo luật 10 giờ ở Anh.<br />
Nói chung, những xung đột xảy ra trong xã hội cũ đã giúp bằng nhiều cách cho giai cấp vô sản phát triển. Giai cấp tư sản sống trong một trạng thái chiến tranh không ngừng : trước hết chống lại quý tộc; sau đó, chống lại các bộ phận của chính ngay giai cấp tư sản mà quyền lợi xung đột với sự tiến bộ của công nghiệp, và cuối cùng, luôn luôn chống lại giai cấp tư sản của tất cả các nước ngoài. Trong hết thảy những cuộc đấu tranh ấy, giai cấp tư sản tự thấy mình buộc phải kêu gọi giai cấp vô sản, yêu cầu họ giúp sức, và do đó, lôi cuốn họ vào phong trào chính trị. Thành thử giai cấp tư sản đã cung cấp cho những người vô sản một phần những tri thức chính trị và những tri thức phổ thông của bản thân nó, nghĩa là những vũ khí chống lại bản thân nó.<br />
Hơn nữa, như chúng ta vừa thấy, từng bộ phận trọn vẹn của giai cấp thống trị bị sự tiến bộ của công nghiệp đẩy vào hàng ngũ giai cấp vô sản, hay ít ra thì cũng bị đe doạ về mặt những điều kiện sinh hoạt của họ. Những bộ phận ấy cũng đem lại cho giai cấp vô sản nhiều tri thức.<br />
Cuối cùng, lúc mà đấu tranh giai cấp tiến gần đến giờ quyết định thì quá trình tan rã của giai cấp thống trị, của toàn xã hội cũ, mang một tính chất dữ dội và khốc liệt đến nỗi một bộ phận nhỏ của giai cấp thống trị tách ra khỏi giai cấp này và đi theo giai cấp của cách mạng, đi theo giai cấp đang nắm tương lai trong tay. Cũng như xa kia, một bộ phận của quý tộc chạy sang hàng ngũ giai cấp tư sản; ngày nay, một bộ phận của giai cấp tư sản cũng chạy sang hàng ngũ giai cấp vô sản, đó là bộ phận những nhà tư tưởng tư sản đã vươn lên nhận thức được, về mặt lý luận, toàn bộ quá trình vận động lịch sử. <br />
Trong tất cả các giai cấp hiện đang đối lập với giai cấp tư sản thì chỉ có giai cấp vô sản là giai cấp thực sự cách mạng. Tất cả các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, còn giai cấp vô sản lại là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp. <br />
Các tầng lớp trung đẳng là những tiểu công nghiệp, tiểu thương, thợ thủ công và nông dân, tất cả đều đấu tranh chống giai cấp tư sản để cứu lấy sự sống của họ với tính cách là những tầng lớp trung đẳng. Cho nên họ không cách mạng mà bảo thủ. Thậm chí, hơn thế nữa, họ lại là phản động: họ tìm cách làm cho bánh xe lịch sử quay ngược trở lại. Nếu họ có thái độ cách mạng thì cũng chỉ trong chừng mực là họ thấy họ sẽ phải rơi vào hàng ngũ giai cấp vô sản: lúc đó, họ bảo vệ lợi ích tương lai của họ, chứ không phải lợi ích hiện tại của họ, họ từ bỏ quan niệm của chính họ để đứng trên quan điểm của giai cấp vô sản. <br />
Còn tầng lớp vô sản lưu manh, cái sản phẩm tiêu cực ấy của sự thối rữa của những tầng lớp bên dưới nhất trong xã hội cũ, thì đây đó, có thể được cách mạng vô sản lôi cuốn vào phong trào, nhưng điều kiện sinh hoạt của họ lại khiến họ sẵn sàng bán mình cho những mưu đồ của phe phản động. <br />
Điều kiện sinh hoạt của xã hội cũ đã bị xoá bỏ trong những điều kiện sinh hoạt của giai cấp vô sản. Người vô sản không có tài sản; Quan hệ giữa anh ta với vợ con không còn giống một chút nào so với quan hệ gia đình tư sản; lao động công nghiệp hiện đại, tình trạng người công dân làm nô lệ cho tư bản, ở Anh cũng như ở Pháp, ở Mỹ cũng như ở Đức, làm cho người vô sản mất hết mọi tính chất dân tộc. Luật pháp, đạo đức, tôn giáo đều bị người vô sản coi là những thành kiến tư sản che giấu những lợi ích tư sản. <br />
Tất cả những giai cấp trước kia sau khi chiếm được chính quyền, đều ra sức củng cố địa vị mà họ đã nắm được bằng cách bắt toàn xã hội tuân theo những điều kiện đảm bảo cho phương thức chiếm hữu của chính chúng. Những người vô sản chỉ có thể giành được những lực lượng sản xuất xã hội bằng cách xoá bỏ phương thức chiếm hữu hiện nay của chính mình, và do đấy, xoá bỏ toàn bộ phương thức chiếm hữu nói chung đã tồn tại từ trước đến nay. Những người vô sản chẳng có gì là của mình để bảo vệ cả, họ phải phá huỷ hết thảy những cái gì, từ trước đến nay, vẫn bảo đảm và bảo vệ chế độ tư hữu. <br />
Tất cả những phong trào lịch sử, từ trước tới nay, đều là do thiểu số thực hiện, hoặc đều mưu cầu lợi ích cho thiểu số. Phong trào vô sản là phong trào độc lập của khối đại đa số, mưu cầu lợi ích cho khối đại đa số. Giai cấp vô sản, tầng lớp ở bên dưới nhất của xã hội hiện tại, không thể vùng dậy, vươn mình lên nếu không làm nổ tung toàn bộ cái thượng tầng kiến trúc bao gồm những tầng lớp cấu thành xã hội <br />
Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản, dù về mặt nội dung, không phải là một cuộc đấu tranh dân tộc, nhưng lúc đầu lại mang hình thức đấu tranh dân tộc. Đương nhiên là trước hết, giai cấp vô sản mỗi nước phải thanh toán xong giai cấp tư sản nước mình đã. <br />
Trong khi phác ra những nét lớn của các giai đoạn phát triển của giai cấp vô sản, chúng tôi đã nghiên cứu cuộc nội chiến ít nhiều mạng tính chất ngấm ngầm trong xã hội hiện nay cho đến khi cuộc nội chiến ấy nổ bung ra thành cách mạng công khai, mà giai cấp vô sản thiết lập sự thống trị của mình bằng cách dùng bạo lực lật đổ giai cấp tư sản. <br />
Tất cả những xã hội trước kia, như chúng ta đã thấy, đều dựa trên sự đối kháng giữa các giai cấp áp bức và các giai cấp bị áp bức. Nhưng muốn áp bức một giai cấp nào đó thì cần phải bảo đảm cho giai cấp ấy những điều kiện sinh sống khiến cho họ chí ít, cũng có thể sống được trong vòng nô lệ. Người nông nô trong chế độ nông nô, đã tiến tới chỗ trở nên một thành viên của công xã, cũng như tiểu tư sản đã vươn tới địa vị người tư sản, dưới ách của chế độ chuyên chế phong kiến. Người công nhân hiện đại, trái lại, đã không vươn lên được cùng với sự tiến bộ của công nghiệp, mà còn luôn luôn rơi xuống thấp hơn, dưới cả những điều kiện sinh sống của chính giai cấp họ. Người lao động trở thành một người nghèo khổ, và nạn nghèo khổ còn tăng lên nhanh hơn là dân số và của cải. Vậy hiển nhiên là giai cấp tư sản không có khả năng tiếp tục làm tròn vai trò giai cấp thống trị của mình trong toàn xã hội và buộc toàn xã hội phải chịu theo điều kiện sinh sống của giai cấp mình, coi đó là một quy luật chi phối tất cả. Nó không thể thống trị được nữa, vì nó không có thể đảm bảo cho người nô lệ của nó ngay cả một mức sống nô lệ, vì nó đã buộc phải để người nô lệ ấy rơi xuống tình trạng khiến nó phải nuôi người nô lệ ấy, chứ không phải người nô lệ ấy phải nuôi nó. Xã hội không thể sống dưới sự thống trị của giai cấp tư sản nữa, như thế có nghĩa là sự tồn tại của giai cấp tư sản không còn tương dung với sự tồn tại của xã hội nữa. <br />
Điều kiện căn bản của sự tồn tại và sự thống trị của giai cấp tư sản là sự tích luỹ của cải vào tay những tư nhân, là sự hình thành và tăng thêm tư bản. Điều kiện tồn tại của tư bản là lao động làm thuê. Lao động làm thuê hoàn toàn dựa vào sự cạnh tranh giữa công nhân với nhau. Sự tiến bộ của công nghiệp mà giai cấp tư sản là người đại diện mặc nhiên của nó và không đủ sức chống lại nó đem sự đoàn kết cách mạng của công nhân do liên hợp lại mà có, thay cho sự chia rẽ của công nhân do cạnh tranh giữa họ gây nên. Như vậy, cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, chính cái nền tảng trên đó giai cấp tư sản đã sản xuất và chiến hữu sản phẩm của nó, đã bị phá sập dưới chân giai cấp tư sản. Trước hết, giai cấp tư sản sản sinh ra những người đào huyệt chôn chính nó. Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu.<br />
------------------<br />
Chú thích<br />
[1] Giai cấp tư sản là giai cấp những nhà tư bản hiện đại, những người sở hữu tư liệu sản xuất xã hội và sử dụng lao động làm thuê. Giai cấp vô sản là giai cấp những công nhân làm thuê hiện đại, vì mất các tư liệu sản xuất của bản thân, nên buộc phải bán sức lao động của mình để sống. (Chú thích của Ăng-ghen cho lần xuất bản bằng tiếng Anh năm 1888) <br />
[2] Tức là toàn bộ lịch sử thành văn cho tới nay. Năm 1847, người ta vẫn hầu như hoàn toàn không biết tổ chức xã hộ trước toàn bộ lịch sử thành văn, tức là tiền sử của xã hội. Sau đó, Hắc-xtơ-hau-den đã phát hiện ra chế độ công hữu ruộng đất ở Nga. Mau-rơ đã chứng minh rằng chế độ công hữu ruộng đất là cái cơ sở xã hội làm điểm xuất phát cho sự phát triển lịch sử của tất cả các bộ lạc Đức, và người ta dần dần thấy rằng công xã nông thôn, với chế độ sở hữu chung ruộng đất, đang là hoặc đã là hình thức nguyên thuỷ của xã hội ở khắp nơi, từ ấn Độ đến Ai-rơ-len. Hình thức điển hình của kết cấu nội bộ của xã hội cộng sản nguyên thuỷ đó đã được Moóc-gan làm sáng tỏ khi ông phát hiện được thực chất của thị tộc và địa vị của nó trong bộ lạc. Cùng với sự tan rã của công xã nguyên thuỷ ấy, xã hội bắt đầu phân chia thành những giai cấp riêng biệt và cuối cùng là đối kháng. Tôi đã cố gắng trình bày quá trình ta rã đó trong tác phẩm "Der Ursprung der Familie, des Privateigentums und des staats". 2.Autl.. Stuttgart, 1886 ("Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước", xuất bản lần thứ hai. Stút-gát, 1886) (Chú thích của Ăng-ghen cho lần xuất bản bằng tiếng Anh năm 1888) <br />
[3] Thợ cả phường hội là thành viên có đầy đủ quyền hạn trong phường hội, là thợ cả trong phường hội, chứ không phải trùm phường. (Chú thích của Ăng-ghen cho lần xuất bản bằng tiếng Anh năm 1888) <br />
[4] Ở Pháp, những thành phố còn đang hình thành đã được gọi là "công xã" ngay cả trước khi những thành phố ấy giành lại được chế độ tự quản địa phương và những quyền chính trị của "đẳng cấp thứ ba" từ tay bọn lãnh chúa và chủ phong kiến. Nói chung, ở đây nước Anh được coi là nước điển hình về phương diện phát triển chính trị tư sản. (Chú thích của Ăng-ghen cho lần xuất bản bằng tiếng Anh năm 1888). <br />
Công xã là tên mà những người dân thành thị ở I-ta-li-a và Pháp gọi công xã thành thị của mình sau khi họ mua hoặc giành được từ tay bọn chủ phong kiến những quyền tự quản đầu tiên. (Chú thích của Ăng-ghen cho lần xuất bản bằng tiếng Đức năm 1890) <br />
[5] Trong bản tiếng Anh năm 1888 do Ăng-ghen hiệu đính sau những chữ "cộng hoà thành thị độc lập" có thêm những chữ "(như ở I-ta-li-a và ở Đức)". còn sau những chữ "đẳng cấp thứ ba phải đóng thuế trong chế độ quân chủ" có thêm những chữ "(như ở Pháp)"<br />
</span></div>]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div style="text-align: left;" class="mycode_align"><span style="color: #000000;" class="mycode_color"><div style="text-align: right;" class="mycode_align"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Tác giả: K.Marx - F.Engels</span></div>
<br />
<br />
<br />
Lịch sử tất cả các xã hội tồn tại từ trước đến ngày nay[2] chỉ là lịch sử đấu tranh giai cấp.<br />
Người tự do và người nô lệ, quý tộc và bình dân, chúa đất và nông nô, thợ cả phường hội[3] và thợ bạn, nói tóm lại, những kẻ áp bức và những người bị áp bức, luôn luôn đối kháng với nhau, đã tiến hành một cuộc đấu tranh không ngừng, lúc công khai, lúc ngấm ngầm, một cuộc đấu tranh bao giờ cũng kết thúc hoặc bằng một cuộc cải tạo cách mạng toàn bộ xã hội, hoặc bằng sự diệt vong của hai giai cấp đấu tranh với nhau. <br />
Trong những thời đại lịch sử trước, hầu khắp mọi nơi, chúng ta đều thấy xã hội hoàn toàn chia thành những đẳng cấp khác nhau, một cái thang chia thành từng nấc thang địa vị xã hội. Ở La Mã thời cổ, chúng ta thấy có quý tộc, hiệp sĩ, bình dân, nô lệ; thời trung cổ thì có lãnh chúa phong kiến, chư hầu, thợ cả, thợ bạn, nông nô, và hơn nữa, hầu như mỗi giai cấp ấy, lại có những thứ bậc đặc biệt nữa. <br />
Xã hội tư sản hiện đại, sinh ra từ trong lòng xã hội phong kiến đã bị diệt vong, không xoá bỏ được những đối kháng giai cấp. Nó chỉ đem những giai cấp mới, những điều kiện áp bức mới, những hình thức đấu tranh mới thay thế những giai cấp, những điều kiện áp bức, những hình thức đấu tranh cũ mà thôi. <br />
Tuy nhiên, đặc điểm của thời đại chúng ta, thời đại của giai cấp tư sản, là đã đơn giản hoá những đối kháng giai cấp. Xã hội ngày càng chia thành hai phe lớn thù địch với nhau, hai giai cấp lớn hoàn toàn đối lập nhau: giai cấp tư sản và giai cấp vô sản. <br />
Từ những nông nô thời trung cổ, đã nảy sinh ra những thị dân tự do của các thành thị đầu tiên; từ dân cư thành thị này, nảy sinh ra những phần tử đầu tiên của giai cấp tư sản. <br />
Việc tìm ra Châu Mỹ và con đường biển vòng Châu phi đã đem lại một địa bàn hoạt động mới cho giai cấp tư sản vừa mới ra đời. Những thị trường Đông - Ấn và Trung Quốc, việc thực dân hoá Châu Mỹ, việc buôn bán với thuộc địa, việc tăng thêm nhiều tư liệu trao đổi và nói chung tăng thêm nhiều hàng hoá, đã đem lại cho thương nghiệp, cho ngành hàng hải, cho công nghiệp, một sự phát đạt chưa từng có, và do đấy, đã đem lại một sự phát triển mau chóng cho yếu tố cách mạng trong xã hội phong kiến đang tan rã. <br />
Tổ chức công nghiệp theo lối phong kiến hay phường hội trước kia không còn có thể thỏa mãn những nhu cầu luôn luôn tăng theo sự mở mang những thị trường mới. Công trường thủ công thay đổi tổ chức cũ ấy. Tầng lớp kinh doanh công nghiệp trung đẳng thay cho thợ cả phường hội; Sự phân công lao động giữa các phường hội khác nhau đã nhường chỗ cho sự phân công lao động bên trong từng xưởng thợ. <br />
Nhưng các thị trường cứ lớn lên không ngừng, nhu cầu luôn luôn tăng lên. Ngay cả công trường thủ công cũng không thoả mãn được nhu cầu đó nữa. Lúc ấy, hơi nước và máy móc dẫn đến một cuộc cách mạng trong công nghiệp. Đại công nghiệp hiện đại thay cho công trường thủ công; tầng lớp kinh doanh công nghiệp trung đẳng nhường chỗ cho các nhà công nghiệp triệu phú, cho những kẻ cầm đầu cả hàng loạt đạo quân công nghiệp, những tên tư sản hiện đại. <br />
Đại công nghiệp đã tạo ra thị trường thế giới, thị trường mà việc tìm ra châu Mỹ đã chuẩn bị sẵn. Thị trường thế giới thúc đẩy cho thương nghiệp, hàng hải, những phương tiện giao thông tiến bộ phát triển mau chóng lạ thường. Sự phát triển này lại tác động trở lại đến việc mở rộng công nghiệp; mà công nghiệp, thương nghiệp, hàng hải, đường sắt càng phát triển thì giai cấp tư sản càng lớn lên, làm tăng những tư bản của họ lên và đẩy các giai cấp do thời trung cổ để lại xuống phía sau. <br />
Như vậy, chúng ta thấy rằng bản thân giai cấp tư sản hiện đại cũng là sản phẩm của một quá trình phát triển lâu dài, của một loạt các cuộc cách mạng trong phương thức sản xuất và trao đổi. <br />
Mỗi bước phát triển của giai cấp tư sản đều có một bước tiến bộ chính trị tương ứng. Là đẳng cấp bị chế độ chuyên chế phong kiến áp bức; là đoàn thể vũ trang tự quản trong công xã[4]; ở nơi này, là cộng hoà thành thị độc lập; ở nơi kia, là đẳng cấp thứ ba phải đóng thuế trong chế độ quân chủ[5]; rồi suốt trong thời kỳ công trường thủ công, là lực lượng đối lập với tầng lớp quý tộc trong chế độ quân chủ theo đẳng cấp hay trong chế độ quân chủ chuyên chế; là cơ sở chủ yếu của những nước quân chủ lớn nói chung,- giai cấp tư sản, từ khi đại công nghiệp và thị trường thế giới được thiết lập, đã độc chiếm hẳn được quyền thống trị chính trị trong nước đại nghị hiện đại. Chính quyền nhà nước hiện đại chỉ là một uỷ ban quản lý những công việc chung của toàn thể giai cấp tư sản. <br />
Giai cấp tư sản đã đóng một vai trò hết sức cách mạng trong lịch sử. <br />
Bất cứ ở chỗ nào mà giai cấp tư sản chiếm được chính quyền thì nó đã đạp đổ những quan hệ phong kiến, gia trưởng và điền viên. Tất cả những mối quan hệ phức tạp và muôn màu muôn vẻ ràng buộc con người phong kiến với "những bề trên tự nhiên" của mình, đều bị giai cấp tư sản thẳng tay phá vỡ, không để lại giữa người và người một mối quan hệ nào khác, ngoài lợi ích trần trụi và lối "tiền trao cháo múc" không tình không nghĩa. Giai cấp tư sản đã dìm những xúc động thiêng liêng của lòng sùng đạo, của nhiệt tình hiệp sĩ, của tính đa cảm tiểu tư sản xuống dòng nước giá lạnh của sự tính toán ích kỷ. Nó đã biến phẩm giá của con người thành giá trị trao đổi; nó đã đem tự do buôn bán duy nhất và vô sỉ thay cho biết bao quyền tự do đã được ban cho và đã giành được một cách chính đáng. Tóm lại, giai cấp tư sản đã đem lại sự bóc lột công nhiên, vô sỉ, trực tiếp, tàn nhẫn thay cho sự bóc lột được che đậy bằng những ảo tưởng tôn giáo và chính trị. <br />
Giai cấp tư sản tước hết hào quang thần thánh của tất cả những hoạt động xưa nay vẫn được trọng vọng và tôn sùng. Bác sĩ, luật gia, tu sĩ, bác học đều bị giai cấp tư sản biến thành những người làm thuê được trả lương của nó. <br />
Giai cấp tư sản đã xé toang tấm màn tình cảm bao phủ những quan hệ gia đình và làm cho những quan hệ ấy chỉ còn là quan hệ tiền nong đơn thuần. <br />
Giai cấp tư sản đã cho thấy rằng biểu hiện tàn bạo của vũ lực trong thời trung cổ biểu hiện mà phe phản động hết sức ca ngợi, đã được bổ sung một cách tự nhiên bằng thói chây lười và bất động như thế nào. Chính giai cấp tư sản là giai cấp đầu tiên đã cho chúng ta thấy hoạt động của loài người có khả năng làm được những gì. Nó đã tạo ra những kỳ quan khác hẳn những kim tự tháp Ai-cập, những cầu dẫn ở nước La-mã, những nhà thờ kiểu Gô-tích; nó đã tiến hành những cuộc viễn chinh khác hẳn những cuộc di cư của các dân tộc và những cuộc chiến tranh thập tự. <br />
