| Xin chào, Khách |
Bạn cần phải Đăng ký trước khi đăng bài viết trên diễn đàn.
|
| Thông kê diễn đàn |
» Thành viên: 472,194
» Thành viên mưới nhất: TabathaSes
» Chủ đề: 483,302
» Bài viết: 539,261
Thống kê đầy đủ
|
| Thành viên Online |
Hiên tại có 2021 thành viên online. » 1 Thành viên | 2015 Khách Applebot, Baidu, Bing, Google, Yandex, katty01
|
|
|
| Rượu đắt tiền và rẻ tiền có vị giống nhau trong những bài kiểm tra bịt mắt nếm rượu |
|
Đăng bởi: rubiru - 05-29-2013, 02:01 AM - Diễn đàn: Tâm lý học
- Không có trả lời
|
 |
[size=medium]
Tham khảo
Cheap and Expensive Wine Taste the Same in Blind Taste Tests
What does that tell us about human psychology?
Published on July 21, 2012 by Ben Y. Hayden, Ph.D. in The Decision Tree
Chúng ta khá tệ trong cuộc thi nếm phân biệt sự khác nhau giữa những loại rượu khác nhau. Ngay cả những chuyên gia cũng dễ dàng bị đánh lừa. Bạn đặt 1 cái nhãn giả lên 1 chai rượu và những ý kiến của các chuyên gia có thể thay đổi đột ngột. Bạn thậm chí có thể làm nóng rượu vang trắng và nhuộm nó thành màu đỏ (với màu thực phẩm) và nhiều người sẽ nghĩ nó là 1 chai rượu vang đỏ.
Điều này không chỉ đúng với rượu. Hầu hết mọi người không thể nếm được sự khác biệt giữa Coke và Pepsi (ngay cả khi hầu hết mọi người nghĩ là họ có thể - Tôi từng làm nhiều thực nghiệm). Điều tương tự có lẽ cũng đúng với đồ uống yêu thích của bạn, ví dụ Powerade vs Gatorade, nước vitamin bạn thích. Gọi 1 thứ gì đó là Tahitian Vanilla làm nó có mùi vị ngon hơn chỉ gọi nó là Vanilla. Gọi 1 thứ gì đó là tương đậu đen Oaxaca làm nó có vị ngon hơn so với chỉ gọi tương đậu đen...
Những phát hiện đó thường làm mọi người sốc (trong số những chuyên gia rượu và những người yêu thức ăn) và với niềm hân hoan từ những người không sành rượu/đồ ăn. Nhưng tôi nghĩ rằng hầu hết chúng ta thất vọng khi biết rằng phần lớn những trải nghiệm ăn uống của chúng ta xảy ra trong tâm trí chúng ta chứ không phải khẩu vị của chúng ta.
Nhưng chúng không thực sự hoàn toàn khó hiểu. Hầu hết mọi thứ mà chúng ta trải nghiệm trong phần lớn thời gian chủ yếu đến từ tâm trí của bạn chứ không phải từ thế giới bên ngoài. Chúng ta chỉ quên điều đó rất nhiều.
Hãy thử 1 ví dụ khác. Bạn muốn có 1 bức tranh mới trong phòng ngủ của bạn và bạn là 1 triệu phú đôla. Bạn có thể mua 1 tác phẩm thật bởi họa sĩ bạn yêu thích với giá 10 triệu đô. 1 người bạn trong giới nghệ thuật nói cho bạn biết là có 1 bức tranh giả siêu đẹp chỉ có nửa triệu đô. Nó trông rất giống tranh thật đến nỗi 1 ban hội thẩm gồm 6 chuyên gia đã kết luận nó là tranh thật, kể cả bản thân ông họa sĩ.
Tại sao bạn phải trả nhiều tiền cho bức tranh gốc? [Giả định là bạn không có kế hoạch bán lại bức tranh – bạn chỉ muốn trưng bày nó trong nhà bạn]. Đó là vì có sự thỏa mãn về mặt tâm lý bạn nhận được khi biết nó là đồ thật. Và điều đó đáng giá hàng triệu đô, dù nó phi logic.
Tâm trí liên tục lấy thông tin từ thế giới cảm giác, nhưng thông tin đó chỉ là tài liệu thô cho những kinh nghiệm của chúng ta. Chúng ta liên tục diễn giải thông tin đó và đặt nó vào trong bối cảnh của những thế giới mà chúng ta đã tạo ra trong đầu chúng ta. Câu chuyện phía sau 1 số món đồ ảnh hưởng đến những kỳ vọng đó và làm thay đổi cách diễn giải của chúng ta.
Vì vậy, nếu bạn là 1 người yêu rượu, đừng cảm thấy tồi tệ về việc trả 80$ cho 1 chai rượu mà bản thân bạn không thể phân biệt được nó với 1 chai rượu 8$ trong 1 bài kiểm tra bịt mắt nếm rượu. Cái chạm vào lưỡi của bạn không hoàn toàn là cái bạn nếm. Nó là tất cả những câu chuyện đằng sau chai rượu và nó bước vào lưỡi của bạn thông qua bộ não của bạn.
Nguồn: PsychologyToday
|
|
|
| Địa phủ thẩm án |
|
Đăng bởi: lyquochoang - 05-29-2013, 01:48 AM - Diễn đàn: Tôn giáo & Tâm linh
- Không có trả lời
|
 |
ĐỊA PHỦ THẨM ÁN
Vũ miếu minh chánh đường phụ loan viết sách.
Ngọc chiếu
khâm phụng Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn Huyền Linh Cao Thượng Đế chiếu rằng:
Trẫm tại ngôi vị,lúc nào cũng nhớ đến chúng sanh,mắt thấy lòng người xấu xa,phong hóa suy đồi,ngày càng sa đọa,khổ hải vô biên,khó mà tự cứu,thật là đau lòng.Nay có Quan Khanh chủ tịch Minh Chánh Đường Vũ miếu trình tấu,đề xướng nhiều phương châm phổ hóa,sau khi chuyển qua Vô Cực,Hoàng Mẫu vui mừng chuẩn tấu.Trẫm ban sắc chỉ,chuẩn y Vũ miếu minh chánh đường làm nơi xét xử tạm thời,dùng bút gỗ phi loan,do địa phủ câu hồn đến thánh đường,lấy những án xưa nay xét xử viết thành sách tựa "địa phủ thẩm án",để cảnh giác người đời,bỏ ác làm thiện,cùng tu đại đạo,làm cho thuần phong thượng cổ tái hiện phàm trần,giống như những năm tháng thời Nghiêu Thuấn.Khi viết sách,vì do địa phủ xét xử,sợ kinh động dương thế,đặc phái Lôi Chấn Tử cùng tướng sĩ bộ Lôi chấn thủ thánh đường,không được để kinh động người dân.Từ lúc tiếp chỉ,mỗi ngày chủ nhật,Dũng bút Vương sinh chánh loan bút vũ miếu minh chánh đường đảm nhiệm việc viết sách,nguyện thần nhân tận lực,sau khi viết xong sẽ luận công ban thưởng,đừng phụ ý trẫm.
U Minh giáo chủ Địa Tạng Vương Bồ Tát :
trời cao có đức hiếu sinh,người đời lại không có tâm hành thiện,những kẻ làm toàn chuyện xằng bậy,khi còn sống có thể thoát được dương pháp xử trị nhưng đến lúc chết sẽ bị âm luật trừng phạt nghiêm khắc.Mắt nhìn tội nhân tràn ngập cả địa ngục,không còn chỗ chứa nữa,thật là đau lòng,ta tuy nắm quyền u minh giáo chủ nhưng cảm thấy thật sự bất lực,đại nguyện :"địa ngục không trống thề không thành phật" lúc nào mới thành tựu,thật xót xa.Nay may mắn có chánh đường Vũ miếu phụng chỉ viết sách "địa phủ thẩm án",sắc mệnh Dũng bút dùng bút gỗ ghi lại các án xử của thập điện diêm la,âm luật nghiêm minh,công chính vô tư,cảnh báo người ác quay đầu hướng thiện để thay đổi phong hóa xã hội,thấy lại năm tháng của Nghiêu Thuấn,để đại nguyện của ta có ngày thành tựu,vài lời mở đầu cho sách "địa phủ thẩm án".
U Minh giáo chủ Địa Tạng Vương bồ tát giáng tựa tại Vũ miếu Minh Chánh đường.
thiên vận ngày 10 tháng 6 năm giáp tý.
Vũ miếu Minh Chánh đường chủ tịch Quan ân sư:
dương thế có dương pháp có tù ngục,âm giới có âm luật có địa ngục,âm dương cùng một lý,cũng là phương pháp trừng trị kẻ ác.Dương thế lấy pháp luật bảo vệ người lương thiện,lấy pháp luật xử trị kẻ tội phạm,do đó pháp luật là thần thánh,không thể xúc phạm.Người sau khi chết,hồn vào âm giới,tại thế gian có làm thiện đều được siêu thăng,còn kẻ làm ác tại dương thế,thì phải trải qua sự xét xử của thập điện diêm la,tùy theo tội nặng hay nhẹ,phán vào các ngục thọ hình,đợi khi tội hình thọ đủ thì được giao qua điện thứ 10 đầu thai chuyển kiếp vào lục đạo luân hồi.Người ác tại dương gian tuy có thể thoát qua lỗ hổng của pháp luật nhưng một khi đến địa phủ thì dù có chối cải tội chứng như thế nào cũng không thoát được gương chiếu nghiệp,âm luật nghiêm minh,công chính vô tư,hình phạt thập điện khốn khổ gấp nhiều lần tù giam nơi cõi trần.Người đời chỉ biết tự do bình đẳng mà không biết tự do bình đẳng là phải trong khuôn khổ giữ gìn pháp luật,không được vi phạm,nếu không thì khó yên ổn,tuy tại dương thế đã thọ hình tù tội nhưng sau khi chết lại bị luật âm trừng trị tiếp,trời xanh vì cảnh giác người đời,đặc biệt sắc mệnh Nam Thiên Trực Hạt Vũ miếu Minh Chánh Đường,lấy bút gỗ ghi lại việc xét xử của địa phủ làm cho con người thức tỉnh,chớ có che mờ lương tâm,đừng hy vọng may rủi mà tránh được hình phạt địa ngục,nếu không,đến lúc thọ hình thì cũng quá muộn rồi,vài lời tựa cho sách "địa phủ thẩm án".
Nam Thiên Trực Hạt Vũ miếu Minh Chánh đường chủ tịch Văn Hành Thánh Đế Quan tựa.
PHẦN THƯỞNG THIỆN
HỒI 1: LỖI NHIỀU CÔNG ÍT HÀNH THIỆN ĐỨC,MINH VƯƠNG KHEN THƯỞNG CHO NGỒI.
Lôi Chấn Tử tiên sư giáng:
thơ rằng: phụng chỉ nam thiên giáng thánh đường,viết sách hộ pháp khởi minh quang,chư sinh hội tụ nhiều ngày tháng,ý chí nuôi dưỡng thành tâm trưởng.
Thánh thị: địa phủ mượn chánh đường của Vũ miếu làm nơi xử án tạm thời,ta phụng chỉ ngọc đế cùng tướng sĩ bộ Lôi hộ pháp xung quanh,không để người dương bị kinh động,sau này tụ hội còn nhiều,hy vọng chư hiền sinh thành tâm hợp tác,không được biếng trễ,sau khi sách thành,ta sẽ tâu lên ngọc đế luận công khen thưởng.
Ngưu Mã tướng quân minh phủ đệ nhất điện đã đến.
thơ rằng: khen Trung thưởng Hiếu khuyên lê dân,ác nghiệt khó biết cố giữ Nhân,tội phước sau cùng đều có báo,luật âm nghiêm khắc chánh nhân luân.
Thánh thị:hôm nay chúa công Tần Quảng Vương lâm đàn xử án,tướng quân Ngưu mã đi trước dọn đường,đồng thời mời văn võ phán quan giáng đến,tất cả đã đến.
thơ rằng: đi theo chúa công đến xét xử,âm ty di chuyển đến bồng lai,viết sách khuyên đời công không nhỏ,lấy bút phi loan lên thánh đài.
Thánh thị: cung thỉnh chúa công giáng lâm.
Đệ nhất điện Tần Quảng Vương giáng.
thơ rằng: người đời hành thiện có tiếng thơm,mọi người kính trọng phước tự thành,hôm nay đến đường để khuyến hóa,tu công lập quả về diêu kinh.
Thánh thị: hôm nay bổn vương cùng tất cả quan tướng đệ nhất điện tạm mượn quí đường xét xử,viết sách "địa phủ thẩm án",nơi nào làm phiền thần nhân quí đường xin thông cảm.người đâu,giải hồn lên đây.
quỉ sai: tuân mệnh,bẩm chúa công đã đến.
Minh Vương: xin mời phúc thần quí đường thay hồn chấp bút,hồn phía dưới người gì ? mau mau khai báo.
Phúc thần: xin tuân mệnh thay hồn chấp bút.
Hồn: khấu kiến minh vương và chư thánh thần,hồn họ Tiêu tên Liễu,người huyện Chương Hóa,chết 16 năm trước.
Minh Vương: ngươi lúc sống có nhiều thiện công,bổn vương cho ngồi.
Hồn: khấu tạ đại vương cho ngồi.
Minh Vương: mệnh văn phán tra xem hoàn cảnh Tiêu Liễu lúc còn sống để bổn vương tham khảo.
Văn phán: tuân mệnh,bẩm chúa công,Tiêu Liễu lúc sống là con nhà nghèo,sống nhờ vào mấy mẫu ruộng nhỏ,người này cũng biết hành thiện,đã từng lấy tiền đóng góp cho xã hội,lại còn thường xuyên ẩn danh hành thiện,tích lũy thiện công một đời là 3658 công,đạo đức là 812 quả,nhưng đã từng phạm qua dâm nghiệp và bán thánh vật giả,tích lũy tội lỗi khấu trừ 1300 công,73 quả,công quả không đủ vào sở tu thiện,như vậy xin chúa công định đoạt.
Minh Vương: Tiêu Liễu,ngươi có ý kiến gì với sự trình bày trên không ?
Hồn: không dám,không ngờ việc tiểu hồn lấy tiền dành dụm làm việc thiện,cứu trợ người khác,trợ in sách thiện,xây chùa,phóng sanh,sau khi chết lại được đại vương cho ngồi,thật cảm tạ vô cùng,lúc trước thường nghe người ta nói:"Diêm la vương mặt xanh,miệng đầy răng nanh,hung dữ như muốn ăn thịt người,hôm nay gặp mặt mới biết là sai".
Minh Vương: haha,sai rồi,địa phủ diêm la vương còn hung dữ hơn ác quỉ,nhưng ngươi là người thiện đức,bổn vương sao có thể hung dữ với ngươi,nên biết lòng trời luôn bảo vệ người thiện,bổn vương sao có thể đi ngược ý trời,nếu như ngươi là kẻ ác,bổn vương sẽ cho ngươi nếm trải hình phạt,lúc đó thì sẽ không còn thấy ta thân thiện nữa.
Hồn: may mắn là tiểu hồn khỏi phải thưởng thức những khổ hình đó.
Minh Vương: nhưng đáng tiếc ngươi có tội nghiệp không thể vào sở tu thiện,vậy bây giờ ngươi muốn đầu thai trả nghiệp hay làm thiện hồn tiếp tục tu hành ?
Hồn: tiểu hồn cả gan xin hỏi đại vương,hai cái khác biệt nhau như thế nào ?
Minh Vương: nếu như ngươi đầu thai chuyển kiếp,có công thì mang phước theo,chuyển vào gia đình giàu có,nếu ngươi biết mượn phước tu hành tiếp tục thì công quả sẽ lớn hơn,hồng trần vốn đầy cạm bẫy cám dỗ,một lúc mê đắm thì thật tai hại,còn như làm thiện hồn,bổn vương cho cơ hội,sau khi huấn luyện một thời gian rồi làm sai dịch cho bổn điện,tu thêm công quả,tuy khổ một chút nhưng tránh được tạo nghiệp,đọa vào khổ hải.
Hồn: tiểu hồn muốn làm ân quyến của đại vương.
Minh Vương: haha,ngươi thật thông minh,mệnh văn phán ghi lại tất cả quá trình xét xử,hôm nay đến đây chấm dứt,chúng ta về phủ.
HỒI 2: CHỊU TRỪNG PHẠT BẢO VỆ CÔNG QUẢ,CẢNH GIÁC CAO CHỚ TẠO TỘI.
thập điện ngưu mã tướng quân đã đến.
thơ rằng: thập điện chuyên tư đại chuyển luân,chỉ bằng thiện ác biết nhân trước,người đời minh ngộ tu nhân đức,tự được quỷ thần âm thầm giúp.
thánh thị: có văn võ phán quan giáng lâm,chuyển luân lục đạo bổn vô tư,thiện giả siêu thăng ác phạt chi,thiên nhãn rõ ràng nhìn thấy đây,âm luật nghiêm minh chánh quy nghi.