Giai cấp tư sản không thể tồn tại, nếu không luôn luôn cách mạng hoá công cụ sản xuất, do đó cách mạng hoá những quan hệ sản xuất, nghĩa là cách mạng hoá toàn bộ những quan hệ trong xã hội. Trái lại đối với tất cả các giai cấp công nghiệp trước kia thì việc duy trì nguyên vẹn phương thức sản xuất cũ là điều kiện kiên quyết cho sự tôn tại của họ. Sự đảo lộn liên tiếp của sản xuất, sự rung chuyển không ngừng trong tất cả những quan hệ xã hội, sự luôn luôn hoài nghi và sự vận động làm cho thời đại tư sản khác với tất cả các thời đại trước. Tất cả những quan hệ xã hội cứng đờ và hoen rỉ, với cả tràng những quan niệm và tư tưởng vốn được tôn sùng từ nghìn năm đi kèm những quan hệ ấy, đều đang tiêu tan; những quan hệ xã hội thay thế những quan hệ đó chưa kịp cứng lại thì đã già cỗi ngay. Tất cả những gì mang tính đẳng cấp và trí tuệ đều tiêu tan như mây khói; tất cả những gì là thiêng liêng đều bị ô uế, và rốt cuộc, mỗi người đều buộc phải nhìn những điều kiện sinh hoạt của họ và những quan hệ giữa họ với nhau bằng con mắt tỉnh táo. <br />
Vì luôn luôn bị thúc đẩy bởi nhu cầu về những nơi tiêu thụ sản phẩm, giai cấp tư sản sâm lấn khắp toàn cầu. Nó phải xâm nhập vào khắp nơi, trụ lại ở khắp nơi và thiết lập những mối liên hệ ở khắp nơi. <br />
Do bóp nặn thị trường thế giới, giai cấp tư sản đã làm cho sản xuất và tiêu dùng trong tất cả các nước mang tính chất thế giới. Mặc cho bọn phản động đau buồn, nó đã làm cho công nghiệp mất cơ sở dân tộc. Những ngành công nghiệp dân tộc đã bị tiêu diệt và đang ngày càng bị tiêu diệt. Những ngành công nghiệp dân tộc bị thay thế bởi những ngành công nghiệp mới, tức là những ngành công nghiệp mà việc thu nhập chúng trở thành một vấn đề sống còn đối với tất cả các dân tộc văn minh, những ngành công nghiệp không dùng những nguyên liệu bản sứ mà dùng những nguyên liệu đưa từ những miền xa xôi nhất trên trái đất đến và sản phẩm làm ra không những được tiêu thụ ngay trong sứ mà còn được tiêu thụ ở tất cả các nơi trên trái đất nữa. Thay cho những nhu cầu cũ được thoả mãn bằng những sản phẩm trong nước, thì nảy sinh ra những nhu cầu mới, đòi hỏi được thoả mãn bằng những sản phẩm đưa từ những miền và xứ xa xôi nhất về. Thay cho tình trạng cô lập trước kia của các địa phương và các dân tộc vẫn tự cung tự cấp, ta thấy phát triển những quan hệ phổ biến, sự phụ thuộc phổ biến giữa các dân tộc. Mà sản xuất vật chất đã như thế thì sản xuất tinh thần cũng không kém như thế. Những thành quả của hoạt động tinh thần của một dân tộc trở thành tài sản chung của tất cả các dân tộc. Tính chất đơn phương và phiến diện dân tộc ngày càng không thể tồn tại được nữa; và từ những nền văn học dân tộc và địa phương, muôn hình muôn vẻ, đang nảy nở ra một nền văn học toàn thế giới. <br />
Nhờ cải tiến mau chóng công cụ sản xuất và làm cho các phương tiện giao thông trở nên vô cùng tiện lợi, giai cấp tư sản lôi cuốn đến cả những dân tộc dã man nhất và trào lưu văn minh. Giá rẻ của những sản phẩm của giai cấp ấy là trọng pháo bắn thủng tất cả những vạn lý trường thành và buộc những người dã man bài ngoại một cách ngoan cường nhất cũng phải hàng phục. Nó buộc tất cả các dân tộc phải thực hành phương thức sản xuất tư sản, nếu không sẽ bị tiêu diệt; nó buộc tất cả các dân tộc phải du nhập cái gọi là văn minh, nghĩa là phải trở thành tư sản. Nói tóm lại, nó tạo ra cho nó một thế giới theo hình dạng của nó. <br />
Giai cấp tư sản bắt nông thôn phải phục tùng thành thị. Nó lập ra những đô thị đồ sộ; nó làm cho dân số thành thị tăng lên phi thường so với dân số nông thôn, và do đó, nó kéo một bộ phận lớn dân cư thoát khỏi vòng ngu muội của đời sống thôn dã. Cũng như nó đã bắt nông thôn phải phụ thuộc vào thành thị, bắt những nước dã man hay nửa dã man phải phụ thuộc vào các nước văn minh, nó đã bắt những dân tộc nông dân phải phụ thuộc vào những dân tộc tư sản, bắt phương Đông phải phụ thuộc vào phương Tây. <br />
Giai cấp tư sản ngày càng xoá bỏ tình trạng phân tán về tư liệu sản xuất, về tài sản và về dân cư. Nó tụ tập dân cư, tập trung các tư liệu sản xuất, và tích tụ tài sản vào trong tay một số ít người. Kết quả tất nhiên của những thay đổi ấy là sự tập trung về chính trị. Những địa phương độc lập, liên hệ với nhau hầu như chỉ bởi những quan hệ liên minh và có những lợi ích, luật lệ, chính phủ, thuế quan khác nhau, thì đã được tập hợp lại thành một dân tộc thống nhất, có một chính phủ thống nhất, một luật pháp thống nhất, một lợi ích dân tộc thống nhất mang tính giai cấp và một hàng rào thuế quan thống nhất. <br />
Giai cấp tư sản, trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại. Sự chinh phục những lực lượng thiên nhiên, sự sản xuất bằng máy móc, việc áp dụng hoá học vào công nghiệp và nông nghiệp, việc dùng tàu chạy bằng hơi nước, đường sắt, máy điện báo, việc khai phá từng lục địa nguyên vẹn, việc khai thông các dòng sông cho tầu bè đi lại được, hàng khối dân cư tựa hồ như từ dưới đất trôi lên, có thế kỷ nào trước đây lại ngờ được rằng có những lực lượng sản xuất như thế vẫn nằm tiềm tàng trong lòng lao động xã hội!. <br />
Vậy là chúng ta đã thấy rằng: những tư liệu sản xuất và trao đổi, làm cơ sở của giai cấp tư sản hình thành, đã tạo ra được từ trong lòng xã hội phong kiến. Những tư liệu sản xuất và trao đổi ấy phát triển tới một trình độ nhất định nào đó thì những quan hệ mà trong đó xã hội phong kiến tiến hành sản xuất và trao đổi, tổ chức nông nghiệp và công nghiệp theo lối phong kiến, nói tóm lại, những quan hệ sở hữu phong kiến không phù hợp với những lực lượng sản xuất đã phát triển. Những cái đó đã cản trở sản xuất, chứ không làm cho sản xuất tiến triển lên. Tất cả những cái đó đều biến thành xiềng xích. Phải đập tan những xiềng xích ấy, và qủa nhiên những xiềng xích ấy đã bị đập tan. <br />
Thay vào đó là sự cạnh tranh tự do, với một chế độ xã hội và chính trị thích ứng, với sự thống trị kinh tế và chính trị của giai cấp tư sản. <br />
Ngày nay, trước mắt chúng ta, đang diễn ra một quá trình tương tự. Xã hội tư sản hiện đại, với những quan hệ sản xuất và trao đổi tư sản của nó, với những quan hệ sở hữu tư sản, đã tạo ra những tư liệu sản xuất và trao đổi hết sức mạnh mẽ như thế, thì giờ đây, giống như một tay phù thuỷ không còn đủ sức trị những âm binh mà y đã triệu lên. Từ hàng chục năm nay, lịch sử công nghiệp và thương nghiệp không phải là cái gì khác hơn là lịch sử cuộc nổi dậy của lực lượng sản xuất hiện đại chống lại những quan hệ sản xuất hiện đại, chống lại những quan hệ sở hữu đang quyết định những tồn tại và sự thống trị của giai cấp tư sản. Để chứng minh điều đó, chỉ cần nêu ra các cuộc khủng hoảng thương nghiệp diễn đi diễn lại một cách chu kỳ và ngày càng đe doạ sự tồn tại của toàn xã hội tư sản. Mỗi cuộc khủng hoảng đều phá hoại không những một số lớn sản phẩm đã được tạo ra, mà cả một phần lớn chính ngay những lực lượng sản xuất đã có nữa. Một nạn dịch nếu ở một thời kỳ nào khác thì nạn dịch này hình như là một điều phi lý - thường gieo tai hoạ cho xã hội, đó là nạn dịch sản xuất thừa. Xã hội đột nhiện bị đẩy lùi về một trạng thái dã man nhất thời; dường như một nạn đói, một cuộc chiến tranh huỷ diệt đã tàn phá sạch mọi tư liệu sinh hoạt của xã hội; công nghiệp và thương nghiệp như bị tiêu diệt. Vì sao thế? Vì xã hội có quá thừa văn minh, có quá nhiều tư liệu sinh hoạt, quá nhiều công nghiệp, quá nhiều thương nghiệp. Những lực lượng sản xuất mà xã hội sẵn có, không thúc đẩy quan hệ sở hữu tư sản phát triển nữa; trái lại, chúng ta đã trở thành quá mạnh đối với quan hệ sở hữu ấy, cái quan hệ sở hữu lúc đó đang cản trở sự phát triển của chúng; và mỗi khi những lực lượng sản xuất xã hội khắc phục được sự cản trở ấy thì chúng lại xô toàn thể xã hội tư sản vào tình trạng rối loạn và đe doạ sự sống còn của sở hữu tư sản. Những quan hệ tư sản đã trở thành quá hẹp, không đủ để chứa đựng những của cải được tạo ra trong lòng nó nữa.- giai cấp tư sản khắc phục những cuộc khủng hoảng ấy như thế nào? Một mặt, bằng cách cưỡng bức phải huỷ bỏ một số lớn lực lượng sản xuất; mặt khác, bằng cách chiếm những thị trường mới và bóc lột triệt để hơn nữa những thị trường cũ. Như thế thì đi đến đâu? Đi đến chỗ chuẩn bị cho những cuộc khủng hoảng toàn diện hơn và ghê gớm hơn và giảm bớt những phương cách ngăn ngừa những cuộc khủng hoảng ấy. <br />
Những vũ khí mà giai cấp tư sản đã dùng để đánh đổ chế độ phong kiến thì ngày nay quay lạị đập vào ngay chính giai cấp tư sản. <br />
Những giai cấp tư sản không những đã rèn những vũ khí đã giết mình; nó còn tạo ra những người sử dụng vũ khí ấy chống lại nó, đó là những công nhân hiện đại, những người vô sản. <br />
Giai cấp tư sản, tức là tư bản, mà lớn lên thì giai cấp vô sản, giai cấp công nhân hiện đại - tức là giai cấp chỉ có thể sống với điều kiện là kiếm được việc làm, và chỉ kiếm được việc làm, nếu lao động của họ tăng thêm tư bản cũng phát triển theo. Những công nhân ấy, buộc phải tự bán mình để kiếm ăn từng bữa một, là một hàng hoá, tức là một món hàng đem bán như bất cứ một món hàng nào khác; vì thế họ phải chịu hết mọi sự may rủi của cạnh tranh, mọi sự lên xuống của thị trường với mức độ như nhau. <br />
Do sự phát triển của việc dùng máy móc và sự phân công, nên lao động của người vô sản mất hết tính chất độc lập, do đó họ mất hết hứng thú. Người công nhân trở thành một vật phụ thuộc giản đơn của máy móc, người ta chỉ đòi hỏi người công nhân làm được một công việc đơn giản nhất, đơn điệu nhất, dễ học nhất mà thôi. Do đó, chi phí một công nhân hầu như chỉ là còn là số tư liệu sinh hoạt cần thiết để duy trì đời sống và nòi giống của anh ta mà thôi. Nhưng giá cả lao động, cũng như giá cả hàng hoá, lại bằng chi phí sản xuất ra nó. Cho nên lao động càng trở nên thiếu hấp dẫn thì tiền công càng hạ. Hơn nữa, việc sử dụng máy móc và sự phân công mà tăng lên thì lượng lao động cũng tăng lên theo, hoặc là do tăng thêm giờ làm, hoặc là do tăng thêm lượng lao động phải tăng thêm lượng lao động phải làm trong một thời gian nhất định, do cho máy chạy tăng thêm,... <br />
Công nghiệp hiện đại đã biến xưởng thợ nhỏ của người thợ cả gia trưởng thành công xưởng lớn của nhà tư bản công nghiệp. Những khối đông đảo công dân, chen chúc nhau trong xưởng, được tổ chức theo lối quân sự. Là những người lính trơn của công nghiệp, họ bị đặt dưới quyền giám sát của cả một hệ thống cấp bậc sĩ quan và hạ sĩ quan. Họ không những là nô lệ của giai cấp tư sản, của nhà nước tư sản, mà hàng ngày, hàng giờ, còn là nô lệ của máy móc, của người đốc công và trước hết là của chính nhà tư sản chủ công xưởng. Chế độ chuyên chế ấy càng công khai tuyên bố lợi nhuận là mục đích duy nhất của nó thì nó lại càng trở thành ti tiện, bỉ ổi, đáng căm ghét. <br />
Lao động thủ công càng ít cần đến sự khéo léo và sức lực chừng nào, nghĩa là công nghiệp hiện đại càng tiến triển thì lao động của đàn ông càng được thay thế của đàn bà và trẻ em. Những sự phân biệt về lứa tuổi và giới tính không còn có ý nghĩa xã hội gì nữa đối với giai cấp công nhân. Tất cả đều là công cụ lao động mà chi phí thì thay đổi theo lứa tuổi và giới tính. <br />
Một khi người thợ đã bị chủ xưởng bóc lột và đã được trả tiền công rồi thì anh ta lại trở thành miếng mồi cho các phần tử khác trong giai cấp tư sản: chủ nhà thuê, chủ hiệu bán lẻ, kẻ cho vay nặng lãi,... <br />
Những nhà tiểu công nghiệp, tiểu thương nghiệp và người thực lợi nhỏ, thợ thủ công và nông dân là những tầng lớp dưới của tầng lớp trung đẳng xa kia, đều bị rơi xuống hàng ngũ giai cấp vô sản, một phần vì số vốn ít ỏi của họ không đủ cho phép họ quản lý những xí nghiệp, nên họ bị sự cạnh tranh của bọn tư bản hơn đánh bại, một phần vì sự khéo léo nhà nghề của họ bị những phương pháp sản xuất mới làm giảm giá trị đi. Thành thử giai cấp vô sản được tuyển mộ trong tất cả các giai cấp của dân cư. <br />
Giai cấp vô sản trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau. Cuộc đấu tranh của họ chống giai cấp tư sản bắt đầu ngay từ lúc họ mới ra đời. <br />
Thoạt đầu, cuộc đấu tranh được tiến hành bởi những công nhân riêng lẻ; kế đến, bởi những công nhân cùng một công xưởng; và sau đó, bởi những công nhân cùng một ngành công nghiệp, cùng một địa phương, chống lại người tư sản trực tiếp bóc lột họ. Họ không phải chỉ đả kích vào quan hệ sản xuất tư sản mà còn đánh ngay vào cả công cụ sản xuất nữa; họ phá huỷ hàng ngoại hoá cạnh tranh với họ, đập phá máy móc, đốt các công xưởng và ra sức giành lại địa vị đã mất của người thợ thủ công thời trung cổ. <br />
Trong giai đoạn đó, giai cấp vô sản còn là một khối quần chúng sống tản mạn trong cả nước và bị cạnh tranh chia nhỏ. Nếu có lúc quần chúng công nhân tập hợp nhau lại thì đó cũng chưa phải là kết quả của sự liên hợp của chính họ, mà là kết quả của sự liên hợp của giai cấp tư sản, nó muốn đạt những mục đích chính trị cả nó, nên phải huy động toàn thể giai cấp vô sản và tạm thời có khả năng huy động được như vậy. Bởi vậy, suốt trong giai đoạn này, những người vô sản chưa đánh kẻ thù của chính mình, mà đánh kẻ thù của kẻ thù của mình, tức là những tàn dư của chế độ quân chủ chuyên chế, bọn địa chủ, bọn tư sản phi công nghiệp, bọn tiểu tư sản. Toàn bộ sự vận động lịch sử được tập trung như vậy vào tay giai cấp tư sản; mọi thắng lợi đạt được trong những điều kiện ấy đều là thắng lợi của giai cấp tư sản. <br />
Nhưng sự phát triển của công nghiệp không những đã làm tăng thêm số người vô sản, mà còn tập hợp họ lại thành những khối quần chúng lớn hơn; lực lượng của những người vô sản tăng thêm và họ thấy rõ lực lượng của mình hơn. Máy móc càng xoá bỏ mọi sự khác nhau trong lao động và càng rút tiền công ở khắp mọi nơi xuống một mức thấp ngang nhau, thì lợi ích, điều kiện sinh hoạt của vô sản, càng dần dần ngang bằng nhau. Vì bọn tư sản ngày càng cạnh tranh với nhau hơn và vì khủng hoảng thương mại do sự cạnh tranh ấy sinh ra, cho nên tiền công càng trở nên bấp bênh; việc cải tiến máy móc không ngừng và ngày càng nhanh chóng hơn làm cho tình cảnh của công nhân ngày càng bấp bênh, những cuộc xung đột cá nhân giữa công nhân và tư sản ngày càng có tính chất những cuộc xung đột giữa hai giai cấp. Công nhân bắt đầu thành lập những Liên minh (Công đoàn) chống lại bọn tư sản để bảo vệ tiền công của mình. Thậm chí họ đi tới chỗ lập thành những đoàn thể thường trực để sẵn sàng đối phó, khi những cuộc xung đột bất ngờ xảy ra. Đây đó, đấu tranh nổ thành bạo động.<br />
Đôi khi công nhân thắng; nhưng đó là một thắng lợi tạm thời. Kết quả thực sự của những cuộc đấu tranh của họ là sự đoàn kết ngày càng rộng của những người lao động, hơn là sự thành công tức thời. Việc tăng thêm phương tiện giao thông do đại công nghiệp tạo ra, giúp cho công nhân các địa phương tiếp xúc với nhau, đã làm cho sự đoàn kết đó được dễ dàng. Mà chỉ tiếp xúc như vậy cũng đủ để tập trung nhiều cuộc đấu tranh địa phương, đâu đâu cũng mang tính chất giống nhau, thành một cuộc đấu tranh toàn quốc, thành một cuộc đấu tranh giai cấp. Nhưng bất cứ cuộc đấu tranh giai cấp nào cũng là một cuộc đấu tranh chính trị, và sự đoàn kết mà những thị dân thời trung cổ đã phải mất hàng thế kỷ mới xây dựng được bằng những con đường làng nhỏ hẹp của họ, thì những người vô sản hiện đại chỉ xây dựng trong một vài năm, nhờ có đường sắt.<br />
Sự tổ chức như vậy của người vô sản thành giai cấp và do đó thành chính đảng, luôn luôn bị sự cạnh tranh giữa công nhân với nhau phá vỡ. Nhưng nó luôn luôn được tái lập và luôn luôn mạnh mẽ hơn, vững chắc hơn, hùng mạnh hơn. Nó lợi dụng những bất hoà trong nội bộ giai cấp tư sản để buộc giai cấp tư sản phải thừa nhận, bằng luật pháp, một số quyền lợi của giai cấp công nhân : chẳng hạn như đạo luật 10 giờ ở Anh.<br />
Nói chung, những xung đột xảy ra trong xã hội cũ đã giúp bằng nhiều cách cho giai cấp vô sản phát triển. Giai cấp tư sản sống trong một trạng thái chiến tranh không ngừng : trước hết chống lại quý tộc; sau đó, chống lại các bộ phận của chính ngay giai cấp tư sản mà quyền lợi xung đột với sự tiến bộ của công nghiệp, và cuối cùng, luôn luôn chống lại giai cấp tư sản của tất cả các nước ngoài. Trong hết thảy những cuộc đấu tranh ấy, giai cấp tư sản tự thấy mình buộc phải kêu gọi giai cấp vô sản, yêu cầu họ giúp sức, và do đó, lôi cuốn họ vào phong trào chính trị. Thành thử giai cấp tư sản đã cung cấp cho những người vô sản một phần những tri thức chính trị và những tri thức phổ thông của bản thân nó, nghĩa là những vũ khí chống lại bản thân nó.<br />
Hơn nữa, như chúng ta vừa thấy, từng bộ phận trọn vẹn của giai cấp thống trị bị sự tiến bộ của công nghiệp đẩy vào hàng ngũ giai cấp vô sản, hay ít ra thì cũng bị đe doạ về mặt những điều kiện sinh hoạt của họ. Những bộ phận ấy cũng đem lại cho giai cấp vô sản nhiều tri thức.<br />
Cuối cùng, lúc mà đấu tranh giai cấp tiến gần đến giờ quyết định thì quá trình tan rã của giai cấp thống trị, của toàn xã hội cũ, mang một tính chất dữ dội và khốc liệt đến nỗi một bộ phận nhỏ của giai cấp thống trị tách ra khỏi giai cấp này và đi theo giai cấp của cách mạng, đi theo giai cấp đang nắm tương lai trong tay. Cũng như xa kia, một bộ phận của quý tộc chạy sang hàng ngũ giai cấp tư sản; ngày nay, một bộ phận của giai cấp tư sản cũng chạy sang hàng ngũ giai cấp vô sản, đó là bộ phận những nhà tư tưởng tư sản đã vươn lên nhận thức được, về mặt lý luận, toàn bộ quá trình vận động lịch sử. <br />
Trong tất cả các giai cấp hiện đang đối lập với giai cấp tư sản thì chỉ có giai cấp vô sản là giai cấp thực sự cách mạng. Tất cả các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, còn giai cấp vô sản lại là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp. <br />
Các tầng lớp trung đẳng là những tiểu công nghiệp, tiểu thương, thợ thủ công và nông dân, tất cả đều đấu tranh chống giai cấp tư sản để cứu lấy sự sống của họ với tính cách là những tầng lớp trung đẳng. Cho nên họ không cách mạng mà bảo thủ. Thậm chí, hơn thế nữa, họ lại là phản động: họ tìm cách làm cho bánh xe lịch sử quay ngược trở lại. Nếu họ có thái độ cách mạng thì cũng chỉ trong chừng mực là họ thấy họ sẽ phải rơi vào hàng ngũ giai cấp vô sản: lúc đó, họ bảo vệ lợi ích tương lai của họ, chứ không phải lợi ích hiện tại của họ, họ từ bỏ quan niệm của chính họ để đứng trên quan điểm của giai cấp vô sản. <br />
Còn tầng lớp vô sản lưu manh, cái sản phẩm tiêu cực ấy của sự thối rữa của những tầng lớp bên dưới nhất trong xã hội cũ, thì đây đó, có thể được cách mạng vô sản lôi cuốn vào phong trào, nhưng điều kiện sinh hoạt của họ lại khiến họ sẵn sàng bán mình cho những mưu đồ của phe phản động. <br />
Điều kiện sinh hoạt của xã hội cũ đã bị xoá bỏ trong những điều kiện sinh hoạt của giai cấp vô sản. Người vô sản không có tài sản; Quan hệ giữa anh ta với vợ con không còn giống một chút nào so với quan hệ gia đình tư sản; lao động công nghiệp hiện đại, tình trạng người công dân làm nô lệ cho tư bản, ở Anh cũng như ở Pháp, ở Mỹ cũng như ở Đức, làm cho người vô sản mất hết mọi tính chất dân tộc. Luật pháp, đạo đức, tôn giáo đều bị người vô sản coi là những thành kiến tư sản che giấu những lợi ích tư sản. <br />
Tất cả những giai cấp trước kia sau khi chiếm được chính quyền, đều ra sức củng cố địa vị mà họ đã nắm được bằng cách bắt toàn xã hội tuân theo những điều kiện đảm bảo cho phương thức chiếm hữu của chính chúng. Những người vô sản chỉ có thể giành được những lực lượng sản xuất xã hội bằng cách xoá bỏ phương thức chiếm hữu hiện nay của chính mình, và do đấy, xoá bỏ toàn bộ phương thức chiếm hữu nói chung đã tồn tại từ trước đến nay. Những người vô sản chẳng có gì là của mình để bảo vệ cả, họ phải phá huỷ hết thảy những cái gì, từ trước đến nay, vẫn bảo đảm và bảo vệ chế độ tư hữu. <br />
Tất cả những phong trào lịch sử, từ trước tới nay, đều là do thiểu số thực hiện, hoặc đều mưu cầu lợi ích cho thiểu số. Phong trào vô sản là phong trào độc lập của khối đại đa số, mưu cầu lợi ích cho khối đại đa số. Giai cấp vô sản, tầng lớp ở bên dưới nhất của xã hội hiện tại, không thể vùng dậy, vươn mình lên nếu không làm nổ tung toàn bộ cái thượng tầng kiến trúc bao gồm những tầng lớp cấu thành xã hội <br />
Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản, dù về mặt nội dung, không phải là một cuộc đấu tranh dân tộc, nhưng lúc đầu lại mang hình thức đấu tranh dân tộc. Đương nhiên là trước hết, giai cấp vô sản mỗi nước phải thanh toán xong giai cấp tư sản nước mình đã. <br />
Trong khi phác ra những nét lớn của các giai đoạn phát triển của giai cấp vô sản, chúng tôi đã nghiên cứu cuộc nội chiến ít nhiều mạng tính chất ngấm ngầm trong xã hội hiện nay cho đến khi cuộc nội chiến ấy nổ bung ra thành cách mạng công khai, mà giai cấp vô sản thiết lập sự thống trị của mình bằng cách dùng bạo lực lật đổ giai cấp tư sản. <br />
Tất cả những xã hội trước kia, như chúng ta đã thấy, đều dựa trên sự đối kháng giữa các giai cấp áp bức và các giai cấp bị áp bức. Nhưng muốn áp bức một giai cấp nào đó thì cần phải bảo đảm cho giai cấp ấy những điều kiện sinh sống khiến cho họ chí ít, cũng có thể sống được trong vòng nô lệ. Người nông nô trong chế độ nông nô, đã tiến tới chỗ trở nên một thành viên của công xã, cũng như tiểu tư sản đã vươn tới địa vị người tư sản, dưới ách của chế độ chuyên chế phong kiến. Người công nhân hiện đại, trái lại, đã không vươn lên được cùng với sự tiến bộ của công nghiệp, mà còn luôn luôn rơi xuống thấp hơn, dưới cả những điều kiện sinh sống của chính giai cấp họ. Người lao động trở thành một người nghèo khổ, và nạn nghèo khổ còn tăng lên nhanh hơn là dân số và của cải. Vậy hiển nhiên là giai cấp tư sản không có khả năng tiếp tục làm tròn vai trò giai cấp thống trị của mình trong toàn xã hội và buộc toàn xã hội phải chịu theo điều kiện sinh sống của giai cấp mình, coi đó là một quy luật chi phối tất cả. Nó không thể thống trị được nữa, vì nó không có thể đảm bảo cho người nô lệ của nó ngay cả một mức sống nô lệ, vì nó đã buộc phải để người nô lệ ấy rơi xuống tình trạng khiến nó phải nuôi người nô lệ ấy, chứ không phải người nô lệ ấy phải nuôi nó. Xã hội không thể sống dưới sự thống trị của giai cấp tư sản nữa, như thế có nghĩa là sự tồn tại của giai cấp tư sản không còn tương dung với sự tồn tại của xã hội nữa. <br />
Điều kiện căn bản của sự tồn tại và sự thống trị của giai cấp tư sản là sự tích luỹ của cải vào tay những tư nhân, là sự hình thành và tăng thêm tư bản. Điều kiện tồn tại của tư bản là lao động làm thuê. Lao động làm thuê hoàn toàn dựa vào sự cạnh tranh giữa công nhân với nhau. Sự tiến bộ của công nghiệp mà giai cấp tư sản là người đại diện mặc nhiên của nó và không đủ sức chống lại nó đem sự đoàn kết cách mạng của công nhân do liên hợp lại mà có, thay cho sự chia rẽ của công nhân do cạnh tranh giữa họ gây nên. Như vậy, cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, chính cái nền tảng trên đó giai cấp tư sản đã sản xuất và chiến hữu sản phẩm của nó, đã bị phá sập dưới chân giai cấp tư sản. Trước hết, giai cấp tư sản sản sinh ra những người đào huyệt chôn chính nó. Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu.<br />
------------------<br />
Chú thích<br />
[1] Giai cấp tư sản là giai cấp những nhà tư bản hiện đại, những người sở hữu tư liệu sản xuất xã hội và sử dụng lao động làm thuê. Giai cấp vô sản là giai cấp những công nhân làm thuê hiện đại, vì mất các tư liệu sản xuất của bản thân, nên buộc phải bán sức lao động của mình để sống. (Chú thích của Ăng-ghen cho lần xuất bản bằng tiếng Anh năm 1888) <br />
[2] Tức là toàn bộ lịch sử thành văn cho tới nay. Năm 1847, người ta vẫn hầu như hoàn toàn không biết tổ chức xã hộ trước toàn bộ lịch sử thành văn, tức là tiền sử của xã hội. Sau đó, Hắc-xtơ-hau-den đã phát hiện ra chế độ công hữu ruộng đất ở Nga. Mau-rơ đã chứng minh rằng chế độ công hữu ruộng đất là cái cơ sở xã hội làm điểm xuất phát cho sự phát triển lịch sử của tất cả các bộ lạc Đức, và người ta dần dần thấy rằng công xã nông thôn, với chế độ sở hữu chung ruộng đất, đang là hoặc đã là hình thức nguyên thuỷ của xã hội ở khắp nơi, từ ấn Độ đến Ai-rơ-len. Hình thức điển hình của kết cấu nội bộ của xã hội cộng sản nguyên thuỷ đó đã được Moóc-gan làm sáng tỏ khi ông phát hiện được thực chất của thị tộc và địa vị của nó trong bộ lạc. Cùng với sự tan rã của công xã nguyên thuỷ ấy, xã hội bắt đầu phân chia thành những giai cấp riêng biệt và cuối cùng là đối kháng. Tôi đã cố gắng trình bày quá trình ta rã đó trong tác phẩm "Der Ursprung der Familie, des Privateigentums und des staats". 2.Autl.. Stuttgart, 1886 ("Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước", xuất bản lần thứ hai. Stút-gát, 1886) (Chú thích của Ăng-ghen cho lần xuất bản bằng tiếng Anh năm 1888) <br />
[3] Thợ cả phường hội là thành viên có đầy đủ quyền hạn trong phường hội, là thợ cả trong phường hội, chứ không phải trùm phường. (Chú thích của Ăng-ghen cho lần xuất bản bằng tiếng Anh năm 1888) <br />
[4] Ở Pháp, những thành phố còn đang hình thành đã được gọi là "công xã" ngay cả trước khi những thành phố ấy giành lại được chế độ tự quản địa phương và những quyền chính trị của "đẳng cấp thứ ba" từ tay bọn lãnh chúa và chủ phong kiến. Nói chung, ở đây nước Anh được coi là nước điển hình về phương diện phát triển chính trị tư sản. (Chú thích của Ăng-ghen cho lần xuất bản bằng tiếng Anh năm 1888). <br />
Công xã là tên mà những người dân thành thị ở I-ta-li-a và Pháp gọi công xã thành thị của mình sau khi họ mua hoặc giành được từ tay bọn chủ phong kiến những quyền tự quản đầu tiên. (Chú thích của Ăng-ghen cho lần xuất bản bằng tiếng Đức năm 1890) <br />
[5] Trong bản tiếng Anh năm 1888 do Ăng-ghen hiệu đính sau những chữ "cộng hoà thành thị độc lập" có thêm những chữ "(như ở I-ta-li-a và ở Đức)". còn sau những chữ "đẳng cấp thứ ba phải đóng thuế trong chế độ quân chủ" có thêm những chữ "(như ở Pháp)"<br />
</span></div>]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Người quan trọng nhất trong cuộc đời]]></title>
			<link>https://uhm.vn/forum/Thread-Ng%C6%B0%E1%BB%9Di-quan-tr%E1%BB%8Dng-nh%E1%BA%A5t-trong-cu%E1%BB%99c-%C4%91%E1%BB%9Di</link>
			<pubDate>Sun, 08 May 2011 19:26:02 +0700</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://uhm.vn/forum/member.php?action=profile&uid=90173">Dh_Thinh9x</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://uhm.vn/forum/Thread-Ng%C6%B0%E1%BB%9Di-quan-tr%E1%BB%8Dng-nh%E1%BA%A5t-trong-cu%E1%BB%99c-%C4%91%E1%BB%9Di</guid>
			<description><![CDATA[Thưa quý vị,<br />
<br />
Có khi nào bạn tự đặt ra câu hỏi " Ai là người quan trong nhất trong cuộc đời của bạn ??" Mời các bạn đọc và suy nghiệm có phải câu trả lời của người sinh viên này là đúng hay sai ...với mình ?<br />
<br />
Người quan trọng nhất trong cuộc đời.<br />
<br />
Chuyện xảy ra tại một trường đại học của Mỹ.<br />
<br />
Sắp hết giờ giảng, giáo sư bỗng đề nghị với các sinh viên,"Tôi cùng mọi người thử một trắc nghiệm nhỏ, ai muốn cùng tôi thử nào?"<br />
<br />
Một nam sinh bước lên.<br />
<br />
Giáo sư nói, "Em hãy viết lên bảng tên của 20 người mà em khó có thể dời bỏ". Chàng trai làm theo. Trong số tên đó có tên của hàng xóm, bạn bè, và người thân...<br />
<br />
Giáo sư nói: "Em hãy xoá tên của một người mà em cho rằng không quan trọng nhất!" Chàng trai liền xoá tên của người hàng xóm.<br />
<br />
Giáo sư lại nói: "Em hãy xoá thêm một người nữa!". Chàng trai xoá tiếp tên của một đồng nghiệp.<br />
<br />
Giáo sư nói tiếp:"Em xoá thêm tên một người nữa đi". Một người không quan trọng nhất trong cuộc đời. chàng trai lại xoá tiếp.....<br />
<br />
Cuối cùng, trên bảng chỉ còn lại ba cái tên, bố mẹ, vợ, và con. Cả giảng đường im phăng phắc, mọi người lặng lẽ nhìn vị giáo sư, cảm giác dường như đây không còn đơn thuần là một trò chơi nữa rồi!!<br />
<br />
Giáo sư bình tĩnh nói tiếp: "Em hãy xóa thêm một tên nữa!" chàng trai chần chừ, rất khó khăn mới đưa ra được sự lựa chọn....anh đưa viên phấn lên..... và gạch đi tên của bố mẹ!<br />
<br />
"Hãy gạch một cái tên nữa đi !", tiếng của vị giáo sư lại vang lên bên tai. chàng trai sững lại, rồi như một cái máy, từ từ và kiên quyết gạch bỏ tên của đứa con trai...<br />
<br />
Và anh bật khóc thành tiếng, dáng điệu vô cũng đau khổ.<br />
<br />
Vị giáo sư chờ cho anh bình tĩnh lại hồi lâu và hỏi: "Lẽ ra người thân thiết nhất với em, phải là cha mẹ và đứa con, bởi cha mẹ là người sinh thành và dạy dỗ em nên người, đứa con là do em dứt ruột sinh ra, còn người vợ thì có thể tìm người khác thay thế được, vậy tại sao, với em người vợ lại là người mà em khó dời xa nhất?"<br />
<br />
Cả giảng đường im lặng, chờ nghe câu trả lời.<br />
<br />
Chàng trai bình tĩnh và từ tốn nói:"Theo thời gian, cha mẹ sẽ là dời bỏ tôi mà đi, con cái khi trưởng thành, cũng chắc chắn sẽ rời xa tôi, người luôn ở bên, làm bạn với tôi suốt đời, thực sự chỉ có vợ tôi!"]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Thưa quý vị,<br />
<br />
Có khi nào bạn tự đặt ra câu hỏi " Ai là người quan trong nhất trong cuộc đời của bạn ??" Mời các bạn đọc và suy nghiệm có phải câu trả lời của người sinh viên này là đúng hay sai ...với mình ?<br />
<br />
Người quan trọng nhất trong cuộc đời.<br />
<br />
Chuyện xảy ra tại một trường đại học của Mỹ.<br />
<br />
Sắp hết giờ giảng, giáo sư bỗng đề nghị với các sinh viên,"Tôi cùng mọi người thử một trắc nghiệm nhỏ, ai muốn cùng tôi thử nào?"<br />
<br />
Một nam sinh bước lên.<br />
<br />
Giáo sư nói, "Em hãy viết lên bảng tên của 20 người mà em khó có thể dời bỏ". Chàng trai làm theo. Trong số tên đó có tên của hàng xóm, bạn bè, và người thân...<br />
<br />
Giáo sư nói: "Em hãy xoá tên của một người mà em cho rằng không quan trọng nhất!" Chàng trai liền xoá tên của người hàng xóm.<br />
<br />
Giáo sư lại nói: "Em hãy xoá thêm một người nữa!". Chàng trai xoá tiếp tên của một đồng nghiệp.<br />
<br />
Giáo sư nói tiếp:"Em xoá thêm tên một người nữa đi". Một người không quan trọng nhất trong cuộc đời. chàng trai lại xoá tiếp.....<br />
<br />
Cuối cùng, trên bảng chỉ còn lại ba cái tên, bố mẹ, vợ, và con. Cả giảng đường im phăng phắc, mọi người lặng lẽ nhìn vị giáo sư, cảm giác dường như đây không còn đơn thuần là một trò chơi nữa rồi!!<br />
<br />
Giáo sư bình tĩnh nói tiếp: "Em hãy xóa thêm một tên nữa!" chàng trai chần chừ, rất khó khăn mới đưa ra được sự lựa chọn....anh đưa viên phấn lên..... và gạch đi tên của bố mẹ!<br />
<br />
"Hãy gạch một cái tên nữa đi !", tiếng của vị giáo sư lại vang lên bên tai. chàng trai sững lại, rồi như một cái máy, từ từ và kiên quyết gạch bỏ tên của đứa con trai...<br />
<br />
Và anh bật khóc thành tiếng, dáng điệu vô cũng đau khổ.<br />
<br />
Vị giáo sư chờ cho anh bình tĩnh lại hồi lâu và hỏi: "Lẽ ra người thân thiết nhất với em, phải là cha mẹ và đứa con, bởi cha mẹ là người sinh thành và dạy dỗ em nên người, đứa con là do em dứt ruột sinh ra, còn người vợ thì có thể tìm người khác thay thế được, vậy tại sao, với em người vợ lại là người mà em khó dời xa nhất?"<br />
<br />
Cả giảng đường im lặng, chờ nghe câu trả lời.<br />
<br />
Chàng trai bình tĩnh và từ tốn nói:"Theo thời gian, cha mẹ sẽ là dời bỏ tôi mà đi, con cái khi trưởng thành, cũng chắc chắn sẽ rời xa tôi, người luôn ở bên, làm bạn với tôi suốt đời, thực sự chỉ có vợ tôi!"]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Tương lai của truyền thống dân tộc]]></title>
			<link>https://uhm.vn/forum/Thread-T%C6%B0%C6%A1ng-lai-c%E1%BB%A7a-truy%E1%BB%81n-th%E1%BB%91ng-d%C3%A2n-t%E1%BB%99c</link>
			<pubDate>Sun, 13 Mar 2011 08:29:09 +0700</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://uhm.vn/forum/member.php?action=profile&uid=16547">CuBin.Black</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://uhm.vn/forum/Thread-T%C6%B0%C6%A1ng-lai-c%E1%BB%A7a-truy%E1%BB%81n-th%E1%BB%91ng-d%C3%A2n-t%E1%BB%99c</guid>
			<description><![CDATA[<div style="text-align: center;" class="mycode_align"><span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">TƯƠNG LAI CỦA TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC</span></span><br />
 </div>
<div style="text-align: right;" class="mycode_align"><span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">William Sweet</span></span></div>
 <br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Tương lai của truyền thống và đạo đức truyền thống sẽ như thế nào khi đứng trước những thách thức của sự văn minh hiện đại? Đây cũng chính là nội dung của cuộc hội thảo “Đạo đức truyền thống và những vấn đề của quá trình hiện đại hoá”. Vấn đề này đã trở thành chuyện đau đầu không chỉ ở các quốc gia châu Á mà còn ở khắp các nước châu Phi, châu Mỹ Latinh, Đông Âu và thật sự trên toàn thế giới.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Trong bài này, tôi muốn điểm lại vai trò và vị trí của truyền thống và đạo đức truyền thống trong nền văn hoá đang chịu nhiều thách thức. Để bắt đầu, tôi xin đưa ra một vài nhận xét về truyền thống và tầm quan trọng của nó đối với đạo đức, nghĩa là các nguyên tắc thông lệ đạo đức. Sau đó, tôi sẽ bàn sang các thách thức chính yếu đối với đạo đức truyền thống bắt nguồn từ khái niệm hiện đại, hậu hiện đại, và sự tồn tại của sự đa dạng và phong phú xã hội. Tiếp theo, tôi sẽ chứng minh rằng những thách thức này không làm mất đi đạo đức truyền thống và xa hơn nữa có những nguyên tắc đạo đức ràng buộc hợp với luân thường đạo lý và hợp pháp, tồn tại trong những thói quen và tín ngưỡng truyền thống, mặc dù chúng không tồn tại trong những thói quen và tín ngưỡng truyền thống. Và cuối cùng, tôi sẽ đưa ra một vài nét về tương lai của truyền thống và đạo đức truyền thống theo quan điểm của tôi.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">I</span>. Một cộng đồng có thể là một cộng đồng xét về chính trị, văn hoá hay tín ngưỡng được định nghĩa dựa trên những tính cách được tiêu chuẩn hoá của họ, hay nói khác hơn chính là các giá trị đạo đức và chuẩn mực đạo đức của họ. Chữ giá trị đạo đức tôi muốn đề cập ở đây không chỉ là các học thuyết hoặc tiêu chuẩn đạo đức mà còn bao gồm các “thông lệ và bài học đạo đức” hay các “phương thức ứng xử”.