Minh phủ thập điện chuyển luân vương giáng.
thơ rằng: tất cả quá trình xét xử đều ghi vào sách để cảnh giác người đời,thăng đường xét xử.
Ngưu tướng quân: thăng đường,mời sai dịch đệ tam điện,đem vong hồn chuyển đến bổn điện.
sai dịch: tất cả văn kiện liên quan xin giao cho ngưu tướng quân trình lên minh vương,tiểu hồn nhiệm vụ hoàn thành,xin cáo lui.
Ngưu tướng quân: đã nhận đủ không sót,vong hồn đã giải lên đợi xét xử.
Minh vương: làm phiền phúc thần của quí đường thay hồn chấp bút.vong hồn phía dưới là người gì ? mau mau bẩm báo.
Hồn: tiểu hồn khấu kiến minh vương và chư vị thánh thần,hồn họ Diêu tên Thạnh Tòng,là người đời Thanh cuối năm Gia Khánh.
Minh vương: mời ngồi,ngươi lúc sống có tạo công đức,nên bổn vương đối xử đặc biệt,nhưng sao ngươi không chấp nhận lấy công trừ tội,ngươi đã từng lấy 1 phần 3 sản nghiệp để tạo công đức,một đời tích lũy đến 4756 công,1500 quả,có thể bù đắp tội nghiệp.
Hồn: tiểu hồn biết rõ nhưng tiểu hồn càng hiểu được công quả tu tạo không dễ,do đó cam chịu hình phạt của đệ tam điện để đủ công quả vào sở tu thiện.
Minh vương: Ừ,đúng là khổ tâm,mệnh văn phán tra xem công tội của Diêu hồn lúc còn sống.
Văn phán: tuân mệnh,vong hồn Diêu Thạnh Tòng,sinh vào năm Gia Khánh thứ 24 tại Sơn Tây,là con thứ của họ Diêu,vì lúc nhỏ nhà nghèo nên đem cho nhà họ Lô làm con nuôi,cha mẹ nuôi thương như con ruột,vì không có con cái ruột thịt,sau khi qua đời đã để lại toàn bộ tài sản cho kế thừa,để tránh sự quấy nhiễu của thân thuộc cha mẹ nuôi,hồn đã bán tất cả gia sản đổi thành tiền mặt,về nhà cha mẹ ruột,không quay lại quê nhà họ Lô nữa,đã làm cho hương hỏa nhà họ Lô đứt đoạn từ đó,nhưng người này cũng biết hiếu thảo,làm tròn phận làm con với cha mẹ ruột,lại biết mượn giả tu thật,hành công lập đức,theo âm luật của địa phủ,có thể lấy công trừ tội,còn dư công quả,có thể mang phước đầu thai,như trên,xin chúa công định đoạt.
Minh vương: ngươi có ý kiến gì với những điều trên ?
Hồn: tiểu hồn biết tội,không nên có tâm độc chiếm di sản và để bảo toàn sản nghiệp đã cao chạy xa bay,làm cho hương khói cha mẹ nuôi dứt đoạn.
Minh vương: được,nếu ngươi đã biết tội,lại vừa chịu hình phạt ở đệ tam điện,bổn vương phán ngươi đầu thai để chấm dứt ân oán với cha mẹ nuôi,như vậy mới công bằng vô tư.
Hồn: mong đại vương thương tình cho khổ tâm giữ gìn công quả mà cho con khỏi đầu thai nữa.
Minh vương: nhưng nhân quả giữa ngươi và cha mẹ nuôi phải được kết liễu.
Hồn: tiểu hồn không muốn luân hồi cõi trần nữa,vì một khi vào rồi thì bị đủ thứ cám dỗ lôi kéo,một lúc không cẩn thận lại tạo nghiệp nữa thì thật thê thảm,mong đại vương cho con toại nguyện.
Minh vương: được rồi,công quả của ngươi đã đủ,bổn điện có quyền châm chước cho ngươi vào sở tu thiện,nhưng ta cần phải nói trước một tiếng là sau khi chấm dứt ở sở tu thiện phong chức thần thì phải mau chóng độ cha mẹ nuôi hướng đạo,để giải trừ nhân duyên,nếu như thần giám sát biết ngươi không cố gắng hoàn thành,sẽ báo cáo lên,đến lúc đó ngươi bắt buộc phải đầu thai,tất cả công trước sẽ mất hết.
Hồn: tiểu hồn ghi nhớ trong lòng,xin khấu tạ đại vương cho con toại nguyện.
Minh vương: haha,không cần khách sáo,mệnh văn phán quan ghi lại quá trình xét xử giao qua Nam Thiên xét duyệt,việc xét xử đến đây chấm dứt.
HỒI 3: BÁN THÂN CỨU MẸ XƯNG DÂU HIỀN,KHÔNG GIỮ BUÔNG THẢ MẤT CÔNG TRƯỚC.
điện thứ năm tướng quân ngưu mã đã đến.
thơ rằng: ngưỡng mộ nam thiên trực hạt đường,viết sách khuyên đời mãi lưu truyền,hôm nay có dịp kết lương duyên,cho thỏa ý nguyện lúc bình sinh.
thánh thị: chúng ta chính là tướng quân ngưu mã đứng trước Sâm La vương đệ ngũ điện,ngưỡng mộ thánh đường và chư vị loan hữu đã lâu,thay trời tuyên hóa,tạo nên công đức rất lớn,chúng ta mười mấy năm trước vì đọc sách báo của quí đường mà khai ngộ,sau đó nổ lực tu trì và tạo lập công đức,nên mới đạt được chức vụ hiện tại,đêm nay quí đường viết sách "địa phủ thẩm án",chúa công mượn quí đường xét xử,sai chúng ta dọn đường trước mới có cơ hội kết duyên lành với chư vị để thỏa chí bình sinh,tức khắc cung thỉnh văn võ phán quan giáng lâm,tất cả đã đến.
thơ rằng: ty chức ghi lại án phân minh,văn võ phán quan trách bất khinh,hôm nay đến đây lấy bút gỗ,đề thơ khuyên dạy cứu chúng sinh.
thánh thị: cung nghinh chúa công lâm đàn xét xử.
Minh phủ đệ ngũ điện sâm la vương giáng.
thơ rằng: dâu hiền làm trọn phận nữ nhân,bán thân cứu mẹ vào bẫy nguy,tiếc thay người nữ thân như ngọc,một bước sai lầm tội liên miên.
thánh thị: ta nay mượn quí đường xử án đưa vào sách "địa ngục thẩm án",đã lâu không đến đây,hôm nay ngoài việc phụng chỉ viết sách,ngưu mã tướng quân vốn do xem tạp chí của bổn đường mà giác ngộ,sau chứng đạo quả,bổn điện may mắn được anh tài giúp sức,sau khi cùng chư vị diêm la thương lượng đã sớm giáng giá quí đường cho thỏa chí nhớ mong,sau này nếu có dịp sẽ mệnh ngưu mã tướng quân tự thuật lại nhân quả của bản thân để giác ngộ người đời,bây giờ quay lại việc xử án,mệnh sai dịch áp giải vong hồn lên đây.
Ngưu mã tướng quân: tuân lệnh,thăng đường,mệnh sai dịch áp giải vong hồn lên xét xử.
sai dịch: lãnh mệnh,bẩm tướng quân,tất cả đã sẵn sàng.
Minh vương: mời phúc thần thay vong hồn chấp bút,vong hồn là người gì ? mau trình tấu.
Nữ hồn: tiểu hồn họ Trương tên Nguyệt Hương,làm dâu nhà họ Hà,ở vào đời nhà Thanh trong năm Đồng Trị,người tỉnh Sơn Đông.
Minh vương: ngươi có biết tại sao bị bổn điện xét xử không ?
Nữ hồn: tiểu hồn biết tội,mong đại vương khai ân giảm nhẹ cho.
Minh vương: đáng quí là ngươi đã biết tội,bổn vương sẽ xem xét giảm nhẹ cho,mệnh văn phán tra xét công tội của hồn lúc còn sống.
Văn phán: tuân mệnh,nữ hồn họ Trương sinh trong năm Đồng Trị ở tỉnh Sơn Đông,xuất thân trong nhà nghèo,một đời biết cần kiệm siêng năng,sau lấy chồng họ Hà ở huyện lân cận,đáng tiếc nhà chồng cũng rất nghèo,cha chồng mất sớm,còn lại mẹ chồng thường đau bệnh,Trương nữ khắc khổ quán xuyến gia đình,chăm sóc mẹ chồng,không hề oán thán một câu,tiếc là người chồng tận lực mưu sinh cũng không duy trì nổi kinh tế gia đình,thì sao có thể trị bệnh cho mẹ,vừa lúc đó có họ Lâm là gái phong trần,thấy Trương nữ cũng có nhan sắc mới dẫn dắt vào thanh lâu kiếm tiền trị bệnh cho mẹ,hai vợ chồng không còn cách nào khác,phải nuốt lệ chia ly,họ Hà bán vợ lấy tiền chữa bệnh cho mẹ,còn Trương nữ đọa lạc vào nơi phong trần,bán thân cứu mẹ,hiếu động lòng trời,sau qua thần giám sát tấu lên,vốn được khen thưởng,nhưng không ngờ,Trương nữ bị đả kích như vậy,chìm đắm buông thả trong phong trần,dần dần mất hết liêm sĩ,lặn hụp trong bùn nhơ khó tự thoát,uổng công hiếu thảo ban đầu,khi lúc về già do bệnh nặng mà thác,như trên,xin chúa công định đoạt.
Minh vương: đáng tiếc thay,Trương nữ vào chốn phong trần là do lòng hiếu thảo,về tình thì thật đáng thương,nếu có thể giữ mình như hoa sen trắng mọc trong bùn dơ thì bổn điện không có quyền xử ngươi,nhưng họ Lâm cũng thật đáng chết,bổn vương mệnh cho phán quan thông báo các điện chú ý người này trừng phạt đích đáng tội dắt người vào chốn phong trần,quay lại án này,mệnh phán quan tuyên đọc tội trạng Trương nữ.
Văn phán: tuân mệnh,hồn vào phong trần trước sau 16 năm,tổng cộng có: năm thứ 2 dùng thuốc mê lấy của người một viên minh châu,đó là một tội,năm thứ 7 vì dành khách nên gia oan giá họa và lừa tiền người,lại một tội,cùng năm vào ca kỹ viện học nghệ,ăn cắp một cây đàn cổ,thêm một tội,năm 12 tranh cãi với người,ôm hận trong lòng,lấy thân xác làm điều kiện đánh đổi sai bọn giang hồ đánh đập người,lại một tội,năm 14 thấy một đứa trẻ dễ thương nên ẳm đi,thêm một tội,dẫn đến đứa trẻ không được nuôi dưỡng đúng cách mà chết,phạm vào tội giết người,như trên là những tội lỗi trong 16 năm,trong đó còn có tội dâm rất nhiều,theo luật sẽ tính riêng.
Minh vương: bổn vương thật sự thương tiếc cho ngươi,nữa phần đời trước là hiếu phụ,sao lại sa đọa như vậy trong nữa phần đời sau,thật ra chồng của ngươi cũng có tội,bổn vương sẽ thông báo việc này đến thập điện,những người liên quan sẽ được đối chất để kết án,sau đó đi đầu thai,đàng hoàng là hiếu phụ trong sạch lại có kết cục như vậy,Trương nữ thật không nên buông xuôi tất cả,đáng quí ngươi có lòng hiếu,mệnh văn phán tra xét thiện công lúc sống.
Văn phán: tuân mệnh,theo sự hy sinh của Trương nữ,bán thân trị bệnh cho mẹ chồng,lòng hiếu này đáng được phong làm thần,nhưng để trừ đi những tội lỗi đã gây thì không đủ,lại giết một mạng người thì khỏi bàn công với quả.
Minh vương: Trương nữ có ý kiến gì với lời văn phán không ?
Nữ hồn: tiểu hồn xin bái tạ ân đức bảo vệ chu toàn của đại vương,như nay không còn gì để nói,chỉ muốn khuyên răng phụ nữ đồng bào,bất luận là vào phong trần hay tại gia,làm người phải có lương tâm,đừng nên khi bị chịu đả kích thì trả thù lại,tự mình phải kiên cường,có thể vì mẹ chồng hy sinh,không dám kể công,đó là vì không nhẫn tâm thấy mẹ chồng đau khổ,chỉ hận mình buông xuôi như vậy,do đó tất cả mong đại vương định đoạt,tiểu hồn không oán thán gì.
Minh vương: tốt,bổn điện tuyên phán như sau: Trương nữ hồn hiếu thuận cảm động trời,đáng được khen thưởng,lấy công trừ tội,nhưng do cần phải đối chất với họ Lâm nên tạm giam cầm nơi địa phủ 100 năm,cũng là để trừ đi nợ mạng người,đó là do lòng hiếu mà được,không phải bổn vương đặc biệt đối xử,nhưng nhân quả mạng người cần đầu thai kết thúc,mệnh văn phán chú ý,thông báo 10 điện,những người liên quan,đối chất kết án,xét duyệt chuyển kiếp,nếu như sai sót,bổn vương sẽ trị tội,hôm nay đến đây chấm dứt,chúng ta về phủ đây.
HỒI 4: HẦM LỬA DI HẬN SONG THI,CHÔN XÁC THIẾU NỮ TÂM TỪ.
Minh phủ đệ ngũ điện sâm la vương giáng.
thơ rằng: đời người tích đức được lưu danh,xả kỷ thành nhân nghĩa rộng khắp,ngày nay dẫn hồn đến làm chứng,mới rõ gương mẫu chấn luân thường.
thánh thị: gần đây nam thiệm bộ châu,có một người nữ,dũng cảm cứu người dẫn đến vong mạng,xả kỷ thành nhân,lại vào lúc chỉ mới 20 tuổi,lại có tinh thần đáng quí như vậy,đúng là đáng kính phục,nam thiên phước thần,bổn chức sở tại,chuyên phần tiếp dẫn,đợi địa phủ kết án,cùng trình tấu lên,mời ngũ điện diêm la vương mệnh các ty xác nhận hồn này để tiện khai đường xét xử.
Minh vương: làm phiền phước thần quá,mệnh mã tướng quân đưa hồn vào đường,cho ghế ngồi,phiền phước thần thay hồn chấp bút.
Hồn: tiểu hồn khấu kiến đại đế,minh vương và chư thánh trong đường.
Minh vương: không cần đa lễ,ngươi hãy nói rõ tên họ,người phương nào,quá trình vong mạng cho người đời biết,đây là nam thiên trực hạt loan đường đài trung vũ miếu minh chánh đường phụng chỉ viết sách "địa phủ thẩm án" để tăng trưởng công quả cho ngươi.
Hồn: đa tạ minh vương chỉ điểm,hồn họ Huỳnh tên Chí Huệ,là người Đài loan Trung Hoa dân quốc,trong đêm 22 tháng 8 năm 73,vì cứu đứa trẻ Tiết Nhã Văn trong đám lửa mà chết cháy,được thổ địa dẫn đến một cái cửa lớn,trước cửa còn có Tề Thiên Đại Thánh canh giữ,sau một lúc thì được dẫn vào đây.
Minh vương: đó là vì ngươi còn trẻ tuổi,vào lúc còn xuân xanh mà có được sự dũng cảm như vậy,không tiếc thân mạng lao vào đám lửa hừng hực cứu đứa nhỏ,tuy rằng không thành công nhưng tinh thần thật vĩ đại cao cả,do đó phúc thần tiếp dẫn ngươi lên thiên đàng,hôm nay đúng vào lúc viết sách và cũng để người đời biết,làm bằng chứng rằng người thiện sẽ được lên thiên đường,mượn cơ duyên này cho người đời hiểu được mặt tốt của việc xả kỷ thành nhân,đủ để khuyến hóa người người hướng thiện,Văn phán hãy tra xét công và tội của hồn khi còn sống.
Văn phán: tuân mệnh,tra kỹ hồn huỳnh chí huệ,lúc sống có tâm nhân từ,đối xử và làm việc lễ độ,tuy cá tính cứng rắn nhưng biết trong vuông ngoài tròn,làm việc gì cũng cẩn thận nên ít phạm lỗi,còn rất hiếu thuận,tuy có tư tưởng tự chủ nhưng biết không trả treo với người lớn,nói tóm lại,trong 20 năm có nhiều lỗi nhỏ nhưng công thì đủ dư.
Minh vương: thiện thay,như thế cũng đủ hưởng phước báo rồi,không những thế lại có công đức xả kỷ thành nhân,mệnh phán quan khen thưởng theo âm luật.
Văn phán: tuân mệnh,theo điều luật âm phủ xả kỷ thành nhân có 3 mức thưởng,nhẹ thì hưởng phước cõi người,nặng thì vào sở tu thiện 2 năm,đặc biệt thì được tiên phật đề cử lên thiên đường sắc phong.
Minh vương: hồn huỳnh,con có ý nguyện như thế nào ?
Hồn: tiểu hồn ngu muội,xin minh vương định đoạt.
Đại đế: khoan đã,người nữ này tuổi còn nhỏ như vậy,biết trước mặt là đống lửa hừng hực như đầm rồng hổ huyệt,nhưng vì cứu đứa trẻ nhỏ mà không tiếc thân mạng,thấy việc nghĩa không ngại,đủ điều kiện vào tiên ban,càng vào lúc này,lòng người hướng ác,có tâm thiện này,ta đề cử vào ngôi vị trước toà Địa Mẫu,để cho thấy lòng trời thương kẻ nhân nghĩa,chí công vô tư,để kêu gọi con người hướng thiện tu đức.
Minh vương: đại đế từ bi,bổn điện khâm ngưỡng nhưng có thể được chăng ? phương diện Địa Mẫu,bổn điện không có quyền an bày.
Đại đế: không sao,quí điện cứ trình lên,địa mẫu có ta phụ trách.
Minh vương: như vậy thì phiền đại đế,bổn điện tuân mệnh,mệnh văn phán chỉnh lý hồ sơ với phúc thần thượng tấu thiên đình,bổn án kết thúc tại đây.
HỒI 5: CHỊU ĐỦ KHỔ CỰC,ĐẠI NGUYỆN CÔNG THÀNH,ĐƯỢC LÊN THIÊN ĐƯỜNG.
sự tích này đủ để khai mở cho người sau noi theo,đêm nay có một án cần thuật lại cho người đời để làm rõ luật trời công chánh,luật âm vô tư,mệnh tướng quân ngưu mã truyền lệnh thăng đường,cho thiện hồn được ngồi.
Ngưu mã tướng quân: tuân lệnh,thăng đường thiết tọa.
Minh vương: phiền phúc thần của quí đường thay hồn chấp bút,hồn ở dưới mau nói rõ quá trình ở dương thế để ghi vào sách.
Hồn: tiểu hồn khấu tạ cho ngồi,cùng khấu kiến chư thánh trong đường,hồn họ Trương tên Tứ Minh,là người đời thanh cuối năm Đạo Quang,tổ tịch Sơn Đông,sau về Phúc Kiến,vì tha phương cầu thực,mưu sinh khó khăn nên ở vào nơi thôn sơn nghèo nàn.
Minh vương: sinh ra trong nhà nghèo mà không thất chí,chịu đủ khổ cực mà không thấy nhục,lại trở thành thiện đức nơi làng quê,thật vĩ đại thay,bổn vương thật sự khâm phục,nhưng ngươi có biết rằng,vào năm cuối đời đến đêm nay đã gần một trăm mười mấy năm ngươi vẫn sống trong địa phủ.
Hồn: tiểu hồn tuy không thông minh nhưng cũng biết mình có tội,vì lúc còn sống có tạo tội nghiệp nên phải xử lý âm thầm không thể kết án.
Minh vương: con người tại thế,bất luận cố ý hay vô ý,đều khó tránh khỏi tạo nghiệp,do đó không thể trách ngươi được,đây không phải là nguyên nhân chính,một đời chí thánh khổng phu tử còn chưa dám nói mình không có lỗi thì nói chi đến phàm nhân,ngươi bị trói buộc trong địa phủ ngần ấy năm là vì phương pháp và thủ đoạn hành thiện sai lầm với lại tánh tình ngươi có khuyết lãm,làm ảnh hưởng đến công quả của ngươi,như vậy có hiểu không ?
Hồn: đa tạ minh vương chỉ dạy,tiểu hồn hiểu rõ.
Minh vương: vậy thì tốt,mệnh văn phán tra xét công tội một đời của Trương Tứ Minh.
Văn phán: tuân mệnh,hồn Trương vốn con nhà nghèo,tánh tình cương trực không giỏi ăn nói,nhưng lại giàu tình thương,vì mưu sinh không dễ,làm công cho người,lấy sức lao động đổi lấy thù lao,một lần bị bệnh không có tiền chữa bệnh,may mắn được vị thầy thuốc nhân từ cho thuốc miễn phí,từ đó,anh ta quyết chí thiết lập một nơi trị bệnh cho người,do đó càng cố gắng kiếm tiền tích lũy,nhưng do lao lực kiếm tiền ít ỏi,lúc nào mới thỏa mãn nguyện ước,thế là dùng trăm phương ngàn kế để biết được bí quyết của thầy thuốc và người bán thuốc,bản thân lại không có nhiều tiền nên có bao nhiêu cống hiến bấy nhiêu,sau này mọi người đều hiểu được khổ tâm của anh ta,không còn trách cứ thủ đoạn của anh nữa,có điều đáng tiếc là người này tánh tình quá cứng nhắc,không biết uyển chuyển,có lòng tốt lại bị người ngộ nhận,sau do bị tiểu nhân đả kích nên có một thời gian khốn khổ,trời xanh đã có sắc chỉ đến địa phủ nhưng âm luật còn đang xem xét,ngọc chỉ còn lưu tại "Bích Hà cung",còn chưa hồi chỉ,như trên,xin chúa công định đoạt.
Minh vương: Trương thiện hồn,ngươi nghe rõ chưa,bổn vương sẽ giải thích,thành lập nơi trị bệnh cho thuốc,công đức rất lớn,đáng được sự khen thưởng của ơn trên,nhưng mà công đức của ngươi là do bất chấp thủ đoạn mà có được,tuy nhiên điểm xuất phát là chân chánh,cứu được rất nhiều người nhưng cũng hại rất nhiều người,vì thế sau khi chết,phải đến địa phủ trình diện để chấm dứt công án này,đó là sự nghiêm minh của âm luật,bồ tát địa tạng sẽ tấu lên ơn trên,sau khi kết án sẽ sắc phong cho ngươi,như vậy ngươi có phục không ?
Hồn: tiểu hồn không thể không phục,nhưng có điều không hiểu là tiểu hồn cứu được nhiều người như vậy,sao không thể lấy công trừ tội mà được sắc phong ?
Minh vương: hỏi hay,mệnh phán quan tra xét.
Văn phán: tuân mệnh,Trương thiện hồn,cả đời ngươi thí ân đến 367 người,trong đó cứu mạng được 8 người,y theo luật trời đã đủ phong lãnh công quả nhưng những người bị hại lên đến 9 người,liên đới ảnh hưởng đến 13 người,đều thuộc thủ đoạn quá ác liệt nên gia nặng hình phạt,cứ phương pháp ác liệt đó liên tục thi hành,gia tăng gánh nặng cho người,những điều này ngươi phải chịu trách nhiệm hoàn toàn,đương nhiên,ngươi vẫn được sắc phong,nhưng đoạn công án này không giải quyết thì khó lòng nói lên sự nghiêm minh của địa phủ.
Hồn: thì ra là vậy,tiểu hồn tâm phục khẩu phục,tất cả nghe theo lời của đại vương.
Minh vương: tốt,bổn vương niệm tình ngươi lòng lành không tư lợi,tuy có hành vi không đúng nhưng đã giúp được rất nhiều người,nay lại qua các điện thẩm lí gần cả trăm năm,vì theo bằng cớ,ngươi đáng bị giam trăm năm để trừ tội,sau khi mãn hình thì giao qua "Bích Hà cung" để hạch chuẩn thọ phong,bổn vương định đoạt như vậy,ngươi có ý kiến gì chăng ?
Hồn: tiểu hồn khấu tạ đại vương thành toàn.
Minh vương: haha,thiện có thiện báo,thiện đức của ngươi,ân trạch xóm làng,sau khi công tội phân minh tắc được sắc phong,không cần cám ơn,văn phán ghi lại tất cả trình lên trên,đến đây chấm dứt.
HỒI 6: QUÂN TỬ CHU TOÀN,THÀNH TỰU CHO NGƯỜI.
đệ tam điện ngưu mã tưỡng quân đã đến.
thơ rằng: nam thiên trực hạt nhất loan đường,lập thuyết viết sách sớm biết danh,phổ độ quần chúng lên bờ kia,ơn sâu đức trạch vĩnh lưu trường.
thánh thị: xin mời văn võ phán quan giáng lâm,chúng ta lui đây,đệ tam điện văn võ phán quan đã đến.
thơ rằng: đại đạo hoằng dương trách bất khinh,tỉnh mê tế thế chí gia tăng,đáng khen thánh địa xuất anh tài,đồng tâm hiệp lực cứu chúng sanh.
thánh thị: cung thỉnh chúa công giáng lâm,chúng ta lui.
Tống đế vương giáng.
thơ rằng:thành tựu cho người đức thùy lưu,trời cao đất rộng mặc chu du,tích lũy bình sinh chỉ một thiện,ban công tiêu nghiệp nguyện nếm trải.
thánh thị: bổn điện đêm nay viết sách "địa phủ thẩm án",mệnh ngưu mã tướng quân truyền lệnh thăng đường.
Ngưu mã tướng quân: tuân mệnh,thăng đường.
Minh vương: phiền phúc thần thay hồn chấp bút,áp giải hồn lên.
phúc thần: tiểu thần tuân mệnh.
sai dịch:tuân mệnh,bẩm chúa công,hồn đã giải lên.
Minh vương: hồn phía dưới người gì ? mau trình lên để ghi vào sách quí nhằm khuyến hóa.
Hồn: hồn khấu tạ minh vương chỉ điểm và khấu kiến chư thánh thần trong đường,hồn họ Dương tên Thiên Tứ,người chư la tại Đài Loan,nhà vốn nghèo khổ nhưng tánh vốn cởi mở,chấp nhận cảnh nghèo nên cả đời cũng yên ổn,chết vào năm dân quốc thứ 32,không biết tại sao đến nay vẫn còn ở trong địa phủ ?
Minh vương: ngươi ở địa phủ gần bốn mươi mấy năm,có thể nói là may mắn,vì đường hoàng tuyền khó đi,con đường này đi hết bốn mươi mấy năm thì có gì oan uổng.
Hồn: tiểu hồn bị tra xét tại đệ nhất điện,lại chuyển tới đệ nhị điện,hiện tại đến đệ tam điện,chẳng lẽ phải đi hết địa phủ sao ?
Minh vương: ở đây không nhất định,xem ngươi lúc sống phạm tội nghiệp gì ? liên quan đến điện nào thì vào điện ấy trình báo.
Hồn: vậy là tiêu rồi,nhị điện 40 năm,thập điện không phải là 200 năm sao ?
Minh vương: vậy thì xem tạo hoá của ngươi rồi,mệnh văn phán tra xét công tội của hồn để bổn điện định đoạt.
Văn phán: tuân mệnh,Dương Thiên Tứ một đời tội nghiệp đều được nhất điện,nhị điện thẩm xét,sau đưa qua bổn điện,không cần xét nữa,đại để là Dương hồn tự cho mình thanh cao,làm vẻ cởi mở nhưng thật ra nội tâm tự ti,thường oán trời trách đất,tâm tánh thường hướng nội,không dám tranh đấu với người,tư tưởng thường nghiêng lệch,tích chứa trong tâm nên tuổi thọ không dài,lại thường không như nguyện sanh ra tật xấu nhìn trộm,lấy trộm đồ dùng của phụ nữ,bị nhất điện,nhị điện xử phạt giam cầm 63 năm,nhưng vì người này có tạo một việc đức,nguyên do tự ti không dám tranh với người đã thành tựu cho người,cứu được một mạng người,công này đợi tính,như trên,xin chúa công định đoạt.
Minh vương: Dương hồn,ngươi đối với những lời của phán quan có ý kiến gì không ?
Hồn: Văn phán tôn thần nói thật khó nghe,tiểu hồn chỉ là thích xem những vật làm vui mắt thôi,sao lại nói như kẻ tâm lý biến thái vậy ?
Minh vương: lời thật khó nghe nhưng rất thực tại,may là ngươi chỉ xem thôi,chứ không có làm việc hại người,nếu không thì tại nhất điện,nhị điện,ngươi không thể nhẹ nhàng qua cửa,cũng chính vì thế mới cơ hội tính công chuyển giao bổn điện.
Hồn: thì ra là vậy,xin đại vương khen thưởng nhiều cho.
Minh vương: hừ,ngươi còn dám đòi thưởng,thành tựu cho người là mỹ đức của phận làm người,lại vì ngươi tự ti mà không dám tranh với người mới tạo được công đức,nếu không phải do công đức này,bổn vương đã dụng hình với ngươi rồi,sau lấy công chuộc tội.
Hồn: đúng vậy,tiểu hồn không nên,nhưng mà,xin hỏi đại vương,vô ý tạo công đức chẳng lẽ không được tính sao ? đại vương nói hôm nay viết sách,chỉ cầm có tham gia vào việc khuyến hoá thì có công lớn,sao lại mắng hồn đòi thưởng ?
Minh vương: Ừ,nói có lý,mệnh văn phán tra xét quá trình Dương hồn tạo thành công đức như thế nào ?
Văn phán: tuân mệnh,Dương hồn sinh trong gia đình nghèo nhưng dung mạo khá tốt,cũng được nhiều người nữ yêu mến,cùng quê có một thanh niên siêng năng,kết giao hữu hảo,hai người cùng yêu một cô gái,tiểu thư đương nhiên thích sự đẹp đẽ của Dương hồn,vì thế người bạn tương tư lâu ngày thành bệnh,tiểu thư cảm động tấm lòng đó bắt đầu giao động,Dương hồn lại khởi tâm tự ti,giận mà đi xa,người bạn vốn bị bệnh tương tư,không còn tâm lo sự nghiệp,gần như cuộc đời sắp tàn lụi vì tình,Dương hồn vừa đi,tiểu thư thay tâm đổi ý,cùng người vượt qua bệnh tật xây dựng thành một gia đình hạnh phúc,đó công đức của Dương hồn.
Minh vương: oa ha,đúng là vô dụng,nhưng đi hay lắm,không những cứu được một mạng người,càng bảo toàn hạnh phúc của người con gái,cuối cùng bổn vương phán như sau: Dương hồn tạo tội nghiệp đã được nhất điện,nhị điện phạt 63 năm,đã chịu 41 năm,còn 23 năm được trừ đi do công đức đã tạo,chuyển kiếp vào nhà giàu,được nhân duyên lành đem đến phước vận,trong vận rủi sẽ được quí nhân giúp đỡ,đó là do phước báo cứu một mạng người,dương hồn có ý kiến gì không ?
Hồn: tiểu hồn không dám,cám ơn đại vương trọng thưởng.
Minh vương: tốt,vậy kết thúc tại đây,mệnh văn phán lo đủ hồ sơ,chuyển hồn qua điện thứ 10 đầu thai.
HỒI 7: LỜI LẼ DÂM ĐÃNG LÀM TỔN THƯƠNG NGƯỜI,TẠO NGHIỆP LUÂN HỒI MẤT CÔNG TRƯỚC.
đệ tứ điện ngưu mã tướng quân đã đến.
thơ rằng: một tấm cửa địa ngục thật thê thảm,minh châu vào tối nhập tù lao,tuy biết thiện ác báo rõ ràng,việc có nhân trước nước có nguồn.
thánh thị: xin mời văn võ phán quan giáng lâm,chúng ta lui,minh phủ đệ tứ điện văn võ phán quan đã đến.
thơ rằng: theo chúa lâm đường dùng bút viết,sa bàn hiện chữ thị huyền cơ,người đời nên hiểu lòng trời cao,khổ hải mê mờ về thiện lộ.
thánh thị: tức khắc cung nghinh chúa công giáng lâm,chúng ta lui.
Ngũ Quan Vương giáng
thơ rằng: viết thành sách thánh khuyên thế nhân,thưởng trung khen hiếu khắp phàm trần,tiếng kêu không dứt tuy đáng thương,chỉ than tội nghiệp tự mình tạo.
thánh thị: minh phủ thập điện phụng hoành thiên ngọc chỉ,mượn quí đường xét xử,kết tập các án,viết thành sách "địa phủ thẩm án",để người đời hiểu rõ sự thưởng phạt ở địa phủ,làm cho người ác cẩn trọng tránh khỏi,người thiện tiếp tục cố gắng,mệnh ngưu mã tướng quân truyền lệnh thăng đường,cùng áp giải vong hồn lên.
Ngưu mã tướng quân: tuân mệnh,thăng đường,áp giải hồn lên,bẩm chúa công,tất cả hoàn tất,cung thỉnh xét xử.
Minh vương: hồn dưới người gì ? mau trình tấu.
Hồn: tiểu hồn khấu kiến minh vương và chư thánh trong đường,xin trả lời đại vương,tiểu hồn là người ở Chương Hoá,họ Vu tên Võ Hạc.
Minh vương: niên tịch sinh tử khai báo lên,thiện ác trong đời,tự mình xem xét.