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Trong các cộng đồng tự nhiên (gia đình, làng mạc hay quan hệ láng giềng, các nhóm người dân tộc thiểu số) và trong các cộng đồng tồn tại với một quá trình lịch sử lâu đời (ví dụ như một quốc gia) thì các tiêu chuẩn xử thế, phương thức và chuẩn mực đạo đức phần lớn được xác định bởi quá khứ của nó hay còn được gọi là truyền thống. Theo một định nghĩa chung được đại đa số chấp nhận thì truyền thống là một kiểu mẫu theo phong tục đã được thiết lập, kế thừa về tư duy, hành động hay hành vi cư xử (như nghi lễ tôn giáo hay tập quán xã hội) và sự tiếp nối văn hoá về những quan điểm, tập tục và thể chế xã hội. Nó cũng đồng nghĩa với việc truyền lại những thông tin, tín ngưỡng và tập quán từ thế hệ này sang thế hệ khác mà không hề dùng đến văn bản viết, chủ yếu chỉ là truyền miệng. Như ta đã biết, truyền thống có nghĩa là quá khứ, thế nhưng nó lại không giới hạn ở đó. Nó khẳng định rằng có một sự tiếp nối, truyền thống tồn tại trong suốt một khoảng thời gian dài, truyền thống có một hiện tại và cũng có thể có một tương lai. Và khi miêu tả truyền thống như một mô hình tư duy, không chỉ là mô hình tư duy của riêng một cá nhân, ta có thể thấy truyền thống tồn tại trong các cá thể, và nó vừa vượt qua khả năng của con người lại vừa có quyền lực đối với con người. Chính vì thế chúng ta có thể nói rằng truyền thống có tính quy chuẩn, có nghĩa là nó quy định chúng ta nên hành động và cư xử thế nào cho phải lẽ.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Đạo đức được xác định chủ yếu dựa trên lịch sử và truyền thống. Bởi vì đạo đức ám chỉ thông lệ và các phương thức ứng xử cho nên việc chúng không chỉ mang tính cá nhân mà nhất thiết phải tập trung vào xã hội và mang những đặc điểm của xã hội. Tuy nhiên, đối với một số người đặc tình này gây cản trở rất lớn đối với việc hình thành cá tính và sự tự do. Và do các đạo đức truyền thống và giá trị đạo đức ít nhiều có liên quan quá khứ nên chúng được coi là hướng tới quá khứ nên chúng được coi là hướng tới quá khứ và mang tính quy ước chứ không phải là hướng tới tương lai và mang tính năng động. Nói chung, truyền thống (chẳng hạn như truyền thống văn hoá và tôn giáo) và nhất là đạo đức truyền thống thường được coi là bảo thủ, không giàu tưởng tượng trong một thế giới đang đổi thay cùng với tính vững chãi, hướng nội, không chấp nhận đổi mới, thiển cận hay biếng nhác và đôi khi còn sai lầm lệch lạc.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">II</span>. Như những nhận xét đã nêu trên, đạo đức truyền thống và truyền thống nói chung là một tập hợp luôn bị đặt trước hàng loạt những thử thách cam go. Một số những thách thức này không còn mới gì, thế nhưng hiện nay dường như những thử thách này đang tăng lên một cách đáng kể bắt nguồn từ nhiều viễn cảnh khác nhau.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Một trong những nguyên nhân của thử thách đối với đạo đức truyền thống là “tính hiện đại”. Ở đây hiện đại có nghĩa là những dòng tư duy bắt nguồn từ kỷ nguyên khai sáng, hay chí ít cũng là điển hình của kỷ nguyên này. Nó muốn gạt bỏ tất cả những truyền thống và thiết lập nên những cấu trúc của triết học, văn hoá, khoa học và đạo đức chỉ dựa trên nền tảng của lý trí. Như vậy, không phải là những tập quán mang tính chất kế thừa hay đức tin tôn giáo mà chính lý trí đã trở thành nền tảng cho đạo đức và thông lệ đạo đức.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Ví dụ như, trước tiên chúng ta có thể tìm thấy ở đây những quy luật duy lý tự nhiên và những học thuyết súc tích về xã hội của Hugo Grotius, Thomas Hobbes và John Locke, rồi đến những học thuyết duy lý về mặt đạo đức như của Inmanuel Kant và John Stuart Mill (và trong một chừng mực nào đó ta có G.W.F. Hegel và Karl Marx). Những học thuyết này bênh vực cho một giá trị đạo đức độc lập với truyền thống tôn giáo và trong một số trường hợp về cơ bản chống đối lại giá trị đạo đức này. Trong những hệ thống đạo đức này, lý trí đã thay thế chỗ của thần thánh, đấng chúa trời và những gì đại diện cho đấng chúa trời.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Sự nhấn mạnh của kỷ nguyên khai sáng đối với lý trí là thách thức đầu tiên của đạo đức truyền thống, hay nói khác là nó đưa ra nghi ngờ về những lý thuyết thông lệ đạo đức truyền thống. Tuy nhiên thách thức thứ hai đối với đạo đức truyền thống lại bắt nguồn đối với đạo đức truyền thống lại bắt nguồn từ một khía cạnh khác của tính hiện đại, đó chính là chủ nghĩa chủ quan.  “Chỉ xét về chủ thể” là một trong những đặc điểm của kỷ nguyên hiện đại. Điều này được chứng minh khi Descartes nhấn mạnh tầm quan trọng của nhận thức luận hơn học thuyết siêu hình và sự vượt trội của sự hiểu biết về cái tôi trên tất cả mọi sự hiểu biết khác. Bất cứ những gì bản thân không nắm bắt được một cách trực tiếp hoặc rõ ràng đều cần có bằng chứng cụ thể. Tiêu chuẩn hiểu biết này không chỉ áp dụng cho những vấn đề siêu hình học và nhận thức luận, mà còn áp dụng cho lý thuyết về đạo đức và thông lệ đạo đức và thông lệ đạo đức. Cụ thể hơn, sự nhấn mạnh này đối với chủ thể con người dẫn đến hai hệ quả: thứ nhất là đạo đức truyền thống cần phải được chứng minh và thứ hai là việc chứng minh này đòi hỏi phải thoả mãn nhu cầu của chủ thể. Và dần dần hệ quả thứ hai dẫn đến một quan điểm cho rằng chính chủ thể tạo nên những tiêu chuẩn thật giả, và không có tiêu chuẩn nào nằm ngoài chủ thể.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Ngay cả hiện nay vẫn tồn tại những thách thức mang tính chủ quan và duy lý lớn đối với đạo đức. Chẳng hạn như có một thông lệ đạo đức của hầu hết, nếu không muốn nói là tất cả các nền văn hoá, là con cái phải tôn trọng và vâng lời cha mẹ, phải chịu sự trừng phạt của cha mẹ nếu chúng cư xử không hợp lẽ. Là một truyền thống, điều này được truyền lại và kế thừa qua các thế hệ dù không được viết thành văn. Con cái mà không kính trọng và vâng lời cha mẹ thì sẽ bị phạt không chỉ bởi cha mẹ mà còn bởi cả những thành viên khác trong gia đình và đôi khi bởi cả cộng đồng nếu như gia đình của chúng xao lãng việc này.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Nhưng ngày nay tập tục này đang có xu hướng thay đổi ở một số nước. Người ta, thậm chí ngay chính con cái, kêu gọi các bậc phụ huynh hãy biện minh cho mong đợi của họ để được tôn trọng và vâng lời. Hơn thế nữa, ở một vài quốc gia khác, những hình phạt về thể xác cho việc không vâng lời. Hơn thế nữa, ở một vài quốc gia khác, những hình phạt về thể xác cho việc không vâng lời (ví dụ như đánh đòn) được coi là bất hợp pháp. Như vậy thì ít ra truyền thống con cái phải vâng lời cha mẹ cần phải được chứng minh là đúng hoặc phải đưa ra một lý do chính đáng. Nói rằng đây là một truyền thống đã từng trải qua hàng thế kỷ và đứng vững qua bao thử thách của thời gian không thể được xem như là một lý do (và vị trí của một “gia đình lớn” hay cộng đồng xét về mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái cần phải được định nghĩa lại. Nói chung, hiện nay việc một thành viên trong gia đình hay trong một cộng đồng bảo cha mẹ phải phạt con cái được xem như là không thể chấp nhận được).</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Tuy nhiên vẫn còn lý do thứ hai của những thách thức đối với đạo đức truyền thống là cái được gọi là “hậu hiện đại” (việc này gây không ít những lời tranh cãi từ phía các nhà ủng hộ học thuyết nam nữ bình quyền, những học thuyết gia sinh thái “xanh” và những người khác nữa). Mục tiêu chỉ trích đầu tiên của thuyết hậu hiện đại và những phong trào này chỉ đơn thuần là phát triển những lời chỉ trích hiện đại về truyền thống và biến nó trở thành những lời phê bình chống lại chính khái niệm hiện đại. Mục tiêu chính yếu của hậu hiện đại là tính hợp lý và việc nhấn mạnh rằng cần ưu tiên lý lẽ. Những người theo thuyết hậu hiện đại cho rằng sự nhấn mạnh trên lý trí, cái mà tôi gọi là chủ nghĩa duy lý, đang chịu những tổn thất từ những sai lầm tương tự như là những truyền thống mà chủ nghĩa duy lý đã thách thức. Nói cách khác, chủ nghĩa duy lý trở thành một “hệ tư tưởng”. Trong khi chủ nghĩa duy lý đang nỗ lực nâng bản thân nó lên trên những cuộc tranh luận về tư tưởng thì thật ra nó cũng vẫn chỉ là một hệ tư tưởng cần được tranh cãi. Ngay từ đầu, chủ nghĩa duy lý đã tự cho mình – và bây giờ vẫn tự cho mình - là phổ quát và có thể đưa ra một quan điểm trung lập để từ đó có thể phê bình và đánh giá tất cả các giá trị truyền thống. Nhưng cái quan điểm đặc quyền mà chủ nghĩa duy lý đưa ra lại không được thừa nhận khi con người nhìn nhận vấn đề phong phú và đa dạng về văn hoá một cách nghiêm túc. Những người có quan điểm hậu hiện đại và cả những người ủng hộ nó cho rằng tính duy lý chỉ là một truyền thống nữa mà thôi và thực ra chẳng hề có lý thuyết nào mang tính toàn cầu cũng như không thể có quan điểm hay ngôn ngữ nào mang tính trung lập và có thể hoạt động như một người phân xử những hệ tư tưởng đối lập.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Như vậy thì những người có quan điểm hậu hiện đại phê bình tính hiện đại, nhưng đồng thời họ cũng phê bình cả truyền thống và đạo đức truyền thống. Họ cho rằng phạm trù đạo đức truyền thống đã mục nát hoặc rạn nứt và chắc chắn là không phổ quát. Họ cho rằng đạo đức truyền thống là phân biệt chủng tộc, là phân biệt giai cấp và giới tính, là “phân biệt loài” v.v… Nhưng vì con người không thể đòi hỏi những tiêu chuẩn phổ quát và trung lập, những nhà phê bình này cuối cùng chấp nhận một quan điểm mà theo họ là phong phú, là tương đối đa dạng nhưng thực ra chỉ là một thuyết tương đối về đạo đức hay là một chủ nghĩa chủ quan về văn hoá.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Điều này đặc biệt trở nên rõ ràng trong những cuộc tranh luận về thông lệ đạo đức ngày nay. Mặc dù đối với một số nền văn hoá, chủ nghĩa chủ quan thường không được chấp nhận nhưng nhiều người vẫn cho rằng đối với cấp độ toàn cầu thì không có thông lệ đạo đức nào mang tính phổ quát hay đa văn hoá, cho nên tất nhiên cũng không có quy tắc đạo đức nào mang tính đa văn hoá. Chỉ có những nền văn hoá và truyền thống khác biệt, khác biệt về cơ bản, trong đó có những sự hiểu biết về đạo đức và thông lệ đạo đức khác nhau. Và  người ta vẫn thường nói rằng không có một sự hiểu biết hay một thông lệ nào được chứng tỏ là tốt hơn những sự hiểu biết hay thông lệ khác.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Ví dụ như, khi xét đến vấn đề đối xử với phụ nữ, người ta vẫn nói không những không có nguyên tắc nào chung hay mang tính phổ quát về sự bình đẳng hay chân giá trị bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới, mà thậm chí không có nguyên tắc bình đẳng nào trong xã hội này được áp dụng trong một xã hội khác. Lý do của việc không chấp nhận chân giá trị bình đẳng này không phải vì đạo đức truyền thống đã thay đổi, vì các thông lệ đạo đức quá khó thực hiện hay vì nó liên quan đến nhiều sự thay đổi cơ bản của xã hội, v.v… Lý do hợp lý hơn chính là vì quan niệm về sự bình đẳng và chân giá trị bình đẳng không thể áp dụng được trong những nền văn hoá khác nhau. Vì những nhà hậu hiện đại cho rằng chúng ta không thể kêu gọi đến lý lẽ khi đưa ra một tiêu chuẩn đặc biệt để đánh giá những thông lệ đạo đức, nên không thể có sự phê bình hợp lý nào đối với những nền văn hoá nơi tồn tại những bất công. Vì vậy, một số ngườI có thể nghĩ rằng điều này có nghĩa là những giá trị đạo đức truyền thống của những nền văn hoá đó được bảo vệ. Nhưng không phải như vậy, bởi lẽ cũng không có lý do nào được coi là hợp lý để theo đuổi những thông lệ đạo đức. Lý lẽ không thể chiếm ưu thế hơn so với truyền thống, nhưng điều này không có nghĩa là truyền thống có bất kỳ giá trị thực nào. Những nhà hậu hiện đại cho rằng giá trị đạo đức truyền thống giữ được vị trí của nó là nhờ có quyền lực. Và cũng chẳng có lý do giúp cho nó không bị thay thế bởi bất cứ điều gì các nhân vật nắm quyền lực trong tay mong muốn.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Thử thách thứ va đối với giá trị đạo đức truyền thống là một lý do đơn giản: sự hiện hữu của tính phong phú và đa dạng về văn hoá. Ở đây, đơn giản là đạo đức nói chung và những thông lệ đạo đức xác định dường như ngày càng trở nên không thích hợp với cuộc sống thường ngày, hoặc không thể thực hiện được hoặc rất vô lý. Sự giới hạn về hành vi do các giá trị đạo đức truyền thống áp đặt chỉ có giá trị khi con người coi trọng truyền thống. Đối với mức độ quốc tế thì dường như không có giá trị đạo đức nào được thiết lập vững chắc, cũng như không có thông lệ đạo đức nào được thiết lập vững chắc, cũng như không có thông lệ đạo đức nào được tất cả mọi người tôn trọng. Những lời kêu gọi đối với những nguyên tắc đạo đức truyền thống (như giữ hoà bình, tỏ ra tôn trọng các quốc gia khác, cho phép quyền tự trị và chân giá trị) có rất ít hoặc không có tác động gì. Hầu hết, nếu không có tác động gì. Hầu hết, nếu không muốn nói là tất cả các quốc gia chỉ chú ý tới những lời kêu gọi đó một cách không nhất quán. Điều tương tự cũng xảy ra giữa các dân tộc và giữa các cộng đồng: lời kêu gọi đối với đạo đức truyền thống ngày càng ít tác dụng.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Hãy thử xét chế độ nô lệ ở Sudan hay nạn diệt chủng ở Rwanda. Ở đó, tinh thần đoàn kết hay hợp tác xã hội có thể tan rã chỉ trong ngày một ngày hai, và người ta dễ dàng phớt lờ những lời kêu gọi về truyền thống cũ. Vì thế, một số người tra tấn hay giết hại những người mình đã sống hay làm việc chung chỉ vì những người này thuộc về một dân tộc hay một bộ tộc khác, bất chấp hàng thế kỷ cùng chung sống trong hoà bình. Hơn thế nữa, trong khi một số người trong chúng ta, những người sống ở những quốc gia khác, chỉ trích những hành động như vậy thì ngày càng nhiều người nén nhịn không nói ra những lên án đạo đức của mình. Một số người chỉ phát biểu: “Ai sẽ là người phân xử kẻ đúng người sai?”. Hay hãy thử xét một trường hợp khác cục bộ hơn. Cùng một lúc, ở một số người nước ngoài ta tin rằng nếu ai đó bày tỏ (một giá trị đạo đức truyền thống là) lòng trung thành đối với gia đình, bạn bè, liên đoàn hay cộng đồng của họ thì sẽ được trả ơn. Nhưng ngày càng nhiều người đặt lợi ích cá nhân của họ lên trên lợi ích của tập thể và ngay cả khi họ tỏ ra quan tâm đến tập thể thì điều đó có thể cũng chỉ là nhất thời mà thôi. Điều này cũng đúng trên nền đối với cá nhân. Đạo đức truyền thống và thông lệ đạo đức đã mất dần ảnh hưởng của nó đối với hành vi cá nhân. Thông lệ đạo đức về một cuộc sống hôn nhân lâu dài bền vững đã biến mất. Ngay cả đối với những người lập gia đình và không ly dị thì hôn nhân nói chung cũng chỉ được coi là một bản hợp đồng muốn cũng có thể huỷ bỏ được. Rõ ràng là có rất ít hoặc không có sự phản đối, khinh miệt hay ủng hộ nào mang tính xã hội ở những nước phương Tây và thái độ này cũng đang bắt đầu bén rễ ở rất nhiều nước không phải phương Tây.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Và vì vậy, trong các nền văn hoá và trên thực tế, người ta không còn tin rằng bất cứ giá trị đạo đức hay thông lệ đạo đức nào cũng có thể là nền tảng chắc chắn để đánh giá một người nào đó là đúng hay sai xét về mặt đạo đức. Vì thế, kết quả không chỉ là chủ nghĩa chủ quan hay thuyết tương đối mà thuyết hư vô. Ta phủ nhận khả năng có bất cứ quy tắc hay tiêu chuẩn nào. Đạo đức tốt nhất chỉ là thị hiếu chủ quan. Vậy thì, đạo đức truyền thống tốt nhất là cái mà người ta chấp nhận làm theo. Nhưng một người có thể chọn cách chấp nhận các giá trị đạo đức khác, hay đơn giản là từ bỏ luôn đạo đức, hoàn toàn quyết định mọi việc dựa trên tính thiên vị chủ quan của mình. Thực vậy, một trong những nhân vật của văn học phương Tây nửa cuối thế kỷ trước không phải là người vô luân mà là người phi luân - người mà đối với họ, phạm trù đạo đức dù là dựa trên lý luận hay truyền thống đều không hề được áp dụng.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Như vậy thì không có gì mỉa mai khi nói rằng thế giới này xét về nhiều khía cạnh đã được toàn cầu hoá, và khi kinh tế và các thể chế văn hoá, xã hội, chính trị ngày càng trở nên thống nhất, những thông lệ truyền thống ngày càng biến đổi và bị giới hạn, thì thế giới đạo đức cũng ngày càng rời rạc. Nhưng không có gì phải ngạc nhiên về điều này vì theo như một nhà phê bình của tờ <span style="font-style: italic;" class="mycode_i">The New Statesman</span> viết thì “sự toàn cầu hoá về kinh tế chỉ hoàn thành nốt những gì đã được chủ nghĩa hậu hiện đại hướng tới về mặt trí tuệ và chủ nghĩa cá nhân hướng tới về mặt chính trị (hay chủ nghĩa chủ quan).</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Tóm lại, những thách thức đối với đạo đức truyền thống có rất nhiều và rất mạnh mẽ. Và, nếu chúng thành công thì sẽ không chỉ không có đạo đức truyền thống mà sẽ không có cả đạo đức. Và như tôi đã đưa ra giả thuyết, tốt nhất là điều này sẽ dẫn đến một thuyết tương đối cấp tiến, nếu không phải là sự bất ổn và thuyết hư vô.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">III</span>. Những gì tôi vừa trình bày cho thấy tình huốn hiện tại có vẻ như không có lối thoát. Nhưng tôi cho rằng, như tôi đã khẳng định (ở các phần khác) là sẽ có một giải pháp.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Có một lý do chính đáng để bác bỏ sự vượt quá giới hạn của tính hiện đại và chủ nghĩa duy lý, và thậm chí có một lý do chính đáng hơn để không chấp nhận phê bình những giá trị đạo đức và đạo đức truyền thống nói chung mà người ta tìm thấy trong chủ nghĩa hậu hiện tại và những tư tưởng ủng hộ nó. Tuy nhiên, tôi cho rằng không nhất thiết phải bỏ đi truyền thống và đạo đức truyền thống vì chúng cần thiết cả trong hiện tại và tương lai. Tôi cũng cho rằng một người có thể chứng tỏ chúng cần thiết tới mức những vấn đề hiện đại hoá thương mại - những phê bình hiện đại và hậu hiện đại – đang mất đi vị trí của nó. Cuối cùng, tôi khẳng định việc này cũng sẽ cho chúng ta thấy vị trí và vai trò của những bài học truyền thống trong tương lai, nghĩa là tương lai của truyền thống sẽ ra sao.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Trước tiên, tôi muốn nói một vài lời về mức độ cần thiết của truyền thống và những bài học đạo đức truyền thống. Như tôi đã viết trong phần đầu, truyền thống quyết định rất lớn đến thông lệ đạo đức của chúng ta, và thậm chí liên quan đến kiến thức đạo đức nền tảng. Truyền thống là nguồn gốc đạo đức của chúng ta; những quy tắc đạo đức của chúng ta trước tiên được quyết định bởi “truyền thống” (Ví dụ: truyền thống đạo đức hay tôn giáo). Truyền thống cũng rất quý giá. Người ta thường kêu gọi truyền thống. Nó giúp chúng ta đặt hiện tại vào một khung cảnh, và là nguồn gốc của ý tưởng và các giải pháp khả thi đối với các vấn đề chúng ta đang đương đầu, và nó có một ảnh hưởng hay đòi hỏi mang tính quy phạm đối với chúng ta trong việc khuyên bảo chúng ta những việc nên làm.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Thực tế không thể trốn tránh truyền thống.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Chúng ta hãy lấy ví dụ về truyền thuyết chính trị và triết học của Karl Marx. Marx đã nói rằng ông ta “tôn Hegel lên đầu”, có nghĩa là ông ta đã nắm bắt được chủ nghĩa duy tâm biện chứng, và biến nó thành chủ nghĩa duy vật biện chứng, và rất nhiều người theo chủ Marx đã nói rằng công trình của Marx là hoàn toàn “giống” triết học của Hegel. (Ở đây, đứng trên quan điềm của Hegel về lý trí hay tinh thần, Marx đã thay thế “thế giới vật chất”, cụ thể là mối quan hệ kinh tế của con người. Những điều kiện vật chất, không phải là “lý trí” theo Marx là nền tảng cho sự phát triển và thay đổi). Và vì thế, sự giải thích của Marx là sự đáp lại triết lý Hegel và không thể hiểu một cách đầy đủ nếu không hiểu triết lý là, trong phạm vị rộng hơn, nguồn gốc và linh cảm của nó.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Một lời khẳng định tương tự có thể đưa ra nếu xem xét vấn đề tôn giáo. Lấy ví dụ việc dạy Thiên Chúa giáo - về chúa Jesus của Nazathreth. Trong sách phúc âm Kinh thánh Mới của Matthew (5: 17 – 18), chúa Jesus có nói: (17) “đừng nghĩ đến việc ta quyết định bỏ đi luật lệ hay sách Kinh Cựu Ước; ta ở đây không phải để gạt bỏ chúng mà để bổ sung chúng. Thật sự, ta muốn nói với các người rằng cho đến khi thượng đế hay trái đất chết đi, không một chữ cái, hay dấu chấm nào được bỏ đi trong luật lệ cho đến khi tất cả được hoàn tất.”</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Ở đây, yêu cầu của chúa Jesus là thông điệp của Ngài phụ thuộc vào hoàn cảnh và truyền thống của Đạo Do Thái. Chính truyền thống này là cái mà chúa Jesus nói Ngài muốn hoàn thành, chứ không phải là thay thế. Nhưng, nghiên cứu sâu hơn thì chúng ta thấy những gì chúa Jesus đã làm và đề nghị phải thực hiện thật khó hiểu nếu không hiểu hoàn cảnh xuất thân của Ngài, hoàn cảnh mà Ngài và các đồ đệ đã sống và dạy học. Để hiểu được lời giáo huấn của Thiên Chúa Giáo, chúng ta phải hiểu những điều nói trong luật lệ và sách Kinh Cựu Ước của Hebrew Scriptures đó chính là truyền thống của Jesus.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Hay, trong “thông luật” của các nước Mỹ-Anglo, quan điểm về truyền thống là hiện đại và thiết yếu thể hiện trong các quan điểm nền tảng như tiền lệ, các bằng chứng, và các quy tắc luật. Việc đánh giá sự vô tội hay có tội đều được dựa trên các thủ tục chính thức mà chính nó là truyền thống hay kết quả của truyền thống.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Việc tin tưởng vào những ví dụ về truyền thống và hoàn cảnh không chỉ là ngẫu nhiên. Nói chúng, từ viễn cảnh của, rõ ràng là truyền thống cũng cần thiết cho kiến thức có thể tồn tại. Vì để hiểu những kinh nghiệm hiện tại, chúng ta có thể đưa sự hoà hợp với những kinh nghiệm trong quá khứ của mình – cùng với vốn từ vựng, những câu chuyện, lối suy nghĩ, sự tự nhận biết, và hiểu biềt lẫn nhau, không chỉ xem đó là một tiền đồ hay hình thái của cuộc sống. Và điều này bao gồm cả việc liên hệ với chiều hướng xã hội và kinh nghiệm của người khác. Việc thực hành ngôn ngữ và nhận thức có thể là truyền thống hay gắn với truyền thống.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Vì vậy, truyền thống là hiện tại xuyên suốt cuộc sống nhận thức của chúng ta, và chúng không chỉ quý giá mà còn rất cần thiết đối với việc tự nhận thức và quyết định những việc làm trong tương lai.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Tuy nhiên, tôi muốn đi sâu hơn vào vấn đề và tôi cho rằng không vì thế mà việc nhận thức của con người và đời sống tinh thần của chúng ta là hoàn toàn cố định hay xác định bởi các truyền thống tương ứng, và các truyền thống này quá khác biệt nhau đến mức những người tuân theo truyền thống này không thể hiểu và có những đánh giá đúng về hoạt động của những người theo truyền thống khác. Nói cách khác, có một phương cách giúp ta nhận biết giá trị và sự thống nhất của truyền thống và các bài học đạo đức truyền thống và cả truyền thống đóng vai trò là cầu nối. Bằng việc nhận biết điều này, chúng ta không chỉ tránh được thuyết tương đối về đạo đức về “sức mạnh luôn đúng”, mà chúng ta còn có một cách để đề cập đến các thử thách và vấn đề hiện đại hoá. Nhưng nếu theo phương cách này, trước tiên ta cần phải xem xét những gì là nền tảng hay liên quan đến truyền thống.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Trước hết, rõ ràng là tất cả mọi người trong phòng này, hay hầu hết các đoàn nhóm quốc tế nào đều có nét khác biệt nhau về truyền thống và còn có những khác biệt về giá trị, văn hoá, tôn giáo và thông lệ đạo đức. Tuy nhiên, rõ ràng là vẫn tồn tại giao tiếp. Dĩ nhiên, có những thất bại trong giao tiếp, và đôi khi cuối những buổi thảo luận vẫn không thể giải quyết được vấn đề. (Có nhiều nguyên nhân dẫn đến vấn đề này, nhưng một số nguyên nhân là kết quả của sự thất bại hay lỗi của cá nhân). Tuy vậy, trong nhiều, rất nhiều vấn đề, những bất đồng về ngôn ngữ, lịch sử, văn hoá, và tôn giáo có thể và đang được giải quyết. Xét trên diện rộng, một minh hoạ cho vấn đề này là tổ chức Liên Hiệp Quốc và các cơ quan của nó. Một minh hoạ thứ hai (mà có tính gợi ý nhiều hơn) là những phong trào về giáo hội toàn thế giới trong thế kỷ hai mươi. (Tôi đã viết ở phần khác, giáo hội toàn thế giới là một mẫu để chúng ta có thể đi đến thống nhất và hợp nhất với nhau cho dù có những khác biệt về các giá trị, và tôi sẽ không lặp lại những lý lẽ này ở đây).</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Làm thế nào mà sự giao tiếp quốc tế và sự trình bày các chính sách và các hoạt động chính trị (ví dụ như Liên Hiệp Quốc) hay các giáo hội toàn thế giới và các cuộc đàm thoại qua lại về tôn giáo lại đạt được nhiều thành công như thế? Tôi nghĩ lời giải thích có thể tìm thấy trong sự giả định trước của mỗi hoạt động, các hoạt động mà chúng ta có thể gọi là “thực hành giao tiếp”. Việc mà Liên Hiệp Quốc làm thường không phải là tìm một đề tài trung lập mà là tìm một đề tài thông thường. Liên Hiệp Quốc tìm kiếm nơi có những mối quan tâm, những giá trị mà tất cả đều có thể chia sẻ và tin cậy. Hay việc giáo hội toàn thế giới tiến hành tìm kiếm một “mảnh đất” hay một tập hợp các nhiệm vụ, hay một “cuộc đàm luận” quen thuộc với tất cả những ai tham gia. Trong những trường hợp này, cần lưu ý đến giai đoạn đầu tiên là không được độc tài hay ép buộc người khác chấp nhận các giá trị nào đó mà chỉ đơn giản tìm kiếm những giá trị chung.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Trong những trường hợp này, dù khác biệt về tôn giáo, chính trị, và văn hoá giữa những người tham gia cuộc nói chuyện thì vấn đề cũng khá rõ ràng là giai đoạn đầu tiên đã đạt được, và mọi người đều nhận thấy (ít nhất là sự ngầm ý) có những ý kiến, vấn đề quan tâm, giá trị mọi người đều có thể tham gia. Và có vẻ hợp lý khi nói rằng đề tài chung này không chỉ trùng nhau, mà những người tham gia thảo luận ít nhất có thể đóng góp ý kiến, thể hiện sự quan tâm, và những giá trị đạo đức xét về mặt tồn tại của chúng. (Tuy nhiên, chúng ta không cần nói rằng họ biết họ có những người dưới chế độ nô lệ thì có sự quan tâm đến vấn đề giải phóng, ngay cả khi anh ta không ý thức hay nhận biết được sự quan tâm này).</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Khi đó, có mối quan hệ nền tảng không bó buộc giữa các ý kiến này và các mối quan tâm về con người và thế giới mà họ sống, nghĩa là thực tại, như thế nào. Thực tế, ai đó có thể nói rằng những ý kiến và sự quan tâm này là khách quan bởi vì chúng phản ánh điều cơ bản là một con người là như thế nào (ví dụ như con người là loại thể chất, tinh thần, đạo đức và tinh thần và các loại nhu cầu mà con người có). Những giá trị, nhu cầu và vấn đề quan tâm cơ bản này được, hoặc có thể được chia sẻ giữa những người khác biệt về văn hoá và truyền thống, và chúng là điểm khởi đầu của cuộc thảo luận và những hoạt động chung.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Một số trong những mối quan tâm, giá trị và ý kiến này là gì?</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Ở mức độ cơ bản nhất, có sự nhận biết về bản chất và giá trị của chính cuộc sống. Để có cuộc sống của một con người, thì cần phải có những điều kiện vật chất khách quan nào đó, ví dụ như có thực phẩm, nước, và các nguồn tài nguyên liên quan, chỗ ở và sự che chở, cũng như khả năng thoả mãn không chỉ về điều kiện vật chất cơ bản mà cả nhu cầu về tri thức, đạo đức, và tinh thần.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Cũng ở mức độ cơ bản như vậy, đối với một dân tộc hay bất cứ nhóm người nào sống và phát triển, họ cũng phải nhận thức rằng những mối quan tâm, những nhu cầu và mục đích này là những mối quan tâm, nhu cầu và mục đích chung. Họ phải chia sẻ hay có khả năng chia sẻ một vấn đề, một ngôn ngữ, những thói quen hay những hoạt động với người khác và, những người có thể theo đuổi các hoạt động này. Từng cá nhân phải tự nhận thức được tầm quan trọng của những nhu cầu này (và có lẽ cả những mối quan tâm và mục đích này nữa), và tầm quan trọng hơn hẳn của một số giá trị đối với những giá trị khác, mặc dù họ có thể (ít ra là ban đầu) không nhất trí giá trị nào đóng vai trò quan trọng hơn giá trị nào.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Tuy nhiên vẫn có một nhóm những điều kiện vật chất hay bán vật chất khác tồn tại và cần thiết cho những điều kiện “sơ cấp” xuất hiện ngay sau đó. Thứ nhất, con người phải nhận thức được những cá nhân xung quanh là những người mà họ có thể chung sống và hoạt động. Thứ hai, (điều này thực ra không tách biệt với điều 1), con người phải nhận thức họ đã có hoặc có thể có chung một số tín ngưỡng, thái độ và quan điểm không những về những nhu cầu cơ bản của con người, cách con người có thể và buộc phải thoả mãn những nhu cầu đó như thế nào, mà còn vệ sự giao tiếp và hợp tác với nhau, về hoạt động của thiên nhiên và còn nhiều hơn nữa, chúng ta có thể gọi là những “quan niệm chủ đạo”.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Những quan niệm chủ đạo cơ bản này do con người phát hiện chứ không sáng tạo ra. Chúng phải được khám phá (hoặc cho là được khám phá) ra đề bất cứ một cuộc đối thoại hay hợp tác nào – và đề hầu hết các mối quan hệ - có thể tồn tại. Nếu không có chung một mức độ cơ bản nào đó thì chúng ta khó có thể giao tiếp với nhau. (Thật ra, ngay cả một con người và một con chó cũng có chung một khái niệm “chủ tớ” khi con người huấn luyện chó).</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Trước khi đi sâu hơn chúng ta nên chú ý đến một số các quy luật và đặc điểm khác được đề cập ở đây.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Thứ nhất, theo như trên thì rõ ràng là sự tồn tại của các quan niệm chủ đạo rất cần thiết cho đời sống ý thức hay tinh thần của mỗi cá nhân và hình thành nên các khuôn mẫu tư duy. Bởi vì không những tư tưởng này giúp cá nhân hoà nhập được với cuộc sống cộng đồng mà còn chỉ cho cá nhân biết thế nào là một con người. Nói rộng ra, đây là những khái niệm như “con người”, “nhu cầu”, “cuộc sống”, “tương lai” và có thể “giống như tôi” hay “không giống như tôi”, những khái niệm này bộc lộ giới tính và bản sắc dân tộc của một cá nhân. Những quan niệm này còn bao gồm các ý niệm về lý trí và duy ý chí. Nói tóm lại, đây là những (loại) quan niệm mà (theo như trong nhân vật một cuộc đối thoại phát biểu), nếu chúng ta từ bỏ chúng, chúng ta sẽ không còn là mình trước đây nữa. Theo cách này, chúng ta thấy những quan niệm chủ đạo giữ một phần quan trọng trong mỗi cá nhân vì chúng hình thành nên cách chúng ta tìm hiểu bản thân và thế giới xung quanh.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Thứ hai, chính những quan niệm chủ đạo tồn tại trong một nền văn hoá cấu thành và thúc đẩy truyền thống. Do đó, chúng không chỉ là những quan niệm khách quan mà còn mang tính khách quan tương hỗ. Thực tế các quan niệm này không dùng lại ở đó. Phần lớn nói về bản chất của thực tiễn, cụ thể là các mong muốn và nhu cầu cơ bản của con người và do vậy con người không thể chỉ đơn giản chọn cho mình một quan niệm này hay quan niệm khác. Các quan niệm chủ đạo hay là những niềm tin mà con người phải có chung để giao tiếp qua lại với nhau có thể hoàn toàn mang tính ngẫu nhiên, tự phát hay không định trước. Do đó, hệ tư tưởng chủ đạo trong một nền văn hoá quy định đưa ra những quan niệm cần thiết cho sự thể hiện những truyền thống và giá trị đạo đức của nền văn hoá đó.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Nhưng còn một điểm quan trọng thứ ba: những quan niệm chủ đạo không phải là bất biến, ví dụ tư tưởng nào chiếm ưu thế chủ đạo trong một thời điểm nhất định phụ thuộc một phần vào những hình thức hoạt động và tập quán của chúng ta. Hơn nữa thông qua các kinh nghiệm mới và mối tiếp xúc với những cá nhân khác, tư tưởng chủ đạo của con người sẽ thay đổi. Bởi vì trong cùng một nền văn hoá, quan niệm chủ đạo là những quan điểm được chia sẻ nên nếu càng nhiều người có chung một tư tưởng thì tư tưởng đó sẽ được chấp nhận rộng rãi hơn và thống nhất hay chặt chẽ hơn những tư tưởng chỉ của một cá nhân. Những quan niệm này cho cá nhân một sự nhất quán nhất định để hiểu bản thân và giao tiếp với các cá nhân khác.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Sự lý giải về khái niệm “những quan niệm chủ đạo” khẳng định rằng có những tư tưởng cơ bản và những giá trị khách quan và thực tiễn, nhưng nó cũng chấp nhận những giá trị này: 1) không phải lúc nào cũng hoàn toàn rõ ràng và 2) ở một khía cạnh nào đó chúng không hoàn hảo, luôn phát triển và tiến hoá (và phải phát triển và tiến hoá) vì thế giới của chúng ta cũng không hoàn hảo, cũng luôn phát triển và tiến hoá. Không chỉ dừng ở đó, lý luận này mang tính đa nguyên tức là bất cứ một quan điểm nào cũng có thể có, và thường là có một chân lý. Giữa các chủng tộc và nền văn hoá khác nhau, người ta có thể viết hay tranh luận về những quan niệm và giá trị này mà không nghi ngờ tính khách quan của chúng; và một người có thể có những hiểu biết sâu hơn và phong phú hơn về giá trị của họ, có được những kiến thức sâu rộng và biết trân trọng những gì thuộc về giá trị thông qua sự tương hỗ với các cá nhân khác.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Do đó, tập hợp “tối thiểu” những quan niệm chủ đạo đề cập trên làm nảy sinh một xu hướng dần dần chi phối những quan niệm khác. Khi đó, sự thừa nhận người khác là những người mà ta có thể cùng sống và lao động – ngay cả khi còn chưa rõ ràng – đơn giản là sự chia sẻ một số quan niệm chủ đạo cơ bản nhất định và thừa nhận khả năng chia sẻ nhiều hơn nữa giữa các cá nhân khác nhau. Thừa nhận những cá nhân khác như là những con người đồng loại làm tăng những giá trị nhân bản, giá trị chân chính, những gì cần thiết cho sự tiến bộ loài người và cuối cùng, như một số người nhận định, nhân quyền.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Nói tóm lại, quan niệm chủ đạo là những quan niệm thúc đẩy ngôn ngữ, giao tiếp, nhận thức cũng như các hoạt động tập thể. Những hoạt động này đến lượt nó lại thúc đẩy những quan niệm khác trở nên chủ đạo. Đây là một quá trình lâu dài, chúng ta nhận thức những gì có chung và phát triển những tài sản chung ấy thông qua lao động và giao tiếp với nhau. Từ đó, cho các truyền thống văn hoá, cho sự tồn tại của những thông lệ đạo đức và cho những chuẩn mực của truyền thống đó. Mặc dù cách tiếp cận này dựa trên sự nhận thức về bản chất và nhu cầu của con người, nhưng dù sao về cơ bản nó cũng không bảo thủ và lỗi thời.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Sự phân tích trên (có nghĩa là sự phân tích về những vấn đề gây ảnh hưởng mạnh tới truyền thống và khả năng cùng lao động trong cộng đồng) có hệ quả gì đối với truyền thống và các giá trị đạo đức truyền thống?</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Thứ nhất, nó giúp chúng ta có thể đối đầu được với một số những thử thách của các giá trị đạo đức truyền thống trong bối cảnh chủ nghĩa hiện đại.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Phân tích chỉ ra rằng luân lý đạo đức không thể bắt nguồn từ mô hình của kỷ nguyên ánh sáng về lý trí và duy ý chí.