Hồn: tiểu hồn sinh vào cuối năm đời thanh,chết vào năm dân quốc thứ 39,lúc sống không dám tự mình xưng là thiện đức,nhưng biết yêu thương người khác,cảm thông sự cực khổ của người đi đường nên trước nhà chuẩn bị trà nước cho người giải khát và nhà xí cho người thuận lợi,liên tục như vậy trong 10 năm,nhưng tiểu hồn có thói dâm dật thích chọc ghẹo phụ nữ.
Minh vương: thì ra là một vị thiện giả,bổn vương thất kính,người đâu,dụng hình.
Ngưu mã tướng quân: vâng,thưa chúa công,là dụng hình hay cho ngồi ?
Minh vương: dụng hình.
Hồn: đại vương bớt giận,tiểu hồn đã nói rồi,không dám nhận mình là thiện đức,lại có chút nhân ái,sao còn dụng hình phạt nữa ?
Minh vương: bổn vương đâu có nói ngươi không phải thiện đức,và đã xin lỗi thất kính rồi,nhưng tại sao không cho ngồi mà dụng hình ? bộ ngươi không hiểu rõ sao ? Nếu không khai thật nữa thì ta sẽ cho dụng hình trước,sau đó cho đọc tội nghiệp của ngươi hiển thị trước nghiệt kính đài.
Hồn: đại vương bớt giận,tiểu hồn sẽ khai mà,tiểu hồn vì bản tính dâm dật,thích dùng lời lẽ chọc ghẹo phụ nữ làm cho nhiều người kinh sợ,oán hận,chỉ có thế thôi.
Minh vương quát lớn: vong hồn giảo hoạt,người đâu vạc dầu đợi lệnh.
Hồn: đại vương xin tha,tiểu hồn sẽ khai,chỉ là có một đôi góa phụ cô nhi đi qua,tiểu hồn thấy họ tội nghiệp,bèn giữ lại cho ăn ngủ,lại cho chút tiền,chỉ có điều tiểu hồn thấy góa phụ có chút nhan sắc,nổi tính háo sắc chọc ghẹo: đại tẩu còn trẻ đẹp như vậy dẫn đứa nhỏ đi lang thang thật nguy hiểm,sao không ở lại,chúng ta kết nhân duyên tốt với nhau,ai ngờ một câu nói như vậy làm cho góa phụ nghĩ không thông nhảy xuống giếng tự sát,những lời trên hoàn toàn chân thật,xin đại vương tha mạng.
Minh vương: mệnh văn phán xem xét tư liệu từ nghiệt kính đài để xem lời khai của hắn có thật không ?
Văn phán: tuân mệnh,bẩm chúa công,đại khái là đúng,nhưng mà còn có cái chưa tường tận,bổ sung như sau: cái chết của goá phụ,cô nhi là do hồn không chỉ trêu chọc mà có hẳn những hành động sàm sở quá mức làm cho góa phụ sợ thất tiết chịu nhục nên mới tự sát,như trên,xin chúa công định đoạt.
Minh vương: thật đáng chết,vui đùa chi mà lấy danh tiết của người nữ ra nói ? một lời hai mạng người,uổng công 10 năm hành thiện,bổn vương theo âm luật trừ hết công,làm lại hình phạt.
Ngưu mã tướng quân: bẩm chúa công,có Diêu Trì giá tiền tiên nữ của Hứa tiên cô đến cầu kiến.
Minh vương: hay đây,Vu hồn,chủ nợ của ngươi đến rồi,mệnh phán quan thay ta tiếp khách vào đây ngồi.
Phán quan: tuân mệnh.
Hứa tiên cô giá tiền thị nữ giáng.
thơ rằng: khi sống trinh tiết chìm dưới giếng,may được tiên cô sẵn cứu giúp,oán nghiệp trả vay lúc nào dứt,nguyện học người trước lấy đức báo.
lời nói: ta là thị nữ cung diêu trì,thuộc Hứa tiên cô giá tiền,lúc sống họ Hồ tên Ức,sinh vào năm dân quốc thứ 6,chết vào năm dân quốc thứ 34.
lại nói: nô tì tham kiến minh vương và trực hạt loan đường chư thánh,xin tha thứ tội mạo phạm công đường,chỉ vì tiên cô giáo hoá "dĩ đức báo oán",oan gia nên giải không nên kết,nên xin to gan cầu tha thứ cho Vu hồn.
Minh vương: haha,đúng là một tấm lòng nhân từ rộng lượng,lúc sống trinh tiết,khi chết nhân từ,trách chi được đưa vào hàng ngũ tiên cô tại diêu trì,nếu như tiên cô không truy cứu nữa thì ta đây cũng không làm mất lòng từ của trời,cho một con đường thoát,nhưng mà bổn vương cần xác nhận một điều mới phán quyết đúng được,đó là Vu hồn cố ý cưỡng bức hay vô tâm vui đùa thôi ? tiên cô phải suy nghĩ kỹ,không được cho chứng cứ sai,nếu không sẽ làm bổn vương phán án sai,sẽ làm phạm thiên điều đó.
Tiên cô: tiểu tỳ biết được,Vu hồn một đời có hành thiện,chỉ đáng tiếc là dâm dật thành tính nhưng không có ác tâm,chưa từng phạm tội thật sự,còn chuyện của con và hắn,xác thật là vô tâm chứ không phải có ý,minh vương có thể tra vấn bộ phận giám sát nam thiên,sẽ biết tiểu tỳ không nói dối.
Minh vương: được,mệnh phán quan đi ngay nam thiên tra xét,mời tiên cô ngồi đợi chút xíu,mệnh văn phán tuyên đọc phán quyết theo chứng cứ.
Phán quan: tuân mệnh.(võ phán quan chuyển người về phía nam thiên,văn phán trả lời)bẩm chúa công,Vu hồn 10 năm cung cấp trà nước,đúng là có tâm hành thiện,công không thể không tính,với bản tánh không ác,tuy là thường chọc ghẹo phụ nữ nhưng không có làm việc ác,công tội một đời bù trừ,dư 1050 công,nhưng vì yếu tố mạng người,tuy không phải trực tiếp xâm hại,nhưng việc do hồn mà dẫn đến,không thoát được liên can,tuy người bị hại không truy cứu nhưng cũng phải phạt để cảnh cáo người đời,tùy nhiều yếu tố mà châm chước,nếu như có ý cưỡng bức mà hại hai mạng người,lấy công trừ tội thì còn 5000 tội,phải bị giam địa phủ trên 200 năm và đền mạng trả nợ,như trên,xin chúa công định đoạt.
Võ phán: (sau khi tra xét về đường)bẩm chúa công,bộ phận giám sát nam thiên chứng thực lời của tiên cô là chính xác,không có che đậy.
Minh vương: tốt,bổn vương phán quyết như sau: xét Vu hồn lúc sống có nhiều thiện công,cho trà thí nước hỗ trợ tiền bạc,giúp người thuận lợi,thật là chân thiện,nhưng thân khẩu không tu,đã phạm lỗi lầm,nên chịu trách nhiệm về hành vi của mình,trừ hết 1000 công,phán trong 3 kiếp chấm dứt ân oán với cô nhi,mệnh văn phán ghi rõ,chỉ còn 50 công đem theo đầu thai,tốt xấu tự mình lo liệu,Vu hồn có ý kiến gì không ?
Hồn: tiểu hồn đa tạ đại vương xử nhẹ.
Minh vương: ngươi không nên cám ơn bổn vương mà nên cám ơn Hồ tiên cô.
Hồn: tiểu hồn khấu tạ tiên cô đại lượng từ bi.
Minh vương: được,mệnh văn phán kết án,giao hồn cho thập điện chuyển luân,viết sách đến đây chấm dứt.chúng ta về.
HỒI 8: CẦU TU ĐẠI ĐẠO TUY VÔ SỐ,CHỨNG QUẢ CẦN PHẢI CHỊU KHỔ CÔNG.
đệ nhất điện ngưu mã tướng quân đã đến.
thơ rằng: quang minh đen tối lưỡng phân minh,thiện ác trung gian đều nhận rõ,chỉ nguyện danh thơm lưu truyền mãi,chớ để tiếng xấu thẹn nhân sinh.
thánh thị: xin mời văn võ phán quan giáng lâm,chúng ta lui,minh phủ đệ nhất điện văn võ phán quan đều đến.
thơ rằng: nhiều kiếp trôi nổi lệ chảy mãi,mấy người hiểu được theo lẽ phải,thúc đẩy đại đạo hoằng dương hoài,cuối cùng giải thoát hết bi ai.
thánh thị: tức khắc cung nghinh chúa công giáng lâm,chúng ta lui.
Tần Quảng Vương giáng
thơ rằng: khổ công tu luyện mới đắc đạo,hoằng truyền chân lý pháp nhiệm màu,đến khi chết rồi công và tội,thu hoạch cuối cùng từ khổ công.
thánh thị: hôm nay bổn điện phụng mạng xét xử vụ án khá đặc biệt,liên quan đến người cầu đạo,quá trình sau khi chết như thế nào,để người đời hiểu rõ người "tu đạo" là gì ? mệnh tướng quân ngưu mã truyền lệnh thăng đường,chút nữa thay bổn vương nghinh tiếp phúc thần nam thiên,sau cùng phiền phúc thần của quí đường thay hồn chấp bút.
Ngưu mã tướng quân: tuân mệnh,thăng đường,người đâu,dẫn hồn lên đây.
sai dịch: tuân mệnh,bẩm chúa công,tất cả đã xong,cung thỉnh xét xử.
Minh vương:hai hồn ở dưới nghe đây,bổn điện phụng chỉ mượn nam thiên trực hạt loan đường đài trung vũ miếu minh chánh đường xét xử vụ án này để đưa vào sách thiện,hai ngươi mau báo lên danh tánh,sống ở phương nào ?
Giáp hồn: tiểu hồn bái kiến minh vương và chư thánh,hồn họ Du tên Tử Tàm,sống vào đời nhà thanh giữa năm Hàm Phong,tỉnh Hồ Nam.
Minh vương: được,thấy ngươi linh thần trong sáng,tinh hoa ẩn hiện,không giống người có tội,bổn vương thất kính,người đâu,mời ngồi.
Ất hồn: tiểu hồn sống vào thời cuối đời nhà thanh,họ Hà tên Diệu Quang,lúc sống tín phụng thiên đạo,bái cầu minh sư,và Du Tử Tàm đều là người cầu đạo có thành tựu,xin minh vương cho ngồi.
Minh vương: haha,Hà Diệu Quang,ngươi có cầu đạo không sai,nhưng nghe ngươi nói năng biết hàm dưỡng của ngươi không đủ,dám tự xưng mình cầu đạo có thành tựu thật không biết xấu hổ,nếu như không phải xét xử rõ ràng vụ án,bổn vương sẽ cho ngươi nếm thử cực hình,còn không lui xuống.
Hà hồn: tiểu hồn tuân mệnh.
Minh vương: Du hồn,lúc tại thế ngươi tu trì đại đạo như thế nào,có thể thuật lại để ghi vào sách quí khuyên đời.
Du hồn: đại vương hỏi đến,tiểu hồn không dám chối từ,thực ra tiểu hồn lúc còn sống là một nông dân nghèo,trồng trọt cực khổ,đọc sách không nhiều nhưng vào lúc ở không được vị bảo sư dẫn dắt vào thiên đạo lạy mẫu nương cầu tu đại đạo,được năm chữ chân ngôn,minh sư nhất chỉ điểm huyền quan,từ đó tin sâu không thay đổi,tu công lập đức,bất luận nội đức ngoại công đều có thành tựu,chỉ tiếc là tiểu hồn nghèo xơ xác,không có thu nhập cao,chỉ có một tấm lòng kiền thành,lập chí thay trời truyền đạo,cứu độ chúng sinh,cũng dẫn dắt được khá nhiều người cầu đạo,một đời không có công đức gì lớn,thật xấu hổ vì được khen.
Minh vương: khách sáo rồi,độ người hướng thiện,cầu đạo tạo được vô lượng công đức,mệnh văn phán tra xét công và tội một đời của Du hồn.
Văn phán: tuân mệnh,bẩm chúa công,công tội một đời của Du hồn không còn ghi chép trong sổ sinh tử nữa,toàn bộ văn kiện đã đưa lên nam thiên rồi.
Minh vương: oa ha,xoá tên trong sổ sinh tử,nhất định là có công đức lớn rồi,Du hồn,ngươi đã nằm trong tiên ban rồi,bổn vương thật thất kính.
sai dịch: bẩm chúa công,nam thiên phúc thần pháp giá lâm đường.
Minh vương: xin mời.
Nam thiên phúc thần giáng.
thơ rằng: nam thiên chỉ dụ đến âm ty,tiếng thơm đắc đạo vui trổ mày,hôm nay thăng thiên nhờ tích quả,để lại gương mẫu cứu si mê.
thánh thị: tiểu thần cáo tội,nhân phụng chỉ dụ nam thiên tuyên thị,xin minh vương tha tội.
Minh vương: mời phúc thần tuyên chỉ,bổn vương cung lãnh.
Phúc thần: nay phụng Nam Thiên chủ tể Văn Hành thánh đế chỉ dụ,xét nam thiệm bộ châu có một hồn Du Tử Tàm,lúc sống siêng tu thiên đạo,luôn nhớ mẫu lòng từ,kiên trì khổ tu nên được về vô cực để thỏa lòng mong đợi của Hoàng Mẫu,một đời tận lực tam bố thí,vì thế cứu được ba mạng người,cố tu nội đức hành ngoại công,trợ đạo hoằng triển không tiếc sức,tuy có lỗi nhỏ nhưng có công quả quá lớn nên trước khi hết tuổi thọ,sổ sanh tử đã xóa tên,toàn bộ văn kiện đều đưa lên các ty chức nam thiên,nay tuổi thọ đã hết,đáng được chứng đạo,đưa qua Đông Thiên khảo hạch và cửu dương quan trắc nghiệm,sau đó thông báo nam thiên ban công quả vị,mệnh phúc thần dẫn hồn đến các ty chức liên quan,khâm chỉ.
Minh vương: đã có chỉ dụ của chủ tể,bổn vương tuân mệnh,phiền phúc thần dẫn hồn về trời phục chỉ.
Phúc thần: tiểu thần đa tạ minh vương chu toàn,đây là công văn chỉ dụ của chủ tể,xin minh vương thu nhận,tiểu thần cáo lui.
Minh vương: Hà hồn,bây giờ đến lược ngươi thuật lại tu đạo thành tựu ra sao ?
Hà hồn: ừm...tiểu hồn lúc sống cũng có cầu thiên đạo,thọ minh sư chỉ điểm huyền quan,ngày đêm bái lạy mẫu nương,đợi về lý thiên mẹ con đoàn tụ.
Minh vương: tốt lắm,vậy sao không có phúc thần tiếp dẫn ngươi chứng đạo ?
Hà hồn: ừ,đúng rồi,tiểu hồn tu thiên đạo,nhất định phải được tiếp dẫn chứ,lúc sống,tiểu hồn còn là giảng sư,đạo hạnh còn cao thâm hơn tên Du Tử Tàm quê mùa,Nam thiên thật không công bằng,nếu tiếp dẫn phải tiếp dẫn tiểu hồn trước chứ.
Minh vương nổi giận: nghe lời ngươi nói không giống người tu đạo,người đâu,cắt lưỡi hắn để cảnh cáo.
Hà hồn: đại vương bớt giận,tiểu hồn tự vả miệng để sám hối,đốp...xin đại vương giảm nhẹ giùm.
Minh vương: tu đạo là việc làm cả đời,phải trường kỳ tích lũy,mới có công quả,đến một lúc nào đó mới có thành quả đáng nói,nếu không kiên trì giữ gìn thì mất hết công sức,ngươi không biết tự mình soi xét mà lại mở miệng nói nhảm,mau khai thật tình hình lúc còn sống,nếu không bổn vương sẽ không dung tình.
Hà hồn: khấu tạ đại vương tha tội,tiểu hồn tuân mệnh,lúc còn sống tiểu hồn là con nhà giàu,ngẫu nhiên được người bạn dẫn đến một ngôi phật đường nghe giảng đạo,người chủ trì phật đường là một cô gái không những xinh đẹp mà còn nói năng rất hay,giảng đạo sinh động,làm hồn hâm mộ không còn tự chủ được,lúc đó trên danh nghĩa đến nghe đạo nhưng thật ra là để thân cận cô ta,sau này không những được điểm truyền sư nhất chỉ mà còn quyên tặng số tiền lớn để xây phật đường,do có chút công đức nên được làm giảng sư,đáng tiếc là không được đường chủ quan tâm,cảm thấy không còn hứng thú nên thoái tâm không tu nữa,nhưng như vậy tiểu hồn cũng được xem là có đạo rồi,sao lại còn bị xuống địa phủ xét xử.
Minh vương: như thế nào là có đạo,không bị xét xử nữa ?
Hà hồn: thiên đạo thường nói,phàm là người cầu đạo,thọ điểm sư chỉ điểm thì như đắc đạo,không đọa địa ngục nữa.