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Không chỉ những tư tưởng “tân tiến” mới mâu thuẫn với nguồn gốc “tự nhiên” của đạo đức (nghĩa là như là một sản phẩm của các tư tưởng chủ đạo của mỗi truyền thống) mà ngay cả các quan niệm về đặc tính của “chủ nghĩa duy lý trí” tự thân là sản phẩm của lịch sử và truyền thống.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Tuy nhiên bài phân tích này không chống lại những chuẩn mực của lý trí mang tính đa văn hoá. Nó chỉ ra rằng lý trí là quy tắc chừng nào nó còn tượng trưng cho sự đòi hỏi sự thống nhất giữa những tín ngưỡng và lòng tin với thế giới. Cách nhìn nhận về lý trí như vậy không tạo ra hay đòi hỏi một khoảng trung lập hay đấu trường nơi giải quyết những cuộc tranh cãi. Tất cả những gì nó cần là một không gian nhận thức hoặc một cuộc thảo luận mà ở đó người ta có thể chia sẻ hay có khả năng chia sẻ, người ta có thể dần dần hiểu biết lẫn nhau. Ngoài ra, theo như quan điểm này, những gì liên quan đến “lý trí” và “tính duy lý” một cách riêng biệt là những gì bỏ ngỏ. (Và kể từ đây kiểu mẫu không theo kỷ nguyên ánh sáng này về lý trí sẽ đòi hỏi những đối thoại cởi mở).</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Giờ đây nếu chúng ta đã hiểu lý trí và tính duy lý là một quá trình bỏ ngỏ có xu hướng kết nối những ý tưởng và biến những ý tưởng nhất định thành chủ đạo thì:</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font"><span style="font-style: italic;" class="mycode_i">1. Chắc chắn sẽ có chỗ cho đạo đức truyền thống.</span></span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Nó không đòi hỏi phải phê phán hay “nghi ngờ” truyền thống (như chủ nghĩa duy lý vẫn làm). Bởi vì đạo đức truyền thống là sản phẩm của một quá trình đã được gây dựng và giữ vững qua thời gian, tất cả những gì ngang hàng với nó đều đáng ngờ.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font"><span style="font-style: italic;" class="mycode_i">2. Truyền thống có một giá trị nền tảng.</span></span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Khi đối đầu với một thách thức hay một vấn đề liên quan tới đạo đức, chúng ta phải biểu lộ hoặc thể hiện chúng trong các truyền thống mà chúng ta đang có. Và trọng tâm của truyền thống buộc chúng ta phải quay lại với truyền thống đó, tìm ra nguyên căn của nó để đối đầu với thách thức dù chúng ta quay lại với truyền thống để thách thức và phân tích rõ ràng chứ không để phòng thủ hay cầu xin nghi vấn. Truyền thống đó mâu thuẫn hay thực sự không thể đạt đến “sự căng thẳng” một cách thống nhất nếu không thì không thể đưa ra lý lẽ đối đầu hay từ chối chấp nhận theo truyền thống.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font"><span style="font-style: italic;" class="mycode_i">3. Chúng ta sẽ thấy được tính năng động của truyền thống.</span></span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Đầu tiên, hãy xét kết quả của kinh nghiệm và cuộc sống con người, các cá nhân, các nền văn hoá, các xã hội chắc chắn sẽ xuất hiện. Giải thích về truyền thống được trình bày ở trên không những cho phép tạo ra những kết quả của kinh nghiệm mà còn có khả năng duy trì bản thân truyền thống. Ví dụ những kinh nghiêm mới khiến chúng ta đào sâu kiến thức và hiểu biết về truyền thống của chính chúng ta và thậm chí buộc chúng ta phải quay lại truyền thống và “lý giải lại” nó. Sự xuất hiện những cái mới và thay đổi không có nghĩa là truyền thống đó bị từ bỏ.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Hệ quả thứ hai của phân tích nêu trên là không những phân tích đó thừa nhận giá trị truyền thống mà còn giúp cho giá trị truyền thống được tuyệt đối và không thể so sánh được với các truyền thống khác được và điều đó còn cho phép chúng ta tránh được những phân tích về truyền thống hậu hiện đại theo cách chủ quan theo thuyết tương đối.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">1. Mặc dù việc nhận thức những giá trị của truyền thống nhắc chúng ta rằng trong cuộc tranh luận về truyền thống và đạo đức truyền thống chắc chắn là ta chịu ảnh hưởng của lịch sử và hoàn cảnh, chúng ta cũng nên nhớ rằng đạo đức, những mối quan tâm và các giá trị của truyền thống không hoàn toàn phụ thuộc vào hoàn cảnh. Do sự liên hệ với thế giới cũng như sự tồn tại các truyền thống khác nhau trong cùng một thế giới nên truyền thống có thể mang tính đa văn hoá hay pha trộn văn hoá. Vì phản ứng của truyền thống đối với thế giới không hoàn thành mang tính tuỳ tiện nên chúng ta có cơ sở để phản bác lại quan niệm cho rằng chúng ta phải chấp nhận tất cả các quy tắc hay thông lệ đạo đức của mọi nền văn hoá như là ngang hàng, có giá trị ngang nhau hay hợp pháp.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">2. Tư tưởng chủ đạo nào sẽ là chủ đạo, và tư tưởng nào là thống nhất không chỉ phụ thuộc vào chủ thể, thậm chí không chỉ phụ thuộc vào cộng đồng. Vì lẽ đó, truyền thống có thể được sửa đổi cho phù hợp, và sửa đổi từ các yếu tố bên ngoài. Và vì thế, khi con người sống trong một nền văn hoá hay truyền thống phải đối mặt với các giá trị và tư tưởng mới, họ bị buộc phải đặt ra các câu hỏi mà họ không thể tìm ra câu trả lời đích xác và phải tìm cách lý giải tại sao các câu hỏi mà họ luôn đặt ra thực sự lại thích hợp hay hữu ích. Khi một người đặt ý tưởng của mình vào tư tưởng của cộng đồng, quan niệm của họ chắc chắn sẽ thay đổi và hoàn thiện hơn. Ngay như nếu điều này gây bối rối thì bài phân tích trên vẫn đảm bảo rằng những thay đổi đó đối với chúng ta hoàn toàn không đáng lo ngại. Sự nhận thức việc tồn tại của những quan niệm và giá trị của người khác cũng như tôn trọng các cá nhân khác chẳng qua là những đòi hỏi về đặc tính của đời sống nhận thức mà xét cho cùng nó thể hiện ảnh hưởng của văn hoá, tư tưởng và môi trường vật chất xung quanh nó và đó chính là một đòi hỏi mà con người không thể chối bỏ.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Tóm lại, vì chính truyền thống phải đáp lại thế giới mà nó đang tồn tại nên các quy phạm đạo đức và thông lệ đạo lý truyền thống không thể tránh khỏi bị phê phán hay thay đổi và không nhất định cần phải được duy trì.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">IV</span>. Tóm lại, những vấn đề của hiện đại hoá và những tư tưởng của tính hiện đại và hậu hiện đại là nền tảng cho quá trình hiện đại hoá buộc chúng ta phải từ bỏ đạo đức truyền thống. Thật ra, chính truyền thống đem lại cho chúng ta những phương tiện hiệu quả để xác định những vấn đề đó và tránh được tư tưởng tương đối và chủ nghĩa hư vô mà nhiều quan niệm đạo đức hiện đại và hậu hiện đại thường đem lại. Tuy nhiên quan điểm về truyền thống được trình bày ở đây không phải là quan điểm bất biến và cứng nhắc trong quá khứ. Thực tế đây là một quan điểm cho phép việc tái diễn giải lâu dài quá khứ để giải quyết những vấn đề của hiện đại và tương lai.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Như vậy luôn tồn tại một tương lai của truyền thống và đạo đức truyền thống trong những thách thức của quá trình hiện đại hoá.</span><br />
 <br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Nguồn: <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">hcmussh.edu.vn</span></span>]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div style="text-align: center;" class="mycode_align"><span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">TƯƠNG LAI CỦA TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC</span></span><br />
 </div>
<div style="text-align: right;" class="mycode_align"><span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">William Sweet</span></span></div>
 <br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Tương lai của truyền thống và đạo đức truyền thống sẽ như thế nào khi đứng trước những thách thức của sự văn minh hiện đại? Đây cũng chính là nội dung của cuộc hội thảo “Đạo đức truyền thống và những vấn đề của quá trình hiện đại hoá”. Vấn đề này đã trở thành chuyện đau đầu không chỉ ở các quốc gia châu Á mà còn ở khắp các nước châu Phi, châu Mỹ Latinh, Đông Âu và thật sự trên toàn thế giới.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Trong bài này, tôi muốn điểm lại vai trò và vị trí của truyền thống và đạo đức truyền thống trong nền văn hoá đang chịu nhiều thách thức. Để bắt đầu, tôi xin đưa ra một vài nhận xét về truyền thống và tầm quan trọng của nó đối với đạo đức, nghĩa là các nguyên tắc thông lệ đạo đức. Sau đó, tôi sẽ bàn sang các thách thức chính yếu đối với đạo đức truyền thống bắt nguồn từ khái niệm hiện đại, hậu hiện đại, và sự tồn tại của sự đa dạng và phong phú xã hội. Tiếp theo, tôi sẽ chứng minh rằng những thách thức này không làm mất đi đạo đức truyền thống và xa hơn nữa có những nguyên tắc đạo đức ràng buộc hợp với luân thường đạo lý và hợp pháp, tồn tại trong những thói quen và tín ngưỡng truyền thống, mặc dù chúng không tồn tại trong những thói quen và tín ngưỡng truyền thống. Và cuối cùng, tôi sẽ đưa ra một vài nét về tương lai của truyền thống và đạo đức truyền thống theo quan điểm của tôi.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">I</span>. Một cộng đồng có thể là một cộng đồng xét về chính trị, văn hoá hay tín ngưỡng được định nghĩa dựa trên những tính cách được tiêu chuẩn hoá của họ, hay nói khác hơn chính là các giá trị đạo đức và chuẩn mực đạo đức của họ. Chữ giá trị đạo đức tôi muốn đề cập ở đây không chỉ là các học thuyết hoặc tiêu chuẩn đạo đức mà còn bao gồm các “thông lệ và bài học đạo đức” hay các “phương thức ứng xử”.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Trong các cộng đồng tự nhiên (gia đình, làng mạc hay quan hệ láng giềng, các nhóm người dân tộc thiểu số) và trong các cộng đồng tồn tại với một quá trình lịch sử lâu đời (ví dụ như một quốc gia) thì các tiêu chuẩn xử thế, phương thức và chuẩn mực đạo đức phần lớn được xác định bởi quá khứ của nó hay còn được gọi là truyền thống. Theo một định nghĩa chung được đại đa số chấp nhận thì truyền thống là một kiểu mẫu theo phong tục đã được thiết lập, kế thừa về tư duy, hành động hay hành vi cư xử (như nghi lễ tôn giáo hay tập quán xã hội) và sự tiếp nối văn hoá về những quan điểm, tập tục và thể chế xã hội. Nó cũng đồng nghĩa với việc truyền lại những thông tin, tín ngưỡng và tập quán từ thế hệ này sang thế hệ khác mà không hề dùng đến văn bản viết, chủ yếu chỉ là truyền miệng. Như ta đã biết, truyền thống có nghĩa là quá khứ, thế nhưng nó lại không giới hạn ở đó. Nó khẳng định rằng có một sự tiếp nối, truyền thống tồn tại trong suốt một khoảng thời gian dài, truyền thống có một hiện tại và cũng có thể có một tương lai. Và khi miêu tả truyền thống như một mô hình tư duy, không chỉ là mô hình tư duy của riêng một cá nhân, ta có thể thấy truyền thống tồn tại trong các cá thể, và nó vừa vượt qua khả năng của con người lại vừa có quyền lực đối với con người. Chính vì thế chúng ta có thể nói rằng truyền thống có tính quy chuẩn, có nghĩa là nó quy định chúng ta nên hành động và cư xử thế nào cho phải lẽ.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Đạo đức được xác định chủ yếu dựa trên lịch sử và truyền thống. Bởi vì đạo đức ám chỉ thông lệ và các phương thức ứng xử cho nên việc chúng không chỉ mang tính cá nhân mà nhất thiết phải tập trung vào xã hội và mang những đặc điểm của xã hội. Tuy nhiên, đối với một số người đặc tình này gây cản trở rất lớn đối với việc hình thành cá tính và sự tự do. Và do các đạo đức truyền thống và giá trị đạo đức ít nhiều có liên quan quá khứ nên chúng được coi là hướng tới quá khứ nên chúng được coi là hướng tới quá khứ và mang tính quy ước chứ không phải là hướng tới tương lai và mang tính năng động. Nói chung, truyền thống (chẳng hạn như truyền thống văn hoá và tôn giáo) và nhất là đạo đức truyền thống thường được coi là bảo thủ, không giàu tưởng tượng trong một thế giới đang đổi thay cùng với tính vững chãi, hướng nội, không chấp nhận đổi mới, thiển cận hay biếng nhác và đôi khi còn sai lầm lệch lạc.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">II</span>. Như những nhận xét đã nêu trên, đạo đức truyền thống và truyền thống nói chung là một tập hợp luôn bị đặt trước hàng loạt những thử thách cam go. Một số những thách thức này không còn mới gì, thế nhưng hiện nay dường như những thử thách này đang tăng lên một cách đáng kể bắt nguồn từ nhiều viễn cảnh khác nhau.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Một trong những nguyên nhân của thử thách đối với đạo đức truyền thống là “tính hiện đại”. Ở đây hiện đại có nghĩa là những dòng tư duy bắt nguồn từ kỷ nguyên khai sáng, hay chí ít cũng là điển hình của kỷ nguyên này. Nó muốn gạt bỏ tất cả những truyền thống và thiết lập nên những cấu trúc của triết học, văn hoá, khoa học và đạo đức chỉ dựa trên nền tảng của lý trí. Như vậy, không phải là những tập quán mang tính chất kế thừa hay đức tin tôn giáo mà chính lý trí đã trở thành nền tảng cho đạo đức và thông lệ đạo đức.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Ví dụ như, trước tiên chúng ta có thể tìm thấy ở đây những quy luật duy lý tự nhiên và những học thuyết súc tích về xã hội của Hugo Grotius, Thomas Hobbes và John Locke, rồi đến những học thuyết duy lý về mặt đạo đức như của Inmanuel Kant và John Stuart Mill (và trong một chừng mực nào đó ta có G.W.F. Hegel và Karl Marx). Những học thuyết này bênh vực cho một giá trị đạo đức độc lập với truyền thống tôn giáo và trong một số trường hợp về cơ bản chống đối lại giá trị đạo đức này. Trong những hệ thống đạo đức này, lý trí đã thay thế chỗ của thần thánh, đấng chúa trời và những gì đại diện cho đấng chúa trời.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Sự nhấn mạnh của kỷ nguyên khai sáng đối với lý trí là thách thức đầu tiên của đạo đức truyền thống, hay nói khác là nó đưa ra nghi ngờ về những lý thuyết thông lệ đạo đức truyền thống. Tuy nhiên thách thức thứ hai đối với đạo đức truyền thống lại bắt nguồn đối với đạo đức truyền thống lại bắt nguồn từ một khía cạnh khác của tính hiện đại, đó chính là chủ nghĩa chủ quan.  “Chỉ xét về chủ thể” là một trong những đặc điểm của kỷ nguyên hiện đại. Điều này được chứng minh khi Descartes nhấn mạnh tầm quan trọng của nhận thức luận hơn học thuyết siêu hình và sự vượt trội của sự hiểu biết về cái tôi trên tất cả mọi sự hiểu biết khác. Bất cứ những gì bản thân không nắm bắt được một cách trực tiếp hoặc rõ ràng đều cần có bằng chứng cụ thể. Tiêu chuẩn hiểu biết này không chỉ áp dụng cho những vấn đề siêu hình học và nhận thức luận, mà còn áp dụng cho lý thuyết về đạo đức và thông lệ đạo đức và thông lệ đạo đức. Cụ thể hơn, sự nhấn mạnh này đối với chủ thể con người dẫn đến hai hệ quả: thứ nhất là đạo đức truyền thống cần phải được chứng minh và thứ hai là việc chứng minh này đòi hỏi phải thoả mãn nhu cầu của chủ thể. Và dần dần hệ quả thứ hai dẫn đến một quan điểm cho rằng chính chủ thể tạo nên những tiêu chuẩn thật giả, và không có tiêu chuẩn nào nằm ngoài chủ thể.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Ngay cả hiện nay vẫn tồn tại những thách thức mang tính chủ quan và duy lý lớn đối với đạo đức. Chẳng hạn như có một thông lệ đạo đức của hầu hết, nếu không muốn nói là tất cả các nền văn hoá, là con cái phải tôn trọng và vâng lời cha mẹ, phải chịu sự trừng phạt của cha mẹ nếu chúng cư xử không hợp lẽ. Là một truyền thống, điều này được truyền lại và kế thừa qua các thế hệ dù không được viết thành văn. Con cái mà không kính trọng và vâng lời cha mẹ thì sẽ bị phạt không chỉ bởi cha mẹ mà còn bởi cả những thành viên khác trong gia đình và đôi khi bởi cả cộng đồng nếu như gia đình của chúng xao lãng việc này.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Nhưng ngày nay tập tục này đang có xu hướng thay đổi ở một số nước. Người ta, thậm chí ngay chính con cái, kêu gọi các bậc phụ huynh hãy biện minh cho mong đợi của họ để được tôn trọng và vâng lời. Hơn thế nữa, ở một vài quốc gia khác, những hình phạt về thể xác cho việc không vâng lời. Hơn thế nữa, ở một vài quốc gia khác, những hình phạt về thể xác cho việc không vâng lời (ví dụ như đánh đòn) được coi là bất hợp pháp. Như vậy thì ít ra truyền thống con cái phải vâng lời cha mẹ cần phải được chứng minh là đúng hoặc phải đưa ra một lý do chính đáng. Nói rằng đây là một truyền thống đã từng trải qua hàng thế kỷ và đứng vững qua bao thử thách của thời gian không thể được xem như là một lý do (và vị trí của một “gia đình lớn” hay cộng đồng xét về mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái cần phải được định nghĩa lại. Nói chung, hiện nay việc một thành viên trong gia đình hay trong một cộng đồng bảo cha mẹ phải phạt con cái được xem như là không thể chấp nhận được).