Minh vương: bổn vương cho một ví dụ,ngươi nghe cho rõ: Đạo như một trường học lớn,bất cứ ai cũng có thể vào trường học,nhưng sau khi trải qua một thời gian,có người tốt nghiệp,có người không tốt nghiệp,ngươi có biết tại sao không ?
Hà hồn: đương nhiên là biết,có người thật lòng học tập,có người không thật lòng,do đó có người tốt nghiệp,có người ở lại lớp.
Minh vương: vậy thì đúng rồi,ngươi thọ điểm sư nhất chỉ cũng như đã vào trường học vậy,Du Tử Tàm cũng thế,nhưng về sau,hắn tốt nghiệp còn ngươi thì không,nguyên do là vì ngươi không thật lòng,bây giờ bổn vương chuyển giao tất cả hồ sơ của ngươi cho nhị điện thẩm lí,hy vọng ngươi tự giác ngộ sám hối,mệnh phán quan đem hồ sơ cùng hồn giao qua nhị điện,do đó,ta khuyên người tu đạo đừng nghĩ "trước được sau tu" có nghĩa là đắc đạo,trước được là được cơ duyên,sau khi được cơ duyên phải siêng tu đại đạo mới được đắc đạo,nếu không,tuy đạt được cơ duyên cũng uổng phí.
HỒI 9: KHÔNG PHÂN GIÀ TRẺ HÀNH NHÂN NGHĨA,CHỨNG ĐẠO VỀ TRỜI TIẾNG THƠM LƯU.
Nam thiên phúc thần giáng.
thơ rằng: nhi đồng thấy nghĩa cứu nguy nan,không may chìm ngập cảm trời cao,nhất cử thành nhân nhân vĩnh tồn,phúc thần tiếp dẫn không quản từ.
thánh thị:hôm nay minh vương đệ nhất điện lâm đường,kết thúc một đoạn công án,trách nhiệm của ta là tiến cử hồn này lâm đường,lấy bút gỗ viết sa bàn phụng khuyến thế nhân vài câu,cách nay không lâu,có một người con trai vì cứu kẻ té sông nên bị chết đuối,nghe đến việc này thật làm người cảm động,tuổi nhỏ như vậy mà thật nghĩa hiệp,dũng cảm không sợ,cuối cùng xả thân thành nhân,oa ha,nghĩa cử một đời,trăm đời lưu tiếng thơm,điều này lại do một thiếu niên nhỏ tuổi như vậy đạt được,thật xấu hổ cho đấng nam tử đại trượng phu thật không bằng,mới 14 tuổi,nhảy vào sông Viêm Thủy cứu một đứa trẻ nhỏ tuổi hơn.Vài ngày trước,sách này có án lệ "thiếu nữ vào lửa,cứu người xả thân",nước lửa đều tương ứng nghĩa cử,truyền mãi trong nhân gian,hy vọng người đời sau khi biết được sự tích này và sự phong thưởng của ơn trên có thể giác ngộ,nếu thế gian có những thiếu niên như vậy,có thể "hành hiệp trượng nghĩa,không ngại xả thân" thì việc giáo hóa người đời,ta sẽ không còn bận tâm nữa.
đệ nhất điện Tần Quảng Vương giáng.
thơ rằng: nhân gian nghĩa cử cảm thiên tâm,không bỏ sót gì phước báo sâu,hôm nay lâm đường tuy kết án,đông thiên chứng đạo có tiếng thơm.
thánh thị: mệnh văn võ phán quan thay bổn vương nghinh tiếp "đông thiên chứng đạo qui chân phủ phủ tôn",ngưu mã tướng quân thiết tọa,hôm nay không khai đường,lấy án này ghi vào sách.
Đông thiên chứng đạo qui chân phủ phủ tôn giáng.
thơ rằng: nhi đồng chứng đạo thấy thuần chân,bên sông Viêm Thủy trồng nhân thiện,bổn chức vô tư ghi chép lại,kỳ nguyện khuyên người cố hành nhân.
thánh thị: tra xét nam thiệm bộ châu hồn Trần Minh Nguyên,tại thế hành hiếu trượng nghĩa,tuổi còn nhỏ mà không tiếc thân mạng cứu người trong nguy nan,xả thân thành nhân,phù hợp với thiên luật nên được ban chứng đạo,hôm nay lâm đường,mượn cơ hội viết sách công bố tác nghiệp của bổn phủ,để khuyên người đời nên thực hành nhân nghĩa.
Minh vương: phủ tôn,phúc thần mời ngồi,tiểu thiện hồn cũng mời ngồi,đợi bổn điện thủ tục kết án hoàn thành thì con có thể theo phủ tôn về trời rồi.
Hồn: tiểu hồn khấu tạ chư thánh thần từ bi.
Minh vương: mệnh văn phán tra xét sự tích một đời của hồn và đại ý toàn bộ tài liệu nam thiên cung cấp để khái lược hiểu rõ bổn án.
Văn phán: lãnh mệnh,Trần hồn 14 tuổi,vào lúc 4 giờ ngày 29 tháng 8 năm giáp tí,nghe tiếng kêu cứu bên sông Viêm Thủy mới vượt qua ruộng vườn nhảy vào sông Viêm Thủy cứu người,tiếc là người trẻ sức yếu,lực bất tòng tâm,cứu người không được mà bản thân cũng chết đuối,người này một đời ít lỗi,bản tính hiếu thảo cầu tiến,tuy thành tích không như người nhưng lại hay giúp người,quả cảm thông minh,tuy có nhiều sai sót nhưng không có việc quá đáng,sau khi chết,được phúc thần tiếp dẫn đến nam thiên,nam thiên chỉ dụ: họ Trần chưa tới tuổi thành niên mà nghĩa cử thật cao cả,tuy không thành công nhưng tinh thần thật đáng khen,đủ tư cách vào quả vị chân tu,nên chuyển qua Đông thiên ghi chép quả vị để thể hiện lòng trời chí chánh chí nhân,càng rõ ràng trong việc thưởng phạt,kết án như vậy có thỏa đáng hay không ? xin chúa công định đoạt.
Minh vương: tốt,nhưng mà quá trình ghi lại của Đông thiên phải đưa vào bổn án để kết thúc tốt đẹp.
Phủ tôn: vậy thì bổn phủ kết luận để người đời hiểu được quả báo hình thành như thế nào,họ Trần vốn là người mang thiện công chuyển kiếp mượn thủy kiếp thành đạo,vậy hôm nay Đông thiên theo chức trách ghi lại như sau:từ địa phủ chuyển giao tư liệu hồn Trần Minh Nguyên hợp với ghi chép bên nam thiên,bổn phủ hạch chuẩn đưa họ Trần vào Đông thiên tu chân phủ,cần tu quy nghi cõi trời,hết hạn đưa vào Đông thiên chấp ty đạo đồng,tu thêm quả vị,hồ sơ sẽ trình Nam thiên và địa phủ.
Minh vương: haha,lại một việc công tội viên mãn,hôm nay viết sách chấm dứt,chúng ta về.
HỒI 10: CẦU ĐẮC MINH SƯ MỞ LINH KHIẾU,SAU ĐỘNG NIỆM NGHIỆT ĐEO ĐUỔI.
Nam cực tiên ông giáng.
thơ rằng: cỡi hạc vân du yên ổn thay,đề thơ khuyến thiện viết văn chương,câu chữ nào chứa đầy hàm ý,làm phương đ
|
|
|
| Nghiệp |
|
Đăng bởi: lyquochoang - 05-29-2013, 01:46 AM - Diễn đàn: Tôn giáo & Tâm linh
- Không có trả lời
|
 |
Nghiệp Báo là từ gọi tắt đầy đủ của nghiệp và sự báo ứng, hay nghiệp và kết quả của nghiệp.
Nghiệp, karma, là sự hoạt động của ý nghĩ, lời nói và hành động của mọi loài hữu tình có thể tạo thành một kết quả vui khổ về sau. Nếu bởi nghiệp thiện, chúng ta đem niềm vui cho kẻ khác, kết quả về sau chúng ta sẽ được vui. Nếu chúng ta bố thí cho người nghèo, chúng ta sẽ được đầy đủ tài vật. Nếu chúng ta chăm sóc sức khỏe cho người bệnh, chúng ta sẽ được mạnh khỏe. Còn nếu bởi nghiệp ác, chúng ta gieo đau khổ cho người khác, đau khổ sẽ trở lại với chúng ta. ” Mắt phải đền mắt, răng phải đền răng” (* Thánh kinh) (Nghiệp Báo đấu tranh). Đó là sự công bằng vô hình chi phối tất cả.
Đôi khi chúng ta cũng gọi luật Nghiệp Báo là Luật Nhân Quả. Nghiệp được xem là nguyên nhân và sự báo ứng được xem là kết quả.
Tuy nhiên tên gọi Nhân Quả này có một phạm vi quá rộng, bao gồm cả mọi hình thức Nhân Quả khác của cuộc đời, vật lý, xã hội, tâm lý... Còn tên gọi Nghiệp Báo là sự chuyên biệt cho riêng tính chất thiện ác mà thôi.
Ví dụ như cho rằng ngọn lửa là nguyên nhân và nước sôi là kết quả. Cái Nhân Quả này không dính líu gì đến sự báo ứng của nghiệp. Hoặc nhiên liệu là nguyên nhân, sự chuyển động của xe là kết quả, nhờ nhiên liệu làm cho xe khởi động. Cái tương tác Nhân Quả này khác với Nhân Quả của nghiệp.
Hạt được gieo xuống đất, một số các điều kiện được bổ sung như nước, phân, ánh sáng, rồi hạt nẩy mầm, thành cây, kết trái. Cái Nhân Quả của thực vật này cũng cách xa với Nhân Quả của nghiệp mặc dù các nhà đạo học thường dùng hình ảnh này để minh họa cho đường đi của nghiệp.
Các hình thức Nhân Quả của khoa học dễ quan sát trong khi Nhân Quả của nghiệp thì vô hình và ảnh hưởng qua nhiều kiếp luân hồi nên không thể quan sát bằng mắt thường được. Ví dụ cho rằng việc gia tăng dân số là nguyên nhân dẫn đến kết quả suy thoái kinh tế xã hội. Điều này có thể chứng minh rất rõ ràng. Chính vì thế mà các nhà xã hội học ra sức kêu gọi mọi người làm giảm dân số bằng cách sinh đẻ có kế hoạch.
Hoặc việc sử dụng các nhiên liệu địa khai như dầu mỏ, khí đốt, than đá làm tăng lượng carbonic trong khí quyển phát sinh hiệu ứng nhà kính, làm xáo trộn sinh thái Địa cầu, gây nhiều ảnh hưởng tai hại cho đời sống toàn nhân loại. Những loại Nhân Quả như trên không phải là Nghiệp Báo nhưng rõ ràng có ảnh hưởng đến khổ vui của con người.
Thế còn việc sử dụng nhiên liệu địa khai làm ô nhiễm môi trường, sử dụng khí Fréon làm thủng tầng Ozone trên khí quyển thì sao ? Tầng Ozone có tính chất bảo vệ trái đất khỏi các tia vũ trụ độc hại. Nhưng núi lửa, các khí Flor công nghiệp đã làm mỏng và rách lớp Ozone này gây nguy hại cho loài người.
Ngay cả các hàng Alahán được xem là vô học, không còn nghi ngờ gì với vấn đề giải thoát, nhưng nếu quay lại cứu độ mọi người thì kiến thức luôn luôn vẫn cần thiết với các Ngài. Ông Krishnamurti một vị đạo sư của thời đại, không bao giờ xao lãng việc quan sát sự tiến bộ của khoa học trên thế giới.
Một vị chủ trì ngôi tự viện, do thiếu kiến thức, đã áp dụng một Thanh qui sai lầm ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và tâm linh của đại chúng. Một nhà thuyết pháp do thiếu kiến thức đã giải thích giáo lý đi ngược với khoa học, gây mê tín và làm giảm giá trị của đạo.
Họ đều phải nhận lấy quả báo nguy hiểm về sau.
Rồi sự tận hưởng những tiện nghi quá đáng đưa đến sự phá hoại sinh thái Địa cầu cũng được xem là một tội lỗi đáng kể. Con người nên tập sống đời đơn giản gần với thiên nhiên hơn là cứ mãi đòi hỏi những tiện nghi sang trọng mà không để ý đến sức chịu đựng có hạn của môi trường.
Hoặc một kẻ phạm tội trộm cắp, giết người bị nhà chức trách bắt giam. Cái Nhân Quả xã hội này giống hệt với luật Nghiệp Báo là một minh chứng của Nghiệp Báo.
Hoặc một bác sĩ tận tụy chữa bệnh nhân, ông được khen thưởng và thăng chức. Cái Nhân Quả xã hội này không khác với luật Nghiệp Báo.
Nhưng nó vẫn không phải là luật Nghiệp Báo vì nó chưa đạt đến sự công bình tuyệt đối. Kẻ tội phạm ranh ma vẫn có thể che mắt luật pháp. Vô số các vụ án chưa phá được. Và không thiếu những người tận tụy tốt bụng bị trù dập vì không ăn cánh với kẻ xấu.
Những người lãnh đạo chính quyền luôn luôn cố gắng đi tìm sự công bằng cho xã hội, nhưng từ xưa tới nay, cái công bình do con người tạo ra bằng khuôn mẫu pháp luật chỉ đạt được hiệu quả phần nào. Ví dụ một vị chánh án, do thiên kiến cá nhân đã nương nhẹ mức án với người này, gia tăng mức án với người khác. Trước mắt, mọi người đều phải chấp nhận cái công bình tạm thời do con người, do xã hội thành lập.
Nhiều tôn giáo đã nêu lên cái công bình tuyệt đối của Thượng Đế, kêu gọi con người hãy an tâm trước những cái bất công còn đầy trên xã hội, bởi vì Thượng Đế sẽ phán xử lại tất cả sau khi chết hoặc sau ngày tận thế.
Ở đây, với luật Nghiệp Báo, những gì con người làm cho người khác sẽ trở lại cho họ một cách công bình, chắc chắn và hợp lý.
Với một lý luận dễ hiểu, chúng ta có thể nói rằng một nghiệp thiện sẽ tạo thành một kết quả vui, và một nghiệp ác sẽ tạo thành một kết quả khổ. Ví dụ người hay san sẻ vật chất sẽ được giàu sang, người hay tự cao sẽ rơi vào địa vị hèn hạ.
Tuy nhiên để hiểu thế nào là thiện ác chúng ta phải lệ thuộc vào hoàn cảnh thời đại. Thông thường chúng ta quan niệm rằng một hành động được gọi là thiện khi nó đem niềm vui đến cho kẻ khác, được nhiều người khen ngợi.
Hãy xét trường hợp nơi một bộ tộc bán khai có tục lệ giết một cô gái đẹp mỗi năm để tế thần.
Cô gái được chọn cũng cảm thấy vinh dự. Đối với họ hành động này là thiện, trong khi những nơi khác hết sức kinh tởm. Như vậy quan niệm thế nào là thiện ác cũng chỉ tương đối, bị biến thiên theo hoàn cảnh.
Hoặc cha mẹ quở phạt con cái làm nó khó chịu, thấy dường như ác, kỳ thật đem lại ích lợi cho nó lâu dài về sau.
Quan niện về thiện ác bị biến thiên theo nhiều điều kiện, còn luật Nghiệp Báo thì bất biến.
Những điều gì chúng ta làm cho người khác sẽ trở lại với chúng ta một cách công bình.
Ví dụ nơi bộ tộc giết người để tế thần, luật Nghiệp Báo không phê phán thiện hay ác, chỉ lẳng lặng sắp xếp để cho những kẻ giết người cũng sẽ được đưa lên giàn hỏa vào một lúc khác.
Nếu ban phát tình thương, chúng ta sẽ trở thành vị thánh. Nếu truyền bá kiến thức, chúng ta sẽ trở thành nhà bác học. Nếu phổ biến phương pháp thiền định, chúng ta sẽ đắc định sâu thẳm. Những gì đem đến cho người, sẽ trở lại với chúng ta. Những người quên mình để giúp đỡ mọi người sẽ đầy đủ tất cả.
Tuy nhiên, với đôi mắt phàm phu này không ai có thể chứng kiến một nghiệp nhân sẽ đưa đến một quả báo ra sao.
Một tên cướp giết người, lẩn trốn pháp luật rồi mọi chuyện phôi pha, vụ án không phá được. Có chắc là y sẽ phải chịu một quả báo nào xứng đáng vào tương lai hay không ? Có chắc là y sẽ té xuống vực thẳm, bị đụng xe, hay bị người khác giết lại không ?
Hoặc một đứa trẻ sinh ra trong một gia đình giàu có, có chắc là đời trước nó đã từng biết bố thí giúp đỡ mọi người hay không ? Có chắc là nó đã từng cúng dường cho những bậc thánh thiện hay không ?
Chính cái khoảng thời gian ngăn cách làm cho luật Nghiệp Báo trở nên bí ẩn, khó thấy và khó chấp nhận.
Trường hợp chúng ta giúp đỡ ai, họ mang ơn, sau này họ đền ơn. Cái Nhân Quả này dễ thấy vì đơn giản. Nhưng đôi khi gặp kẻ vô ơn, không đếm xỉa gì đến chúng ta.
Hoặc trước kia chúng ta lầm lỡ hại người, họ mang oán thù và tìm dịp mưu hại chúng ta. Điều này có vẻ công bình và hợp lý với tính chất của Nghiệp Báo. Nhưng đôi khi gặp những người độ lượng tha thư,ù họ không tìm cách trả thù.
Như vậy luật Nghiệp Báo cũng không dựa vào tâm lý vô ơn hay biết ơn, oán thù hay tha thứ của con người. Nó âm thầm đi con đường riêng, mặc cho tâm lý của con người thay đổi.
Giống như một tấm gương bí mật phản chiếu ánh sáng. Người không biết về tấm gương ở trên cao kia sẽ phải ngạc nhiên tại sao với một ngọn đèn ở đây, bị ngăn cách nhiều lớp vách, lại xuất hiện một vầng sáng ở bên kia. Cũng vậy, không thấy được tấm gương phản chiếu Nghiệp Báo, chúng ta sẽ ngạc nhiên tại sao một nghiệp thiện ác ở đây, bị ngăn cách bởi thời gian và không gian dị biệt, lại xuất hiện một quả báo vui khổ ở nơi khác.
Tấm gương tượng trưng cho BẢN THỂ TUYỆT ĐỐI của vũ trụ. Tính chất phản chiếu của gương tượng trưng cho luật Nghiệp Báo. Ngọn đèn tượng trưng cho nghiệp nhân. Vầng sáng bên kia tượng trưng cho Quả báo, còn những lớp vách tượng trưng cho những khoảng không gian gần xa. Chiều cao của tấm kính chính là chiều sâu tâm linh, không phải chiều cao vật lý.
Không biết về tấm gương Bản Thể này, chúng ta càng không biết gì về tính chất phản chiếu Nghiệp Báo của nó. Đứng trước sự khổ vui của con người, chúng ta không thể hiểu nguyên nhân ban đầu ra sao. Nhìn hành vi thiện ác, chúng ta không lường được kết quả sẽ xuất hiện thế nào.
Chỉ có những bậc thánh chứng đạo viên mãn đã có thể thểånhập trọn vẹn Bản Thể Tuyệt Đối, đạt được sự hợp nhất với toàn thể vũ trụ, mới thấy rõ tính chất phản chiếu của Nghiệp Báo công bình hoàn toàn.
Đức Phật gọi khả năng thấy rõ đường đi của nghiệp là Thiên Nhãn Minh. Như vậy thiên nhãn không phải là con mắt trời để nhìn cảnh vật xa gần cho vui. Ở đây, Thiên nhãn có nghĩa là một trong nhiều khả năng của bậc đạt đạo, có thể tận tường sự vận hành của nghiệp trong việc tạo thành quả báo về sau.
"Như một người trên lầu cao tại ngã tư đường nhìn người qua lại, cũng vậy, với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhiên, vị Alahán thấy rõ các hạnh nghiệp và quả báo của mọi người. Những kẻ tạo thiện nghiệp sẽ sinh vào chỗ an vui. Những kẻ tạo ác nghiệp sẽ sinh vào nơi đau khổ"
Vào trước thời kỳ Đức Phật ra đời, đối với Ấn Độ, Trời là tượng trưng cho sự cao cả nhất trong vũ trụ. Thế nên Đức Phật dùng từ thiên nhãn, thiên nhĩ cũng có nghĩa là chỉ cho khả năng hiểu biết cao nhất của bậc đạt đạo. Sau thời Đức Phật, trong Phật giáo, khái niệm "Trời" trở thành kém giá trị nên những luận bản cho ra đời một số từ mới thích hợp hơn như huệ nhãn, pháp nhãn, Phật nhãn.
Lúc đó từ thiên nhãn bị hiểu thấp hơn ý nghĩa ban đầu. Thật ra, thời Đức Phật tại thế, Phật dùng từ Thiên nhãn là ám chỉ giá trị cao nhất không gì hơn.
Nếu chúng ta bất chợt hỏi một vị Thánh đạt đạo một điều chuyên môn nào đó, các Ngài vẫn có thể không biết. Vì sao các Ngài không biết trong khi khả năng của thiên nhãn là siêu việt và có thể gọi là tuyệt đối ?
Thật ra Bản Thể có hai tính chất: tịch diệt và thông đạt.
Tịch diệt hoàn toàn và thông đạt hoàn toàn.
Một vị đạt đạo, tùy theo ý mình có thể an trụ trong tịch diệt tuyệt đối, và không cần phải biết điều gì, bởi vì đối với bản thân các ngài, biết hay không biết chẳng có gì quan trọng. Tuy nhiên, khi có một vấn đề cần tìm hiểu để hóa độ chúng sanh, các Ngài hướng về tính chất thông đạt và lập tức mọi chuyện phơi bày rõ ràng.
Nếu chúng ta hỏi các Ngài đúng vào điều đã được các Ngài quan sát trong định, các ngài sẽ trả lời rành mạch. Ngược lại các ngài vẫn chưa biết.
Do đã từng "quan sát" sự luân hồi của nhiều người, bậc đạt đạo hiểu rõ tính chất của Nghiệp Báo hơn chúng ta. Các ngài hiểu rõ vì sao một người phải mang thân nữ, vì sao một người được thông minh, vì sao một người chịu hèn kém. Trong đời sống, các Ngài luôn luôn cẩn thận từng hành vi, vì trí tuệ các ngài luôn soi sáng và không chấp nhận một sự sơ hở nhỏ nhặt nào. Cả cuộc sống của các ngài là một bức tranh đạo đức toàn vẹn. Nhìn thấy mọi người tạo nghiệp thường xuyên, quay qua bên phải làm một việc bậy, quay qua bên trái nói một lời bậy, cúi xuống khởi một ý nghĩ xấu, với lòng bi mẫn, các ngài rất thương xót vì biết họ sẽ chịu nhiều bất hạnh ở tương lai.
Đối với bậc thánh đạt đạo, luật Nghiệp Báo là một sự thật hiển nhiên không còn gì phải nghi ngờ bàn cãi. Các ngài tuyên bố giảng dạy về Nghiệp Báo một cách xác quyết hùng hồn, khiến cho chúng ta tin hiểu và biết sống cuộc đời đạo đức hơn. Các tín đồ của đạo Phật, đạo Ấn độ tin sâu vào Luật Nhân Quả Nghiệp Báo bởi vì họ được các giáo tổ dạy bảo rất nhiều. Hơn nữa tính chất công bình của Nghiệp Báo phù hợp với lương tâm của con người.
Tận trong thâm tâm ai cũng cảm thấy kẻ ác đáng bị phạt và người thiện đáng được thưởng. Do đó với luật Nghiệp Báo, điều mong mỏi của họ được đáp ứng, và làm họ yên tâm dù cuộc đời có bất công, con người có thiên vị. Cuối cùng luật Nghiệp Báo sẽ giải quyết công bình tất cả.
Chính vì luật Nghiệp Báo phù hợp với lương tâm con người nên ngay cả những người không có khuynh hướng tín ngưỡng cũng thầm chấp nhận sự thật hữu của Luật Nhân Quả này. Họ tin có một sự công bình âm thầm chi phối đời sống của con người để người tốt sẽ hưởng được nhiều may mắn và kẻ xấu phải chịu nhiều tai vạ.
Tục ngữ Anh có câu:
"Man reaps what he sowed" (Người ta gặt những gì mình gieo). Hoặc người Việt Nam nói "Ở hiền gặp lành" "Gieo gió gặt bão"... đều phản ánh niềm tin sâu sắc vào luật Nghiệp Báo này.
Chỉ có hai hạng người không tin Nghiệp Báo, đó là kẻ độc ác không muốn tin vì sợ mình phải trả Nghiệp Báo sau này, hai là kẻ đòi hỏi phải có một sự chứng minh lôgic, chứ họ không tin nơi cái trực cảm của nội tâm.
Trong bộ phim "Chiến tranh giữa các vì sao" một nhà bác học đã dạy cho học trò để trở thành hiệp sĩ Reidei phải biết tin vào cái trực cảm của nội tâm hơn là cái thấy nghe của tai mắt, vì có những sự thật mà tai mắt không nhìn thấy, chỉ có cái trực quan mới cảm nhận đuợc mà thôi.
Ở đây cũng vậỵ, trong khi khoa học chưa đủ sức chứng minh luật Nghiệp Báo, nếu không sử dụng cái trực cảm này, chúng ta cũng không hiểu được sự có mặt của luật Nghiệp Báo âm thầm chi phối đời sống của ta trong từng phút giây nhỏ nhiệm. Một mặt chúng ta cố gắng đi tìm sự chứng minh cho luật Nghiệp Báo, mặt khác chúng ta cũng phải biết dùng cái trực quan của nội tâm để tin hiểu luật kỳ diệu này.
Khoa học ngày nay còn quá hạn chế, chưa thể biết nhiều về các nguyên lý của vũ trụ. Chúng ta có thể chụp hình một nguyên tử, biết gần hết mọi hatï cơ bản của nguyên tử, nhưng đây chỉ là một lãnh vực nhỏ so với vô số quy luật khác. Một thời gian dài người ta còn cho các định luật của Newton (1642-1727) là hoàn hảo. Đến khi Einstein (1879-1955) đưa ra thuyết Tương đối, mọi vấn đề đã khác hẳn, khoa học bước vào một kỷ nguyên mới, phải dùng đến tư duy vô cùng trừu tượng làm điên đầu các nhà bác học đương thời. Trước kia Geothe đã ca ngợi Newton bằng đoạn thơ:
"Ngày xưa vũ trụ mờ mịt tối tăm
Nhưng Thượng đế bảo có Newton
Thế là mọi vật trở nên sáng sủa trật tự”
Sau này một người khác đã khôi hài thêm vào :
“Rồi qủy Satan hiện ra bảo: Có "Einstein"
Thế là mọi vật lại chìm trong bóng tối”
Với Newton, các lý thuyết về luật hấp dẫn, chuyển động rất cụ thể rõ ràng như hai với hai là bốn. Nhưng với Einstein, Lý thuyết về vũ trụ cực kỳ trừu tượng, biến ảo khôn lường. Ví dụ như ông cho rằng không gian và thời gian bị thay đổi theo nhiều điều kiện như trọng trường, vận tốc, tỉ trọng... Một người di chuyển một vận tốc như vận tốc ánh sáng, họ sẽ cảm thấy trải qua vài giờ trong khi cùng lúc đó ở Địa cầu cảm thấy đã trải qua vài chục năm. Hoặc ông cho rằng không gian và thời gian có liên hệ với vật chất của vũ trụ. Nếu không còn một vật chất nào, không còn một ngôi sao nào, thì mọi người sẽ tưởng vẫn còn một khoảng không gian bao la vô tận, nhưng ông cho biết sẽ chẳng còn có không gian và thời gian nào cả.
Lý thuyết như vậy quá sức trừu tượng, vượt khỏi cái tư duy truyền thống của con người vốn quen với các điều cụ thể. Để hiểu được lý thuyết của Einstein, các nhà bác học phải sử dụng nhiều đến trực quan hơn là sử dụng lý luận thông thường của ý thức.
Những lý luận của Einstein mở ra một chân trời mơiù mẻ cho tư duy trong khoa học. Con người được làm quen dần với những chân lý mới lạ, không thể dùng tai mắt để nhận biết, mà chỉ có thể dùng trí tuệ trực quan để hiểu mà thôi.
Mặc dù nhờ vào Einstein, khoa học bước được một bước dài, nhưng để chứng minh được đường đi của Nghiệp Báo, chúng ta cũng còn phải chờ nhiều sự phát minh của các thiên tài sau này nữa.
Khoa học hiện nay chưa biết hết tính chất của não bộ với hơn 10 tỷ neuron (vào thời điểm 1991)
Sự phối hợp của các neurone để giải quyết các tín hiệu tư duy, sự trao đổi chất một cách nhịp nhàng vẫn còn là bí ẩn. Hơn nữa, tính chất chủ quan của não bộ vẫn xa lạ với sự nghiên cứu khách quan từ bên ngoài vào. Do đâu não bộ hình thành một bản năng sống mãnh liệt, con người luôn luôn tìm cách duy trì sự sống của mình một cách gay gắt. Do đâu một ước muốn của một nhà ngoại cảm có thể làm tan mây trên trời ?
Như Ignatenko, ở Ukraines đưa bàn tay lên bầu trời đen kịt, với một tâm niệm duy nhất "Mây hãy tan ra" .Vài phút sau mây tan dần trước mắt mọi người, trời bắt đầu hừng nắng.
Vô số các hiện tượng ngoại cảm làm các nhà khoa học ngạc nhiên và chưa thể giải thích được.
Rồi các đĩa bay (UFO) từ đâu bay đến bay đi một cách ung dung thoải mái với các phương pháp di chuyển ngoài sự hiểu biết của người Địa cầu. Làm thế nào họ có thể đến đây sau khi vuợt qua đoạn đường dài mấy trăm năm ánh sáng. (Chòm sao Veda cách 100 năm ánh sáng. Chòm Orion cách 1300 năm)
Tất cả vẫn còn là bí ẩn, có nghĩa là khoa học vẫn còn nhiều hạn chế chưa thể hiểu được. Nếu ai đó đòi hỏi phải dùng lý luận của khoa học hôm nay để chứng minh luật Nghiệp Báo như một phương trình toán học chặt chẽ, họ sẽ thất vọng. Ngày đó còn xa lắm. Nhà toán học L.A.Zadeh vào năm 1965 đã đưa ra lý thuyết TẬP MỜ (Fuzzy Lozic) để đưa toán học đi vào lãnh vực trừu tượng. Lý thuyết này đang được áp dụng vào máy vi tính hiện đại để tạo ra người máy thông minh, và áp dụng vào các ngành xã hội học, ngôn ngữ học, y học, sinh học... tức là những ngành trừu tượng.
Có thể nói khoa học đang đi dần vào các lãnh vực trừu tượng ngoài cái thấy biết cụ thể của tai mắt. Đây là một khởi điểm đáng mừng vì chân lý luôn luôn rất trừu tượng, và nơi chân lý tột cùng này, tính chất phản chiếu của nghiệp mới hy vọng được hiện bày trọn vẹn.
Muốn chứng minh sự thật hữu của nghiệp, khoa học cần phải mở rộng qua nhiều lãnh vực khác, đa dạng hơn, trừu tượng hơn và phổ quát hơn. Với một tập sách nhỏ bé này, chúng tôi có một tham vọng gợi ý một tiến trình cho mục đích chứng minh đó bằng cách kết hợp với các kiến thức sớ đẳng, về lý thuyết tương đối của Einstein, kiến thức về vô thức, trường sinh học, khái niệm về Bản Thể Niết Bàn của Phật giáo. Sự hiểu biết và trình bày của chúng tôi quả là quá sơ đẳng, đơn giản và ít ỏi, nhưng hy vọng nó cũng vạch ra một vài tia sáng mong manh nào đó, giúp con người tin vào sự thật hữu của luật Nghiệp Báo hơn trong khi chờ đợi sự phát minh vĩ đại của người khác. Dù sao trong đêm tối hoang vu, một vài tia sáng cũng có thể làm vui lòng khách lữ hành đang tìm về chân lý.
|
|
|
| vui và khổ |
|
Đăng bởi: lyquochoang - 05-29-2013, 01:44 AM - Diễn đàn: Tôn giáo & Tâm linh
- Không có trả lời
|
 |
1.Dẫn nhập
Hạnh phúc và khổ đau không phải là đề tài mới mẻ trên mọi diễn đàn của mọi thời đại, nhưng nó cũng sẽ không bao giờ cũ đối với con người. Bởi con người luôn đang trên đường tiềm kiếm hạnh phúc, càng tìm kiếm thì con người càng trăn trở và thổn thức với biết bao câu hỏi tại sao…? Và làm thế nào…? Và dường như, sự ra đời của mỗi con người đều mang theo những kết quả khác nhau, có người được sinh ra trong hạnh phúc, lại cũng không ít người sinh ra trong sự bất hạnh. Nếu hạnh phúc hay khổ đau của kiếp người là kết quả của những gì đã làm trong quá khứ, thì liệu chúng ta có thể thay đổi được những kết quả ấy trong kiếp sống hiện tại không? Lời giảng dạy của Đức Thế Tôn về khổ đau và hạnh phúc, được ghi lại bàn bạc trong Kinh Tạng, ở đây tác giả xin trích dẫn một bài kinh ngắn trong Tăng Nhất A Hàm, như một lời giải đáp cụ thể nhất cho vấn đề trên.