</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Tuy nhiên vẫn còn lý do thứ hai của những thách thức đối với đạo đức truyền thống là cái được gọi là “hậu hiện đại” (việc này gây không ít những lời tranh cãi từ phía các nhà ủng hộ học thuyết nam nữ bình quyền, những học thuyết gia sinh thái “xanh” và những người khác nữa). Mục tiêu chỉ trích đầu tiên của thuyết hậu hiện đại và những phong trào này chỉ đơn thuần là phát triển những lời chỉ trích hiện đại về truyền thống và biến nó trở thành những lời phê bình chống lại chính khái niệm hiện đại. Mục tiêu chính yếu của hậu hiện đại là tính hợp lý và việc nhấn mạnh rằng cần ưu tiên lý lẽ. Những người theo thuyết hậu hiện đại cho rằng sự nhấn mạnh trên lý trí, cái mà tôi gọi là chủ nghĩa duy lý, đang chịu những tổn thất từ những sai lầm tương tự như là những truyền thống mà chủ nghĩa duy lý đã thách thức. Nói cách khác, chủ nghĩa duy lý trở thành một “hệ tư tưởng”. Trong khi chủ nghĩa duy lý đang nỗ lực nâng bản thân nó lên trên những cuộc tranh luận về tư tưởng thì thật ra nó cũng vẫn chỉ là một hệ tư tưởng cần được tranh cãi. Ngay từ đầu, chủ nghĩa duy lý đã tự cho mình – và bây giờ vẫn tự cho mình - là phổ quát và có thể đưa ra một quan điểm trung lập để từ đó có thể phê bình và đánh giá tất cả các giá trị truyền thống. Nhưng cái quan điểm đặc quyền mà chủ nghĩa duy lý đưa ra lại không được thừa nhận khi con người nhìn nhận vấn đề phong phú và đa dạng về văn hoá một cách nghiêm túc. Những người có quan điểm hậu hiện đại và cả những người ủng hộ nó cho rằng tính duy lý chỉ là một truyền thống nữa mà thôi và thực ra chẳng hề có lý thuyết nào mang tính toàn cầu cũng như không thể có quan điểm hay ngôn ngữ nào mang tính trung lập và có thể hoạt động như một người phân xử những hệ tư tưởng đối lập.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Như vậy thì những người có quan điểm hậu hiện đại phê bình tính hiện đại, nhưng đồng thời họ cũng phê bình cả truyền thống và đạo đức truyền thống. Họ cho rằng phạm trù đạo đức truyền thống đã mục nát hoặc rạn nứt và chắc chắn là không phổ quát. Họ cho rằng đạo đức truyền thống là phân biệt chủng tộc, là phân biệt giai cấp và giới tính, là “phân biệt loài” v.v… Nhưng vì con người không thể đòi hỏi những tiêu chuẩn phổ quát và trung lập, những nhà phê bình này cuối cùng chấp nhận một quan điểm mà theo họ là phong phú, là tương đối đa dạng nhưng thực ra chỉ là một thuyết tương đối về đạo đức hay là một chủ nghĩa chủ quan về văn hoá.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Điều này đặc biệt trở nên rõ ràng trong những cuộc tranh luận về thông lệ đạo đức ngày nay. Mặc dù đối với một số nền văn hoá, chủ nghĩa chủ quan thường không được chấp nhận nhưng nhiều người vẫn cho rằng đối với cấp độ toàn cầu thì không có thông lệ đạo đức nào mang tính phổ quát hay đa văn hoá, cho nên tất nhiên cũng không có quy tắc đạo đức nào mang tính đa văn hoá. Chỉ có những nền văn hoá và truyền thống khác biệt, khác biệt về cơ bản, trong đó có những sự hiểu biết về đạo đức và thông lệ đạo đức khác nhau. Và  người ta vẫn thường nói rằng không có một sự hiểu biết hay một thông lệ nào được chứng tỏ là tốt hơn những sự hiểu biết hay thông lệ khác.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Ví dụ như, khi xét đến vấn đề đối xử với phụ nữ, người ta vẫn nói không những không có nguyên tắc nào chung hay mang tính phổ quát về sự bình đẳng hay chân giá trị bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới, mà thậm chí không có nguyên tắc bình đẳng nào trong xã hội này được áp dụng trong một xã hội khác. Lý do của việc không chấp nhận chân giá trị bình đẳng này không phải vì đạo đức truyền thống đã thay đổi, vì các thông lệ đạo đức quá khó thực hiện hay vì nó liên quan đến nhiều sự thay đổi cơ bản của xã hội, v.v… Lý do hợp lý hơn chính là vì quan niệm về sự bình đẳng và chân giá trị bình đẳng không thể áp dụng được trong những nền văn hoá khác nhau. Vì những nhà hậu hiện đại cho rằng chúng ta không thể kêu gọi đến lý lẽ khi đưa ra một tiêu chuẩn đặc biệt để đánh giá những thông lệ đạo đức, nên không thể có sự phê bình hợp lý nào đối với những nền văn hoá nơi tồn tại những bất công. Vì vậy, một số ngườI có thể nghĩ rằng điều này có nghĩa là những giá trị đạo đức truyền thống của những nền văn hoá đó được bảo vệ. Nhưng không phải như vậy, bởi lẽ cũng không có lý do nào được coi là hợp lý để theo đuổi những thông lệ đạo đức. Lý lẽ không thể chiếm ưu thế hơn so với truyền thống, nhưng điều này không có nghĩa là truyền thống có bất kỳ giá trị thực nào. Những nhà hậu hiện đại cho rằng giá trị đạo đức truyền thống giữ được vị trí của nó là nhờ có quyền lực. Và cũng chẳng có lý do giúp cho nó không bị thay thế bởi bất cứ điều gì các nhân vật nắm quyền lực trong tay mong muốn.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Thử thách thứ va đối với giá trị đạo đức truyền thống là một lý do đơn giản: sự hiện hữu của tính phong phú và đa dạng về văn hoá. Ở đây, đơn giản là đạo đức nói chung và những thông lệ đạo đức xác định dường như ngày càng trở nên không thích hợp với cuộc sống thường ngày, hoặc không thể thực hiện được hoặc rất vô lý. Sự giới hạn về hành vi do các giá trị đạo đức truyền thống áp đặt chỉ có giá trị khi con người coi trọng truyền thống. Đối với mức độ quốc tế thì dường như không có giá trị đạo đức nào được thiết lập vững chắc, cũng như không có thông lệ đạo đức nào được thiết lập vững chắc, cũng như không có thông lệ đạo đức nào được tất cả mọi người tôn trọng. Những lời kêu gọi đối với những nguyên tắc đạo đức truyền thống (như giữ hoà bình, tỏ ra tôn trọng các quốc gia khác, cho phép quyền tự trị và chân giá trị) có rất ít hoặc không có tác động gì. Hầu hết, nếu không có tác động gì. Hầu hết, nếu không muốn nói là tất cả các quốc gia chỉ chú ý tới những lời kêu gọi đó một cách không nhất quán. Điều tương tự cũng xảy ra giữa các dân tộc và giữa các cộng đồng: lời kêu gọi đối với đạo đức truyền thống ngày càng ít tác dụng.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Hãy thử xét chế độ nô lệ ở Sudan hay nạn diệt chủng ở Rwanda. Ở đó, tinh thần đoàn kết hay hợp tác xã hội có thể tan rã chỉ trong ngày một ngày hai, và người ta dễ dàng phớt lờ những lời kêu gọi về truyền thống cũ. Vì thế, một số người tra tấn hay giết hại những người mình đã sống hay làm việc chung chỉ vì những người này thuộc về một dân tộc hay một bộ tộc khác, bất chấp hàng thế kỷ cùng chung sống trong hoà bình. Hơn thế nữa, trong khi một số người trong chúng ta, những người sống ở những quốc gia khác, chỉ trích những hành động như vậy thì ngày càng nhiều người nén nhịn không nói ra những lên án đạo đức của mình. Một số người chỉ phát biểu: “Ai sẽ là người phân xử kẻ đúng người sai?”. Hay hãy thử xét một trường hợp khác cục bộ hơn. Cùng một lúc, ở một số người nước ngoài ta tin rằng nếu ai đó bày tỏ (một giá trị đạo đức truyền thống là) lòng trung thành đối với gia đình, bạn bè, liên đoàn hay cộng đồng của họ thì sẽ được trả ơn. Nhưng ngày càng nhiều người đặt lợi ích cá nhân của họ lên trên lợi ích của tập thể và ngay cả khi họ tỏ ra quan tâm đến tập thể thì điều đó có thể cũng chỉ là nhất thời mà thôi. Điều này cũng đúng trên nền đối với cá nhân. Đạo đức truyền thống và thông lệ đạo đức đã mất dần ảnh hưởng của nó đối với hành vi cá nhân. Thông lệ đạo đức về một cuộc sống hôn nhân lâu dài bền vững đã biến mất. Ngay cả đối với những người lập gia đình và không ly dị thì hôn nhân nói chung cũng chỉ được coi là một bản hợp đồng muốn cũng có thể huỷ bỏ được. Rõ ràng là có rất ít hoặc không có sự phản đối, khinh miệt hay ủng hộ nào mang tính xã hội ở những nước phương Tây và thái độ này cũng đang bắt đầu bén rễ ở rất nhiều nước không phải phương Tây.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Và vì vậy, trong các nền văn hoá và trên thực tế, người ta không còn tin rằng bất cứ giá trị đạo đức hay thông lệ đạo đức nào cũng có thể là nền tảng chắc chắn để đánh giá một người nào đó là đúng hay sai xét về mặt đạo đức. Vì thế, kết quả không chỉ là chủ nghĩa chủ quan hay thuyết tương đối mà thuyết hư vô. Ta phủ nhận khả năng có bất cứ quy tắc hay tiêu chuẩn nào. Đạo đức tốt nhất chỉ là thị hiếu chủ quan. Vậy thì, đạo đức truyền thống tốt nhất là cái mà người ta chấp nhận làm theo. Nhưng một người có thể chọn cách chấp nhận các giá trị đạo đức khác, hay đơn giản là từ bỏ luôn đạo đức, hoàn toàn quyết định mọi việc dựa trên tính thiên vị chủ quan của mình. Thực vậy, một trong những nhân vật của văn học phương Tây nửa cuối thế kỷ trước không phải là người vô luân mà là người phi luân - người mà đối với họ, phạm trù đạo đức dù là dựa trên lý luận hay truyền thống đều không hề được áp dụng.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Như vậy thì không có gì mỉa mai khi nói rằng thế giới này xét về nhiều khía cạnh đã được toàn cầu hoá, và khi kinh tế và các thể chế văn hoá, xã hội, chính trị ngày càng trở nên thống nhất, những thông lệ truyền thống ngày càng biến đổi và bị giới hạn, thì thế giới đạo đức cũng ngày càng rời rạc. Nhưng không có gì phải ngạc nhiên về điều này vì theo như một nhà phê bình của tờ <span style="font-style: italic;" class="mycode_i">The New Statesman</span> viết thì “sự toàn cầu hoá về kinh tế chỉ hoàn thành nốt những gì đã được chủ nghĩa hậu hiện đại hướng tới về mặt trí tuệ và chủ nghĩa cá nhân hướng tới về mặt chính trị (hay chủ nghĩa chủ quan).</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Tóm lại, những thách thức đối với đạo đức truyền thống có rất nhiều và rất mạnh mẽ. Và, nếu chúng thành công thì sẽ không chỉ không có đạo đức truyền thống mà sẽ không có cả đạo đức. Và như tôi đã đưa ra giả thuyết, tốt nhất là điều này sẽ dẫn đến một thuyết tương đối cấp tiến, nếu không phải là sự bất ổn và thuyết hư vô.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">III</span>. Những gì tôi vừa trình bày cho thấy tình huốn hiện tại có vẻ như không có lối thoát. Nhưng tôi cho rằng, như tôi đã khẳng định (ở các phần khác) là sẽ có một giải pháp.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Có một lý do chính đáng để bác bỏ sự vượt quá giới hạn của tính hiện đại và chủ nghĩa duy lý, và thậm chí có một lý do chính đáng hơn để không chấp nhận phê bình những giá trị đạo đức và đạo đức truyền thống nói chung mà người ta tìm thấy trong chủ nghĩa hậu hiện tại và những tư tưởng ủng hộ nó. Tuy nhiên, tôi cho rằng không nhất thiết phải bỏ đi truyền thống và đạo đức truyền thống vì chúng cần thiết cả trong hiện tại và tương lai. Tôi cũng cho rằng một người có thể chứng tỏ chúng cần thiết tới mức những vấn đề hiện đại hoá thương mại - những phê bình hiện đại và hậu hiện đại – đang mất đi vị trí của nó. Cuối cùng, tôi khẳng định việc này cũng sẽ cho chúng ta thấy vị trí và vai trò của những bài học truyền thống trong tương lai, nghĩa là tương lai của truyền thống sẽ ra sao.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Trước tiên, tôi muốn nói một vài lời về mức độ cần thiết của truyền thống và những bài học đạo đức truyền thống. Như tôi đã viết trong phần đầu, truyền thống quyết định rất lớn đến thông lệ đạo đức của chúng ta, và thậm chí liên quan đến kiến thức đạo đức nền tảng. Truyền thống là nguồn gốc đạo đức của chúng ta; những quy tắc đạo đức của chúng ta trước tiên được quyết định bởi “truyền thống” (Ví dụ: truyền thống đạo đức hay tôn giáo). Truyền thống cũng rất quý giá. Người ta thường kêu gọi truyền thống. Nó giúp chúng ta đặt hiện tại vào một khung cảnh, và là nguồn gốc của ý tưởng và các giải pháp khả thi đối với các vấn đề chúng ta đang đương đầu, và nó có một ảnh hưởng hay đòi hỏi mang tính quy phạm đối với chúng ta trong việc khuyên bảo chúng ta những việc nên làm.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Thực tế không thể trốn tránh truyền thống.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Chúng ta hãy lấy ví dụ về truyền thuyết chính trị và triết học của Karl Marx. Marx đã nói rằng ông ta “tôn Hegel lên đầu”, có nghĩa là ông ta đã nắm bắt được chủ nghĩa duy tâm biện chứng, và biến nó thành chủ nghĩa duy vật biện chứng, và rất nhiều người theo chủ Marx đã nói rằng công trình của Marx là hoàn toàn “giống” triết học của Hegel. (Ở đây, đứng trên quan điềm của Hegel về lý trí hay tinh thần, Marx đã thay thế “thế giới vật chất”, cụ thể là mối quan hệ kinh tế của con người. Những điều kiện vật chất, không phải là “lý trí” theo Marx là nền tảng cho sự phát triển và thay đổi). Và vì thế, sự giải thích của Marx là sự đáp lại triết lý Hegel và không thể hiểu một cách đầy đủ nếu không hiểu triết lý là, trong phạm vị rộng hơn, nguồn gốc và linh cảm của nó.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Một lời khẳng định tương tự có thể đưa ra nếu xem xét vấn đề tôn giáo. Lấy ví dụ việc dạy Thiên Chúa giáo - về chúa Jesus của Nazathreth. Trong sách phúc âm Kinh thánh Mới của Matthew (5: 17 – 18), chúa Jesus có nói: (17) “đừng nghĩ đến việc ta quyết định bỏ đi luật lệ hay sách Kinh Cựu Ước; ta ở đây không phải để gạt bỏ chúng mà để bổ sung chúng. Thật sự, ta muốn nói với các người rằng cho đến khi thượng đế hay trái đất chết đi, không một chữ cái, hay dấu chấm nào được bỏ đi trong luật lệ cho đến khi tất cả được hoàn tất.”</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Ở đây, yêu cầu của chúa Jesus là thông điệp của Ngài phụ thuộc vào hoàn cảnh và truyền thống của Đạo Do Thái. Chính truyền thống này là cái mà chúa Jesus nói Ngài muốn hoàn thành, chứ không phải là thay thế. Nhưng, nghiên cứu sâu hơn thì chúng ta thấy những gì chúa Jesus đã làm và đề nghị phải thực hiện thật khó hiểu nếu không hiểu hoàn cảnh xuất thân của Ngài, hoàn cảnh mà Ngài và các đồ đệ đã sống và dạy học. Để hiểu được lời giáo huấn của Thiên Chúa Giáo, chúng ta phải hiểu những điều nói trong luật lệ và sách Kinh Cựu Ước của Hebrew Scriptures đó chính là truyền thống của Jesus.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Hay, trong “thông luật” của các nước Mỹ-Anglo, quan điểm về truyền thống là hiện đại và thiết yếu thể hiện trong các quan điểm nền tảng như tiền lệ, các bằng chứng, và các quy tắc luật. Việc đánh giá sự vô tội hay có tội đều được dựa trên các thủ tục chính thức mà chính nó là truyền thống hay kết quả của truyền thống.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Việc tin tưởng vào những ví dụ về truyền thống và hoàn cảnh không chỉ là ngẫu nhiên. Nói chúng, từ viễn cảnh của, rõ ràng là truyền thống cũng cần thiết cho kiến thức có thể tồn tại. Vì để hiểu những kinh nghiệm hiện tại, chúng ta có thể đưa sự hoà hợp với những kinh nghiệm trong quá khứ của mình – cùng với vốn từ vựng, những câu chuyện, lối suy nghĩ, sự tự nhận biết, và hiểu biềt lẫn nhau, không chỉ xem đó là một tiền đồ hay hình thái của cuộc sống. Và điều này bao gồm cả việc liên hệ với chiều hướng xã hội và kinh nghiệm của người khác. Việc thực hành ngôn ngữ và nhận thức có thể là truyền thống hay gắn với truyền thống.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Vì vậy, truyền thống là hiện tại xuyên suốt cuộc sống nhận thức của chúng ta, và chúng không chỉ quý giá mà còn rất cần thiết đối với việc tự nhận thức và quyết định những việc làm trong tương lai.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Tuy nhiên, tôi muốn đi sâu hơn vào vấn đề và tôi cho rằng không vì thế mà việc nhận thức của con người và đời sống tinh thần của chúng ta là hoàn toàn cố định hay xác định bởi các truyền thống tương ứng, và các truyền thống này quá khác biệt nhau đến mức những người tuân theo truyền thống này không thể hiểu và có những đánh giá đúng về hoạt động của những người theo truyền thống khác. Nói cách khác, có một phương cách giúp ta nhận biết giá trị và sự thống nhất của truyền thống và các bài học đạo đức truyền thống và cả truyền thống đóng vai trò là cầu nối. Bằng việc nhận biết điều này, chúng ta không chỉ tránh được thuyết tương đối về đạo đức về “sức mạnh luôn đúng”, mà chúng ta còn có một cách để đề cập đến các thử thách và vấn đề hiện đại hoá. Nhưng nếu theo phương cách này, trước tiên ta cần phải xem xét những gì là nền tảng hay liên quan đến truyền thống.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Trước hết, rõ ràng là tất cả mọi người trong phòng này, hay hầu hết các đoàn nhóm quốc tế nào đều có nét khác biệt nhau về truyền thống và còn có những khác biệt về giá trị, văn hoá, tôn giáo và thông lệ đạo đức. Tuy nhiên, rõ ràng là vẫn tồn tại giao tiếp. Dĩ nhiên, có những thất bại trong giao tiếp, và đôi khi cuối những buổi thảo luận vẫn không thể giải quyết được vấn đề. (Có nhiều nguyên nhân dẫn đến vấn đề này, nhưng một số nguyên nhân là kết quả của sự thất bại hay lỗi của cá nhân). Tuy vậy, trong nhiều, rất nhiều vấn đề, những bất đồng về ngôn ngữ, lịch sử, văn hoá, và tôn giáo có thể và đang được giải quyết. Xét trên diện rộng, một minh hoạ cho vấn đề này là tổ chức Liên Hiệp Quốc và các cơ quan của nó. Một minh hoạ thứ hai (mà có tính gợi ý nhiều hơn) là những phong trào về giáo hội toàn thế giới trong thế kỷ hai mươi. (Tôi đã viết ở phần khác, giáo hội toàn thế giới là một mẫu để chúng ta có thể đi đến thống nhất và hợp nhất với nhau cho dù có những khác biệt về các giá trị, và tôi sẽ không lặp lại những lý lẽ này ở đây).</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Làm thế nào mà sự giao tiếp quốc tế và sự trình bày các chính sách và các hoạt động chính trị (ví dụ như Liên Hiệp Quốc) hay các giáo hội toàn thế giới và các cuộc đàm thoại qua lại về tôn giáo lại đạt được nhiều thành công như thế? Tôi nghĩ lời giải thích có thể tìm thấy trong sự giả định trước của mỗi hoạt động, các hoạt động mà chúng ta có thể gọi là “thực hành giao tiếp”. Việc mà Liên Hiệp Quốc làm thường không phải là tìm một đề tài trung lập mà là tìm một đề tài thông thường. Liên Hiệp Quốc tìm kiếm nơi có những mối quan tâm, những giá trị mà tất cả đều có thể chia sẻ và tin cậy. Hay việc giáo hội toàn thế giới tiến hành tìm kiếm một “mảnh đất” hay một tập hợp các nhiệm vụ, hay một “cuộc đàm luận” quen thuộc với tất cả những ai tham gia. Trong những trường hợp này, cần lưu ý đến giai đoạn đầu tiên là không được độc tài hay ép buộc người khác chấp nhận các giá trị nào đó mà chỉ đơn giản tìm kiếm những giá trị chung.