2.Khổ và Vui
Trong “Tăng Nhất A Hàm” , Phẩm Khổ Lạc, [i] Đức Thế Tôn đã khuyên dạy các thầy Tỳ kheo, có bốn hạng người xuất hiện trên cuộc đời này. Thứ nhất, có người trước khổ, sau vui; Thứ hai, có người trước vui sau khổ; Thứ ba, có người trước khổ sau khổ; Thứ tư, có người trước vui, sau vui.
Để giải thích rỏ cho bốn hạng người trên, kinh văn đã luận giải như sau:
Thứ nhất: Hạng người trước khổ, sau vui
Thế nào là người trước khổ sau vui? Hoặc có một người sinh nhà ti tiện, hoặc dòng sát nhân, hoặc giới thợ thuyền, hoặc sinh nhà tà đạo, cùng các giới bần khổ khác, áo cơm không đủ. Tuy họ sinh vào những nhà đó, nhưng người kia lại không có tà kiến, thấy rằng có bố thí, có người nhận, có đời này, có đời sau, có Sa-môn, Bà-la-môn, có cha, có mẹ, đời có A-la-hán, người lãnh thọ giáo pháp, cũng có quả báo thiện ác. Nếu thấy có nhà nào rất giàu, thì họ biết đó nhờ báo đức bố thí, báo không phóng dật ngày xưa. Hoặc họ lại thấy nhà không áo cơm, biết những người này không tạo đức bố thí thường gặp bần tiện. Nay ta lại gặp bần tiện, không có áo cơm, đều do ngày xưa không tạo phước, mê hoặc người đời, hành pháp phóng dật. Duyên báo ác hạnh này, nay gặp nghèo hèn áo cơm không đủ. Khi thấy Sa-môn, Bà-la-môn tu pháp thiện, người ấy liền hướng về sám hối, sửa đổi những việc làm xưa. Nếu có của dư, đem chia cho người. Người này sau khi qua đời sinh về xứ thiện, lên trời. Nếu sinh cõi người thì lắm tiền nhiều của báu, không thiếu hụt. Hạng người này gọi là trước khổ sau vui.
Thứ hai: Hạng người trước vui sau khổ
Hạng người nào trước vui sau khổ? Ở đây, hoặc có một người sinh vào nhà hào tộc, hoặc dòng sát-lợi, hoặc dòng trưởng giả, hoặc nhà dòng họ lớn; hoặc sinh vào các nhà giàu sang, áo cơm đầy đủ. Nhưng người đó thường ôm lòng tà kiến tương ưng cùng biên kiến. Họ thấy như vầy, không có bố thí, không có người nhận, cũng không có báo đời này đời sau, cũng không có cha mẹ, đời không có A-la-hán, cũng không có người tác chứng, lại cũng không có báo thiện ác. Người đó có những tà kiến như vậy. Khi thấy nhà giàu sang, họ nghĩ, người này lâu nay vẫn có của báu này; người nam đã lâu vẫn là người nam, người nữ đã lâu vẫn là người nữ, súc sanh đã lâu vẫn là súc sanh. Người ấy không thích bố thí, không giữ giới luật. Khi thấy sa-môn, bà-la-môn vâng giữ giới, người này nổi sân nhuế nghĩ, người ấy hư nguỵ, nơi nào sẽ có phước báo ứng?’ Người này sau khi qua đời sinh vào trong địa ngục. Nếu được làm người thì sinh vào nhà bần cùng, không có áo cơm, thân thể loã lồ, cơm áo thiếu thốn. Hạng người này gọi là trước vui sau khổ.
Thứ ba: Hạng người trước khổ sau khổ
Hạng người nào trước khổ sau khổ? Ở đây, có người sinh vào gia đình bần tiện, hoặc dòng sát nhân, hoặc giới thợ thuyền; hoặc sinh vào những gia đình hạ liệt, không có áo cơm. Nhưng người này thân ôm tà kiến, cùng tương ưng với biên kiến, nên họ thấy như vầy, Không bố thí, không có người nhận, cũng không có báo thiện ác đời này đời sau, cũng không có cha mẹ, đời không A-la-hán. Người ấy không thích bố thí, không vâng giữ giới. Khi thấy sa-môn, bà-la-môn, người ấy liền nổi sân nhuế đối với các bậc Hiền thánh. Người này thấy người nghèo thì cho rằng đã vậy từ lâu; thấy người giàu thì cho rằng đã vậy từ lâu; thấy cha, xưa đã là cha; thấy mẹ, xưa đã là mẹ. Người này sau khi qua đời sinh vào trong địa ngục. Nếu sinh cõi người thì rất là nghèo hèn, áo cơm không đủ. Hạng người này gọi là trước khổ sau khổ.
Thứ tư: Hạng người trước vui sau vui
Thế nào là hạng người trước vui sau vui? Ở đây, hoặc có một người sinh vào nhà giàu sang, hoặc dòng sát-lợi, hoặc dòng bà-la-môn, hoặc sinh vào dòng quốc vương, hoặc sinh dòng trưởng giả, cùng sinh vào gia đình lắm tiền nhiều của. Nơi sinh ra không bị thiếu hụt. Người này sinh vào những nhà như vậy, nhưng người này lại có chánh kiến không có tà kiến. Họ có cái thấy này: Có bố thí, có người nhận, có đời này đời sau, đời có sa-môn, bà-la-môn, cũng có báo thiện ác, có cha có mẹ, đời có A-la-hán. Người này khi thấy gia đình giàu sang lắm tiền nhiều của, liền nghĩ thầm, người này có được là nhờ ngày xưa bố thí. Hoặc lại thấy nhà nghèo hèn thì nghĩ, người này trước kia do không bố thí. Nay ta nên tuỳ thời bố thí, chớ để sau này sinh nhà nghèo hèn. Vì vậy nên người này thường thích bố thí cho người. Người này nếu thấy sa-môn đạo sĩ thì tuỳ thời thăm hỏi sức khỏe, cung cấp y phục, đồ ăn thức uống, giường nằm, thuốc men trị bệnh; thảy đều bố thí hết. Nếu sau khi mạng chung tất sinh xứ thiện lên trời. Nếu cõi người tất sinh vào nhà giàu sang, lắm tiền nhiều của. Hạng người này gọi là trước vui sau vui.
Qua cái nhìn thấu triệt và lời giảng giải cụ thể của Bậc Giác Ngộ về sự xuất hiện của bốn hạng người ở đời, chúng ta có thể nhận ra rằng, con người có mặt ở đời là do chiêu cảm của nghiệp quá khứ, nhưng con người cũng có thể chuyển hóa nghiệp quá khứ ngay trong hiện tại, bằng cách hướng đến điều thiện, hoan hỷ với điều thiện, biết tin sâu nhân quả. Chúng ta luôn ý thức rằng, những việc làm, lời nói và ý nghĩ của ngày hôm nay là chất liệu để tạo nên hạnh phúc hay khổ đau cho ngày mai. Bên cạnh đó, chúng ta phải biết tin tưởng vào khả năng chuyển hóa, tức là ý thức con người sinh ra không phải bị đóng đinh trong một kết quả đã định, ai khổ đau thì mãi khổ đau, ai hạnh phúc thì luôn hạnh phúc. Mà chúng ta phải biết tu tập thiện nghiệp, huân tập thiện nghiệp, nuôi lớn và phát triển thiện nghiệp, dùng tuệ giác để chuyển hóa những khổ đau thành an lạc, chuyển hóa những bế tắc thành niềm hy vọng, chuyển hóa phiền não thành bồ đề. Nếu ý thức được như vậy, thiết nghĩ cuộc đời chúng ta sẽ có hướng đi mới, hướng đi của hạnh phúc và an lạc.
3. Kết Luận
Khổ đau hay hạnh phúc luôn tồn tại và chi phối trong mỗi con người. Chỉ có điều, hạnh phúc hay khổ đau ấy không phải do ai ban tặng, cũng chẳng phải do một vị thần linh nào sắp đặt cả, mà do chính mình tạo ra. Khi thân, khẩu, ý khởi lên ác nghiệp thì con người sẽ gặt hái quả bất hạnh, bằng ngược lại…sẽ đưa con người sống trong hạnh phúc an vui. Vì vậy, mỗi người hãy “tự mình là hòn đảo của chính mình, nương tựa mình và nương tựa pháp”, nỗ lực hành trì thiện pháp, chuyển hóa những hạnh nghiệp bất thiện từ trong tâm thức của chính mình bằng ánh sáng của tuệ giác. Như vậy, con người sẽ không phải cất công đi tìm kiếm hạnh phúc mà hạnh phúc vẫn luôn hiện hữu một cách chân thật nhất ngay trong cuộc sống hiện tại này.
Virginia Beach 6.12.12 Thích Chúc Đại
|
|
|
| Xin visa ở Lãnh sự Mỹ tại TP.HCM: 1.001 chuyện chưa biết |
|
Đăng bởi: sunlight878 - 05-29-2013, 01:44 AM - Diễn đàn: TeeN NewS
- Không có trả lời
|
 |
(TNO) Khoảng 8 giờ Lãnh sự quán Mỹ ở TP.HCM mới bắt đầu làm việc nhưng từ 2-3 giờ sáng người dân các tỉnh đã chầu chực trước cổng lãnh sự hay phía bên kia góc đường Lê Duẩn và Lê Văn Hưu (Q.1, TP.HCM) với mục đích xin visa.
“Góc đường này như một xã hội thu nhỏ, có người giàu kẻ nghèo, có buồn vui, có thất vọng, chán nản. Mọi chuyện đều liên quan đến visa”, một người đi xin visa ví von.
Cha mẹ thăm con: Dễ đến... bất ngờ
Bà Hiền, chủ quán cà phê cóc ở góc đường Lê Duẩn - Lê Văn Hưu (Q.1) gần 20 năm nay cho biết thông thường cứ ba giờ sáng là bà đã phải dọn hàng để bán vì nhiều người ở quê lên sớm.
Mở quán sớm, theo bà Hiền, chủ yếu là để phục vụ cho những người ở tỉnh lên làm visa ở Lãnh sự quán Mỹ. Theo quy định phải 8 giờ lãnh sự quán Mỹ mới làm làm việc nhưng từ 2-3 giờ sáng đã có người chầu chực trước cổng rồi. Người đến sớm chủ yếu ở tỉnh xa, đa phần từ các tỉnh miền Tây.
![[Image: anhnoidung_visa.jpg]](http://www.thanhnien.com.vn/Pictures20135/TrungHieu/anhnoidung_visa.jpg)
Xếp hàng xin visa ở Lãnh sự quán Mỹ tại TP.HCM - Ảnh: Trung Hiếu
Ông Nguyễn Văn Đức, nhà ở Bình Dương, đưa người con trai đến phỏng vấn xin visa đi du học Mỹ cho hay việc xin visa giống như kiểu “hên xui”. Đối với người này là cực khó nhưng lại cực kỳ dễ dàng với người khác.
Ông Đức kể về lần xin visa sang Mỹ thăm con: “Khi bước vào, đụng với một ông Tây da đen to đùng đùng, mình hơi run. Ông ấy hỏi tôi mấy câu: Con ông tên gì, sang Mỹ ngày tháng năm nào? Ông sang Mỹ làm gì, sao không đưa vợ theo? Tôi cứ từng câu trả lời, xong ông ấy bắt tay chúc mừng. Không ngờ xin visa sang Mỹ dễ thế”.
Bà Trần Văn Thủy, 67 tuổi, quê ở Bến Tre, được người con trai dẫn lên phỏng vấn xin visa thăm cháu nội ở Mỹ kể: “Tôi được hướng dẫn đến quầy số 7 gặp một bà người Tây. Lạ một điều là bà này nói chuyện với tôi bằng tiếng Việt chứ không cần thông dịch. Hỏi được ba câu, bà này bảo tôi đậu rồi. Chuẩn bị đi mua vé máy bay sang thăm cháu đi là vừa”.
Ông Nguyễn Tất Thắng, quê ở Sóc Trăng, lên phỏng vấn xin visa thăm con ở Mỹ cho hay những trường hợp cha mẹ xin visa thăm con rất dễ được chấp nhận.
Bản thân ông Thắng có con gái sang Mỹ và lấy chồng bên đó. Năm ngoái, vợ chồng người con mời ba mẹ sang định cư hẳn bên đó. Vợ ông Thắng phỏng vấn lần đầu được cấp visa liền. Cách đây hai tháng, ông Thắng làm thủ tục xin visa và cũng được cấp trong lần đầu tiên phỏng vấn.
Tuy nhiên, theo ông Thắng kể không phải trường hợp cha mẹ xin visa thăm con đều suôn sẻ. Năm trước khi đưa vợ đi phỏng vấn, ông đã chứng kiến cảnh một bà mẹ xin visa thăm con bị rớt khi phỏng vấn.
“Lý do trước đó, bà này làm giả kết hôn và bị nhân viên lãnh sự Mỹ phát hiện. Sau này, người con đủ điều kiện bảo lãnh, bà tiếp tục làm hồ sơ xin visa. Tuy nhiên nhân viên ở đây phát hiện ra bà này từng gian dối lập tức từ chối. Hết cửa sang Mỹ thăm con, bà này khóc tại quầy phỏng vấn”, ông Thắng nói.
Không cấp visa vì người phỏng vấn quá... đẹp
Bà Hiền cho biết đông nhất là đối tượng phỏng vấn xin visa du học nhưng đây là những trường hợp bị rớt nhiều nhất.
“Chưa kể sau khi thông tin bán visa bị phát giác như vừa qua báo chí nêu, rất nhiều người phỏng vấn bị rớt”, bà Hiền nói.
Đây là lần thứ năm ông Trần Văn Thiện, nhà ở Bà Rịa-Vũng Tàu đưa con đi phỏng vấn xin visa sang Mỹ du học.
Ông Thiện kể nhà chủ yếu làm nông, có vài ha trồng tiêu, cộng với nuôi heo nên một năm trừ chi phí, cả gia đình cũng thu được khoảng hơn 200 triệu đồng.
Bền bỉ và kiên trì nhất có lẽ là một cậu phỏng vấn xin visa du học tới 13 lần mới đậu. Khi nhìn thấy cậu này vô phòng phỏng vấn, ông Tây phỏng vấn chỉ biết cười lắc đầu, hỏi đúng một câu rồi cho đậu
Bà Hiền – bán cà phê ở góc đường Lê Duẩn – Lê Văn Hưu
Người con gái đầu của ông Thiện học khá giỏi, năm ngoái thi đậu một lúc hai trường đại học nhưng lại có ước mơ sẽ đi du học. Thương con, vợ chồng ông Thiện sau khi bàn bạc quyết định làm hồ sơ xin visa cho con du học tự túc.
Tuy nhiên, oái ăm là sau bốn lần phỏng vấn, con gái ông Thiện đều rớt với lý do khi thì chưa chứng minh được tài chính, khi thì trình độ ngoại ngữ chưa đủ chuẩn…
“Lần gần đây nhất sau khi phỏng vấn xong, người thông dịch nói chưa thể cấp visa vì con tôi đẹp quá, sang đó dễ trốn đi lấy chồng. Khi không thích cấp, họ tìm đủ mọi cách từ chối. Lần này đưa con đi phỏng vấn cho nó toại nguyện chứ khó đậu lắm”, ông Thiện nói.
Ông Thiện cho hay khi biết Mỹ khó xin visa, gia đình ông cũng tính cho con du học ở Úc nhưng thấy tiền cọc du học ở Úc nặng quá, những hơn 500 triệu đồng, gia đình khó gánh nổi.
“Với lại ở Úc khi sang học thì dễ nhưng khi học xong rất khó ở lại nếu không lập gia đình với người có quốc tịch Úc nên con tôi không thích”, ông Thiện lý giải.
Sao thấy con phỏng vấn rớt visa, gia đình không tìm dịch vụ tư vấn? Ông Thiện cho biết đậu hay rớt visa cũng hên xui chứ không có dịch vụ tư vấn nào dám đảm bảo 100% phỏng vấn là đậu.
Ông Thiện kể: “Có dịch vụ ra giá 10.000 USD bảo đảm đậu visa nhưng cuối cùng họ có làm được đâu. Đứa cháu tôi ở nhà cũng xin visa đi Mỹ, nó học dở, vào Lãnh sự quán Mỹ họ hỏi gì cũng ú ớ hoặc không biết nhưng cuối cùng lại đậu”.
Hơn 11 giờ, con gái ông Thiện phỏng vấn xong đi ra. Nhìn thấy bộ dạng thất thểu của con gái từ xa, ông Thiện biết kết quả lần này không tốt hơn những lần trước.
“Lại rớt rồi ba ạ. Con vào trúng ngay bà nhân viên người Hàn Quốc từng phỏng vấn mình. Bà hỏi con dạo này có gì mới không và hỏi thêm hai câu nữa. Xong rồi bà bảo con chưa đủ điều kiện để được cấp visa và nói xin lỗi”, cô con gái buồn bã đáp.
Nghe xong, ông Thiện đáp: “Đưa con đi phỏng vấn lần này cho con toại nguyện chứ ba cũng không hi vọng con đậu. Bởi nếu đậu thì con đã đậu ở những lần phỏng vấn đầu rồi. Thôi không được học ở Mỹ thì ráng học tốt trường trong nước vậy”.