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Trong những trường hợp này, dù khác biệt về tôn giáo, chính trị, và văn hoá giữa những người tham gia cuộc nói chuyện thì vấn đề cũng khá rõ ràng là giai đoạn đầu tiên đã đạt được, và mọi người đều nhận thấy (ít nhất là sự ngầm ý) có những ý kiến, vấn đề quan tâm, giá trị mọi người đều có thể tham gia. Và có vẻ hợp lý khi nói rằng đề tài chung này không chỉ trùng nhau, mà những người tham gia thảo luận ít nhất có thể đóng góp ý kiến, thể hiện sự quan tâm, và những giá trị đạo đức xét về mặt tồn tại của chúng. (Tuy nhiên, chúng ta không cần nói rằng họ biết họ có những người dưới chế độ nô lệ thì có sự quan tâm đến vấn đề giải phóng, ngay cả khi anh ta không ý thức hay nhận biết được sự quan tâm này).</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Khi đó, có mối quan hệ nền tảng không bó buộc giữa các ý kiến này và các mối quan tâm về con người và thế giới mà họ sống, nghĩa là thực tại, như thế nào. Thực tế, ai đó có thể nói rằng những ý kiến và sự quan tâm này là khách quan bởi vì chúng phản ánh điều cơ bản là một con người là như thế nào (ví dụ như con người là loại thể chất, tinh thần, đạo đức và tinh thần và các loại nhu cầu mà con người có). Những giá trị, nhu cầu và vấn đề quan tâm cơ bản này được, hoặc có thể được chia sẻ giữa những người khác biệt về văn hoá và truyền thống, và chúng là điểm khởi đầu của cuộc thảo luận và những hoạt động chung.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Một số trong những mối quan tâm, giá trị và ý kiến này là gì?</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Ở mức độ cơ bản nhất, có sự nhận biết về bản chất và giá trị của chính cuộc sống. Để có cuộc sống của một con người, thì cần phải có những điều kiện vật chất khách quan nào đó, ví dụ như có thực phẩm, nước, và các nguồn tài nguyên liên quan, chỗ ở và sự che chở, cũng như khả năng thoả mãn không chỉ về điều kiện vật chất cơ bản mà cả nhu cầu về tri thức, đạo đức, và tinh thần.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Cũng ở mức độ cơ bản như vậy, đối với một dân tộc hay bất cứ nhóm người nào sống và phát triển, họ cũng phải nhận thức rằng những mối quan tâm, những nhu cầu và mục đích này là những mối quan tâm, nhu cầu và mục đích chung. Họ phải chia sẻ hay có khả năng chia sẻ một vấn đề, một ngôn ngữ, những thói quen hay những hoạt động với người khác và, những người có thể theo đuổi các hoạt động này. Từng cá nhân phải tự nhận thức được tầm quan trọng của những nhu cầu này (và có lẽ cả những mối quan tâm và mục đích này nữa), và tầm quan trọng hơn hẳn của một số giá trị đối với những giá trị khác, mặc dù họ có thể (ít ra là ban đầu) không nhất trí giá trị nào đóng vai trò quan trọng hơn giá trị nào.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Tuy nhiên vẫn có một nhóm những điều kiện vật chất hay bán vật chất khác tồn tại và cần thiết cho những điều kiện “sơ cấp” xuất hiện ngay sau đó. Thứ nhất, con người phải nhận thức được những cá nhân xung quanh là những người mà họ có thể chung sống và hoạt động. Thứ hai, (điều này thực ra không tách biệt với điều 1), con người phải nhận thức họ đã có hoặc có thể có chung một số tín ngưỡng, thái độ và quan điểm không những về những nhu cầu cơ bản của con người, cách con người có thể và buộc phải thoả mãn những nhu cầu đó như thế nào, mà còn vệ sự giao tiếp và hợp tác với nhau, về hoạt động của thiên nhiên và còn nhiều hơn nữa, chúng ta có thể gọi là những “quan niệm chủ đạo”.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Những quan niệm chủ đạo cơ bản này do con người phát hiện chứ không sáng tạo ra. Chúng phải được khám phá (hoặc cho là được khám phá) ra đề bất cứ một cuộc đối thoại hay hợp tác nào – và đề hầu hết các mối quan hệ - có thể tồn tại. Nếu không có chung một mức độ cơ bản nào đó thì chúng ta khó có thể giao tiếp với nhau. (Thật ra, ngay cả một con người và một con chó cũng có chung một khái niệm “chủ tớ” khi con người huấn luyện chó).</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Trước khi đi sâu hơn chúng ta nên chú ý đến một số các quy luật và đặc điểm khác được đề cập ở đây.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Thứ nhất, theo như trên thì rõ ràng là sự tồn tại của các quan niệm chủ đạo rất cần thiết cho đời sống ý thức hay tinh thần của mỗi cá nhân và hình thành nên các khuôn mẫu tư duy. Bởi vì không những tư tưởng này giúp cá nhân hoà nhập được với cuộc sống cộng đồng mà còn chỉ cho cá nhân biết thế nào là một con người. Nói rộng ra, đây là những khái niệm như “con người”, “nhu cầu”, “cuộc sống”, “tương lai” và có thể “giống như tôi” hay “không giống như tôi”, những khái niệm này bộc lộ giới tính và bản sắc dân tộc của một cá nhân. Những quan niệm này còn bao gồm các ý niệm về lý trí và duy ý chí. Nói tóm lại, đây là những (loại) quan niệm mà (theo như trong nhân vật một cuộc đối thoại phát biểu), nếu chúng ta từ bỏ chúng, chúng ta sẽ không còn là mình trước đây nữa. Theo cách này, chúng ta thấy những quan niệm chủ đạo giữ một phần quan trọng trong mỗi cá nhân vì chúng hình thành nên cách chúng ta tìm hiểu bản thân và thế giới xung quanh.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Thứ hai, chính những quan niệm chủ đạo tồn tại trong một nền văn hoá cấu thành và thúc đẩy truyền thống. Do đó, chúng không chỉ là những quan niệm khách quan mà còn mang tính khách quan tương hỗ. Thực tế các quan niệm này không dùng lại ở đó. Phần lớn nói về bản chất của thực tiễn, cụ thể là các mong muốn và nhu cầu cơ bản của con người và do vậy con người không thể chỉ đơn giản chọn cho mình một quan niệm này hay quan niệm khác. Các quan niệm chủ đạo hay là những niềm tin mà con người phải có chung để giao tiếp qua lại với nhau có thể hoàn toàn mang tính ngẫu nhiên, tự phát hay không định trước. Do đó, hệ tư tưởng chủ đạo trong một nền văn hoá quy định đưa ra những quan niệm cần thiết cho sự thể hiện những truyền thống và giá trị đạo đức của nền văn hoá đó.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Nhưng còn một điểm quan trọng thứ ba: những quan niệm chủ đạo không phải là bất biến, ví dụ tư tưởng nào chiếm ưu thế chủ đạo trong một thời điểm nhất định phụ thuộc một phần vào những hình thức hoạt động và tập quán của chúng ta. Hơn nữa thông qua các kinh nghiệm mới và mối tiếp xúc với những cá nhân khác, tư tưởng chủ đạo của con người sẽ thay đổi. Bởi vì trong cùng một nền văn hoá, quan niệm chủ đạo là những quan điểm được chia sẻ nên nếu càng nhiều người có chung một tư tưởng thì tư tưởng đó sẽ được chấp nhận rộng rãi hơn và thống nhất hay chặt chẽ hơn những tư tưởng chỉ của một cá nhân. Những quan niệm này cho cá nhân một sự nhất quán nhất định để hiểu bản thân và giao tiếp với các cá nhân khác.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Sự lý giải về khái niệm “những quan niệm chủ đạo” khẳng định rằng có những tư tưởng cơ bản và những giá trị khách quan và thực tiễn, nhưng nó cũng chấp nhận những giá trị này: 1) không phải lúc nào cũng hoàn toàn rõ ràng và 2) ở một khía cạnh nào đó chúng không hoàn hảo, luôn phát triển và tiến hoá (và phải phát triển và tiến hoá) vì thế giới của chúng ta cũng không hoàn hảo, cũng luôn phát triển và tiến hoá. Không chỉ dừng ở đó, lý luận này mang tính đa nguyên tức là bất cứ một quan điểm nào cũng có thể có, và thường là có một chân lý. Giữa các chủng tộc và nền văn hoá khác nhau, người ta có thể viết hay tranh luận về những quan niệm và giá trị này mà không nghi ngờ tính khách quan của chúng; và một người có thể có những hiểu biết sâu hơn và phong phú hơn về giá trị của họ, có được những kiến thức sâu rộng và biết trân trọng những gì thuộc về giá trị thông qua sự tương hỗ với các cá nhân khác.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Do đó, tập hợp “tối thiểu” những quan niệm chủ đạo đề cập trên làm nảy sinh một xu hướng dần dần chi phối những quan niệm khác. Khi đó, sự thừa nhận người khác là những người mà ta có thể cùng sống và lao động – ngay cả khi còn chưa rõ ràng – đơn giản là sự chia sẻ một số quan niệm chủ đạo cơ bản nhất định và thừa nhận khả năng chia sẻ nhiều hơn nữa giữa các cá nhân khác nhau. Thừa nhận những cá nhân khác như là những con người đồng loại làm tăng những giá trị nhân bản, giá trị chân chính, những gì cần thiết cho sự tiến bộ loài người và cuối cùng, như một số người nhận định, nhân quyền.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Nói tóm lại, quan niệm chủ đạo là những quan niệm thúc đẩy ngôn ngữ, giao tiếp, nhận thức cũng như các hoạt động tập thể. Những hoạt động này đến lượt nó lại thúc đẩy những quan niệm khác trở nên chủ đạo. Đây là một quá trình lâu dài, chúng ta nhận thức những gì có chung và phát triển những tài sản chung ấy thông qua lao động và giao tiếp với nhau. Từ đó, cho các truyền thống văn hoá, cho sự tồn tại của những thông lệ đạo đức và cho những chuẩn mực của truyền thống đó. Mặc dù cách tiếp cận này dựa trên sự nhận thức về bản chất và nhu cầu của con người, nhưng dù sao về cơ bản nó cũng không bảo thủ và lỗi thời.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Sự phân tích trên (có nghĩa là sự phân tích về những vấn đề gây ảnh hưởng mạnh tới truyền thống và khả năng cùng lao động trong cộng đồng) có hệ quả gì đối với truyền thống và các giá trị đạo đức truyền thống?</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Thứ nhất, nó giúp chúng ta có thể đối đầu được với một số những thử thách của các giá trị đạo đức truyền thống trong bối cảnh chủ nghĩa hiện đại.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Phân tích chỉ ra rằng luân lý đạo đức không thể bắt nguồn từ mô hình của kỷ nguyên ánh sáng về lý trí và duy ý chí.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Không chỉ những tư tưởng “tân tiến” mới mâu thuẫn với nguồn gốc “tự nhiên” của đạo đức (nghĩa là như là một sản phẩm của các tư tưởng chủ đạo của mỗi truyền thống) mà ngay cả các quan niệm về đặc tính của “chủ nghĩa duy lý trí” tự thân là sản phẩm của lịch sử và truyền thống.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Tuy nhiên bài phân tích này không chống lại những chuẩn mực của lý trí mang tính đa văn hoá. Nó chỉ ra rằng lý trí là quy tắc chừng nào nó còn tượng trưng cho sự đòi hỏi sự thống nhất giữa những tín ngưỡng và lòng tin với thế giới. Cách nhìn nhận về lý trí như vậy không tạo ra hay đòi hỏi một khoảng trung lập hay đấu trường nơi giải quyết những cuộc tranh cãi. Tất cả những gì nó cần là một không gian nhận thức hoặc một cuộc thảo luận mà ở đó người ta có thể chia sẻ hay có khả năng chia sẻ, người ta có thể dần dần hiểu biết lẫn nhau. Ngoài ra, theo như quan điểm này, những gì liên quan đến “lý trí” và “tính duy lý” một cách riêng biệt là những gì bỏ ngỏ. (Và kể từ đây kiểu mẫu không theo kỷ nguyên ánh sáng này về lý trí sẽ đòi hỏi những đối thoại cởi mở).</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Giờ đây nếu chúng ta đã hiểu lý trí và tính duy lý là một quá trình bỏ ngỏ có xu hướng kết nối những ý tưởng và biến những ý tưởng nhất định thành chủ đạo thì:</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font"><span style="font-style: italic;" class="mycode_i">1. Chắc chắn sẽ có chỗ cho đạo đức truyền thống.</span></span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Nó không đòi hỏi phải phê phán hay “nghi ngờ” truyền thống (như chủ nghĩa duy lý vẫn làm). Bởi vì đạo đức truyền thống là sản phẩm của một quá trình đã được gây dựng và giữ vững qua thời gian, tất cả những gì ngang hàng với nó đều đáng ngờ.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font"><span style="font-style: italic;" class="mycode_i">2. Truyền thống có một giá trị nền tảng.</span></span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Khi đối đầu với một thách thức hay một vấn đề liên quan tới đạo đức, chúng ta phải biểu lộ hoặc thể hiện chúng trong các truyền thống mà chúng ta đang có. Và trọng tâm của truyền thống buộc chúng ta phải quay lại với truyền thống đó, tìm ra nguyên căn của nó để đối đầu với thách thức dù chúng ta quay lại với truyền thống để thách thức và phân tích rõ ràng chứ không để phòng thủ hay cầu xin nghi vấn. Truyền thống đó mâu thuẫn hay thực sự không thể đạt đến “sự căng thẳng” một cách thống nhất nếu không thì không thể đưa ra lý lẽ đối đầu hay từ chối chấp nhận theo truyền thống.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font"><span style="font-style: italic;" class="mycode_i">3. Chúng ta sẽ thấy được tính năng động của truyền thống.</span></span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Đầu tiên, hãy xét kết quả của kinh nghiệm và cuộc sống con người, các cá nhân, các nền văn hoá, các xã hội chắc chắn sẽ xuất hiện. Giải thích về truyền thống được trình bày ở trên không những cho phép tạo ra những kết quả của kinh nghiệm mà còn có khả năng duy trì bản thân truyền thống. Ví dụ những kinh nghiêm mới khiến chúng ta đào sâu kiến thức và hiểu biết về truyền thống của chính chúng ta và thậm chí buộc chúng ta phải quay lại truyền thống và “lý giải lại” nó. Sự xuất hiện những cái mới và thay đổi không có nghĩa là truyền thống đó bị từ bỏ.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Hệ quả thứ hai của phân tích nêu trên là không những phân tích đó thừa nhận giá trị truyền thống mà còn giúp cho giá trị truyền thống được tuyệt đối và không thể so sánh được với các truyền thống khác được và điều đó còn cho phép chúng ta tránh được những phân tích về truyền thống hậu hiện đại theo cách chủ quan theo thuyết tương đối.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">1. Mặc dù việc nhận thức những giá trị của truyền thống nhắc chúng ta rằng trong cuộc tranh luận về truyền thống và đạo đức truyền thống chắc chắn là ta chịu ảnh hưởng của lịch sử và hoàn cảnh, chúng ta cũng nên nhớ rằng đạo đức, những mối quan tâm và các giá trị của truyền thống không hoàn toàn phụ thuộc vào hoàn cảnh. Do sự liên hệ với thế giới cũng như sự tồn tại các truyền thống khác nhau trong cùng một thế giới nên truyền thống có thể mang tính đa văn hoá hay pha trộn văn hoá. Vì phản ứng của truyền thống đối với thế giới không hoàn thành mang tính tuỳ tiện nên chúng ta có cơ sở để phản bác lại quan niệm cho rằng chúng ta phải chấp nhận tất cả các quy tắc hay thông lệ đạo đức của mọi nền văn hoá như là ngang hàng, có giá trị ngang nhau hay hợp pháp.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">2. Tư tưởng chủ đạo nào sẽ là chủ đạo, và tư tưởng nào là thống nhất không chỉ phụ thuộc vào chủ thể, thậm chí không chỉ phụ thuộc vào cộng đồng. Vì lẽ đó, truyền thống có thể được sửa đổi cho phù hợp, và sửa đổi từ các yếu tố bên ngoài. Và vì thế, khi con người sống trong một nền văn hoá hay truyền thống phải đối mặt với các giá trị và tư tưởng mới, họ bị buộc phải đặt ra các câu hỏi mà họ không thể tìm ra câu trả lời đích xác và phải tìm cách lý giải tại sao các câu hỏi mà họ luôn đặt ra thực sự lại thích hợp hay hữu ích. Khi một người đặt ý tưởng của mình vào tư tưởng của cộng đồng, quan niệm của họ chắc chắn sẽ thay đổi và hoàn thiện hơn. Ngay như nếu điều này gây bối rối thì bài phân tích trên vẫn đảm bảo rằng những thay đổi đó đối với chúng ta hoàn toàn không đáng lo ngại. Sự nhận thức việc tồn tại của những quan niệm và giá trị của người khác cũng như tôn trọng các cá nhân khác chẳng qua là những đòi hỏi về đặc tính của đời sống nhận thức mà xét cho cùng nó thể hiện ảnh hưởng của văn hoá, tư tưởng và môi trường vật chất xung quanh nó và đó chính là một đòi hỏi mà con người không thể chối bỏ.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Tóm lại, vì chính truyền thống phải đáp lại thế giới mà nó đang tồn tại nên các quy phạm đạo đức và thông lệ đạo lý truyền thống không thể tránh khỏi bị phê phán hay thay đổi và không nhất định cần phải được duy trì.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">IV</span>. Tóm lại, những vấn đề của hiện đại hoá và những tư tưởng của tính hiện đại và hậu hiện đại là nền tảng cho quá trình hiện đại hoá buộc chúng ta phải từ bỏ đạo đức truyền thống. Thật ra, chính truyền thống đem lại cho chúng ta những phương tiện hiệu quả để xác định những vấn đề đó và tránh được tư tưởng tương đối và chủ nghĩa hư vô mà nhiều quan niệm đạo đức hiện đại và hậu hiện đại thường đem lại. Tuy nhiên quan điểm về truyền thống được trình bày ở đây không phải là quan điểm bất biến và cứng nhắc trong quá khứ. Thực tế đây là một quan điểm cho phép việc tái diễn giải lâu dài quá khứ để giải quyết những vấn đề của hiện đại và tương lai.</span><br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Như vậy luôn tồn tại một tương lai của truyền thống và đạo đức truyền thống trong những thách thức của quá trình hiện đại hoá.</span><br />
 <br />
 <br />
<span style="font-family: times new roman;" class="mycode_font">Nguồn: <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">hcmussh.edu.vn</span></span>]]></content:encoded>
		</item>
	</channel>
</rss>