Kinh nghiệm nhiều lần đi xin visa, ông Nguyễn Tất Thắng, quê ở Sóc Trăng cho hay chỉ cần nhìn dáng đi của người phỏng vấn khi bước ra khỏi cổng lãnh sự Mỹ là ông biết người đó đậu hay rớt.
“Người nào ra cổng đi như bay sang đường là đậu, còn cứ đi chầm chậm, đầu không ngẩng cao chắc chắn rớt”, ông Thắng cười nói.
Râm ran chuyện “bán” visa
Bà Nguyễn Thị Anh Mỹ (quê ở An Giang), có quốc tịch Mỹ, lên Lãnh sự quán Mỹ ở TP.HCM làm thủ tục đổi hộ chiếu cho hay sau vụ gian lận visa, công tác an ninh ở lãnh sự quán Mỹ được siết chặt hơn.
Bà Mỹ cho biết thời gian sống ở tiểu bang California (Mỹ), bà gặp không ít trường hợp người Việt tìm mọi cách “mua” visa qua Mỹ, sau khi sang Mỹ trốn ở đây luôn.
Bà Mỹ nói: “Cách phổ biến nhất, họ sẽ bỏ tiền cưới giả người có quốc tịch Mỹ. Sau khi được cấp thẻ xanh họ sẽ li dị. Nhưng thủ thuật này gần đây đã bị chính quyền Mỹ phát giác”.
Từ Đồng Tháp lên TP.HCM tới Lãnh sự quán Mỹ điều chỉnh giấy tờ, ông Tăng Phụng Hổ - Việt kiều Mỹ - cho hay những trường hợp “chạy” visa rồi sang Mỹ, rồi thuê người có quốc tịch Mỹ kết hôn rất nguy hiểm. Nhiều trường hợp bị chính quyền Mỹ phát hiện vừa bị tội vừa “tiền mất tật mang”.
“Vừa rồi ở California, cảnh sát bắt một lúc mấy chục luật sư chuyên tư vấn cho khách hàng Việt Nam giả kết hôn với người có quốc tịch Mỹ để có thẻ xanh”, ông Hổ nói.
Trung Hiếu
Nguồn: Tin tức
|
|
|
| Phước Báu |
|
Đăng bởi: lyquochoang - 05-29-2013, 01:43 AM - Diễn đàn: Tôn giáo & Tâm linh
- Không có trả lời
|
 |
Những "phước báu" chúng ta đã hưởng, đang hưởng, và sẽ hưởng, chính do chúng ta đã tạo trong nhiều kiếp trước và ngay trong kiếp này. "Mình làm mình chịu, mình làm mình hưởng" mới là lẽ công bằng tuyệt đối vậy.
Trong cuộc sống hằng ngày chúng ta thường nghe nói: Người này "có phước" quá, cho nên mới được vừa giàu sang, vừa học giỏi, vừa đẹp đẽ, vừa mạnh khỏe, vừa may mắn, cầu con được con, cầu của được của, vạn sự như ý, tùy tâm mãn nguyện. Hoặc cũng có khi chúng ta nghe nói: Người này "bạc phước" quá, cho nên làm chuyện gì cũng thua lỗ, tính toán việc gì cũng hỏng, muốn gì cũng không nên, cầu gì cũng chẳng được, tai họa xảy ra tới tấp, gặp xui xẻo liên miên! Khi được may mắn, khi được sung sướng, khi được những sự như ý, khi được tất cả những điều gọi là "có phước", người đời thường nghĩ rằng, cho rằng: mình có phước báu như vậy là do trời thương, trời ban cho mình! Những người đó không chịu tìm hiểu thêm: Tại sao ông trời lại thương mình và ban cho mình phước báu như vậy, mà không ban cho biết bao nhiêu người khác? Như vậy có phải là bất công chăng? Như vậy có đúng chăng? Tại sao con người lại có ý nghĩ như vậy?
Sở dĩ con người có ý nghĩ như vậy là do tâm ích kỷ nhiều đời, do tập khí tham lam bỏn sẻn, do tánh ganh tị đố kỵ mà ra. Con người khi được sung sướng, thì mặc kệ người khác ra sao, chẳng bận tâm đoái hoài, đó là tâm ích kỷ. Con người khi được toại nguyện, muốn gì được nấy, thì mặc kệ người khác ra sao, thậm chí trong lòng còn chẳng muốn ai khác được như vậy, đó là tập khí tham lam bỏn sẻn. Con người khi được thành công thắng lợi, thì mặc kệ người khác ra sao, chẳng muốn ai khác bằng mình hay hơn mình, đó là tánh ganh tị đố kỵ vậy.
Thực ra, không có ông trời, thượng đế, hay đấng tạo hóa nào làm những chuyện bất công, thiên vị như vậy. Những "phước báu" chúng ta đã hưởng, đang hưởng, và sẽ hưởng, chính do chúng ta đã tạo trong nhiều kiếp trước và ngay trong kiếp này. "Mình làm mình chịu, mình làm mình hưởng" mới là lẽ công bằng tuyệt đối vậy. Cũng không ít người thắc mắc: Làm sao biết mình "có phước" hay không? Làm sao để tạo phước? Đồng thời chúng ta cũng cần nên biết: thế nào là phước hữu lậu và thế nào là phước vô lậu? Và khi làm phước giúp đỡ ai điều gì, mình nên nguyện như thế nào?
* * *
Trên thế gian này, nếu ngước nhìn lên chúng ta sẽ thấy không biết bao nhiêu người giàu sang hơn mình, học thức hơn mình, khỏe mạnh hơn mình, sung sướng hơn mình, đẹp đẽ hơn mình, địa vị hơn mình, quyền thế hơn mình, may mắn hơn mình, nhàn nhã hơn mình, bình yên hơn mình, thông minh hơn mình, sáng suốt hơn mình, nhứt là không biết bao nhiêu người tu tập giác ngộ hơn mình, được an lạc và hạnh phúc hơn mình. Những người như vậy chính là những người "có phước" hơn mình. Trái lại, khi nhìn xuống chúng ta sẽ thấy không biết bao nhiêu người nghèo hèn hơn mình, dốt nát hơn mình, yếu đuối hơn mình, khổ sở hơn mình, xấu xí hơn mình, thấp kém hơn mình, cô thế hơn mình, xui xẻo hơn mình, cực khổ hơn mình, hoạn nạn hơn mình, đần độn hơn mình, tối tăm hơn mình, nhứt là không biết bao nhiêu người không được sống an lạc và hạnh phúc như mình. Những người như vậy chính là những người "bạc phước" hơn mình.
Như vậy, rõ ràng chúng ta được gọi là "có phước", hay đang thọ hưởng "phước báo", nếu như chúng ta có đủ tay chân, mắt mũi vẹn toàn, cơm ăn áo mặc, khỏe mạnh ít đau, sống lâu trăm tuổi, tâm trí bình thường, gia đình hạnh phúc, cuộc sống tương đối đầy đủ, cuộc đời tương đối bình yên, không gặp hoạn nạn, không gặp hiểm nguy, không gặp tai biến, không gặp chiến tranh, không gặp đói khát, không gặp kẻ thù, không gặp thiên tai, hỏa hoạn động đất, bão lụt cuồng phong. Khi nào bị đau mắt, không còn nhìn thấy được gì nữa cả, chúng ta mới thấy giá trị của đôi mắt, giá trị của thị giác, mà hằng ngày chúng ta không lưu tâm. Đến khi gặp thầy gặp thuốc, được chữa lành bệnh, đôi mắt trở lại như xưa, chúng ta mới thấy là mình đang "có phước"! Hoặc khi nào bị bệnh bại xụi cả hai chân, không còn đi đứng được bình thường, phải dùng xe lăn. Đến khi khỏi bệnh, được bình phục như xưa, chúng ta mới thấy là mình đang "có phước"!
Thí dụ như trên một chuyến máy bay, một chuyến tàu thủy hay một chuyến xe lửa gặp tai nạn, hằng trăm người thương tích tử vong, những người được sống sót chính là những người "đại phước" vậy. Họ là những người theo đủ mọi tôn giáo, thuộc đủ mọi sắc dân, thuộc đủ mọi thành phần trong xã hội, gồm đủ mọi lứa tuổi, nhưng điểm quan trọng là: chính họ đã "tu nhơn tích phước" nhiều đời nhiều kiếp trước, mới được sống còn như vậy, chứ không phải do họ cầu nguyện van xin thánh thần thiên địa gì cả, dù là chí thành và khẩn thiết lắm, trong lúc ngộ nạn, mà được đâu! Chúng ta thử suy nghĩ: trong khi lâm nạn, người thì cầu Đức Mẹ cứu giúp, người thì cầu Bồ Tát Quán Âm cứu tai, cứu khổ, cứu nạn. Vậy, khi cả hai người cùng thoát được nạn, vị nào thực sự đã tế độ họ?
Thực sự chính "phước báo" của mỗi người đã cứu chính họ mà thôi. Người có "phước báo" nhiều hơn, thoát nạn một cách an ổn hơn. Người có "phước báo" ít hơn, thoát nạn với một chút sây sát. Người hết phước báo, không phước báo, thì đã vong mạng!
Thậm chí trong số những người tử vong trong các tai nạn, nhiều trường hợp có cả các chức sắc thuộc các tôn giáo, có cả những người đã từng đại diện thượng đế tha tội cho nhiều người khác! Còn chính họ có tội nghiệp, đến lúc phải trả, vẫn phải đền trả quả báo, nghiệp báo như mọi người khác vậy! Chúng ta đọc báo cũng thấy có những chuyến hành hương cầu nguyện của các tôn giáo, bị lật xe trên đường đi hoặc trên đường về, gặp nạn hỏa hoạn tại thánh địa, tại khu vực hành lễ, khiến cho hàng trăm người, hàng ngàn người tử vong thương tích. Điều này giúp cho chúng ta nhận định rất rõ ràng rằng: con người tạo nghiệp báo, dù vô tình hay cố ý, cho đến lúc quả báo chín muồi, lại không có phước báo che chở, thì cầu nguyện van xin cũng chẳng ích lợi gì, chẳng có hiệu quả gì.
Trong Kinh Pháp Cú, Đức Phật có dạy: "Dù lên non, xuống biển, vào hang, nghiệp báo vẫn theo con người như hình với bóng, không ai có thể tránh được".
Nghĩa là nếu như con người không biết tu nhơn tích phước, chỉ lo tạo tội tạo nghiệp, trong cuộc sống đấu tranh giành giựt hằng ngày, cho đến khi quả báo thuần thục, không ai có thể tránh được, dù cho người đó là bất cứ ai trong thế gian này, không phân biệt vua quan, chức quyền hay thường dân, giàu sang hay nghèo hèn, học thức hay bình dân, nam phụ lão ấu, tín đồ hay chức sắc!
Có ông Liêm Sứ ở Hồng Châu, đến hỏi Thiền sư Mã Tổ Đạo Nhất: Uống rượu ăn thịt là nên hay không nên? Mã Tổ Đạo Nhất đáp: Uống rượu ăn thịt là cái "lộc" của ngài. Không uống rượu ăn thịt là cái "phước" của ngài! Có phước mới hưởng lộc. Có phước mới trường thọ. Không phước sao được hưởng lộc, sao được trường thọ? Như vậy, chúng ta đã tạm hiểu thế nào là "có phước". Bây giờ chúng ta thử tìm hiểu vấn đề: trong cuộc sống hằng ngày, những phương cách nào, những pháp môn nào, những việc làm nào, những hành động nào, những lời nói nào, hay những ý nghĩ nào có thể tạo "phước báu", công năng và ích lợi của "phước báu" như thế nào?
1) Trước tiên là Bố Thí. Hạnh bố thí là nền tảng của tất cả các hạnh lành, là căn bản của việc thực hành giáo pháp, luôn luôn được đề cập đến trong Phật giáo. Bản chất của con người thế gian là luôn luôn muốn có, muốn thêm, muốn nữa, không bao giờ thấy đủ, không bao giờ thỏa mãn với những gì mình đang có. Cho nên, nếu được lên thiên đàng, nếu được về cõi tây phương, mà vẫn còn giữ lòng tham như vậy, gọi là "đới nghiệp vãng sanh", thì con người vẫn thấy khổ đau như hiện đời vậy thôi. Muốn được an lạc hạnh phúc hiện đời, ngay tại thế giới ta bà này, hãy vui thích với những gì mình đang có, bởi vì mình không thể có những gì mình thích. Mong cầu nhiều, mơ ước nhiều, chỉ thêm nhiều đau khổ mà thôi. Thực là đơn giản!
Đạo Phật dạy hạnh bố thí để giúp con người dẹp lòng tham lam ham muốn, ích kỷ hẹp hòi, gồm có tham tiền tài, tham sắc đẹp, tham danh vọng, ham ăn ham uống, ham ngủ ham nghỉ. Đạo Phật dạy hạnh bố thí để đem lại an lạc và hạnh phúc cho người đời. Tại sao vậy? Bởi vì với lòng tham ngũ dục: tài, sắc, danh, thực, thùy, nói trên, con người trên thế gian phải đấu tranh, giành giựt, phải dùng mọi thủ đoạn để thỏa mãn, bất chấp sự đau khổ của kẻ khác, bất chấp sự an nguy của chính bản thân, với bất cứ giá nào, cũng phải đoạt cho bằng được sự như ý! Không được thỏa mãn, con người dễ nổi lòng sân hận, thù đời ghét người, oán trời trách đất! Hạnh bố thí giúp con người hiểu được ít nhiều sự an lành thiết thực của người và của chính mình như thế nào. Cái gì mình tiêu xài thì đã qua mất rồi. Cái gì mình đang có, chưa chắc giữ được lâu dài, nhưng chắc chắn rằng sẽ để lại, khi qua đời. Chỉ có những gì mình đã bố thí, đã cho ra, mới thực sự là "của mình", mới thực sự là "phước báu", và sẽ đến với mình qua các dạng: bình yên may mắn, tai qua nạn khỏi, cầu gì được nấy, trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta.
Trong khi thực hành hạnh bố thí, chúng ta đừng nên thắc mắc: nếu mình quyên góp tiền bạc cho một người hay một tổ chức nào đó, để làm việc từ thiện, nhưng họ không làm đúng như lời họ nói, thậm chí họ còn lợi dụng lòng tốt của nhiều người để thủ lợi, làm việc sai trái, thì mình có được "phước báu" hay không? Tại sao vậy? Bởi vì khi chúng ta tự nguyện, phát tâm tùy hỷ, đóng góp tịnh tài cho một việc từ thiện, cứu người giúp đời, với tâm vị tha bất vị kỷ, vì người quên mình, vì muốn giúp người, không vì phước báu cho mình, thì chúng ta đã có "phước báu" ngay tại chỗ đó rồi, ngay từ lúc phát tâm tùy hỷ như vậy đó. Còn chuyện người đó, chùa đó, tổ chức đó, có làm đúng hay không, tội nghiệp họ tạo, quả báo họ sẽ tự nhận. Nhân nào quả nấy. Chúng ta không cần phải bận tâm!
Chúng ta cũng được hiểu thế nào là "phước điền" cao thượng nhứt, đó là những "ruộng phước" đem lại nhiều "phước báu" nhứt, khi hành động tạo phước của chúng ta hướng đến. Cũng ví như người nông dân hiểu biết đám ruộng nào phì nhiêu, trồng trọt sẽ cho năng suất cao nhứt. Phước điền cao thượng đó chính là bốn ơn nặng, hay tứ trọng ân, gồm có: ơn cha mẹ, ơn thầy bạn, ơn xã hội, ơn tam bảo. Hạnh bố thí dù là tài thí, pháp thí hay vô úy thí, đều đem lại "phước báu" vô lượng vô biên, nếu như mình làm hạnh bố thí với thiện tâm, trực tâm và bồ đề tâm. Nghĩa là tạo được bao nhiêu "phước báu" do hạnh bố thí, chúng ta đều nên phát tâm "hồi hướng" cho toàn thể chúng sanh trong pháp giới đồng thọ hưởng. Có như thế, quả báo phước đức sau này, còn gọi là phước báo, mới thực sự to lớn. Tại sao vậy? Bởi vì không giữ riêng cho mình, dù là "phước báu" do chính mình tạo nên, có nghĩa là mình đã diệt được lòng tham. Khi lòng tham đã diệt được, sự giải thoát mới hoàn toàn, phước báo mới vô lượng vô biên vậy.
2) Thứ hai là Trì Giới. Trì giới là nghiêm chỉnh ăn ở theo đúng giới luật của Phật Tử, dù là cư sĩ tại gia, hay tu sĩ xuất gia. Nhờ đó, trong cuộc sống, chúng ta không làm tổn nhơn, hại vật, trong khi tạo ích lợi cho mình. Đó là cách tạo "phước báu" vô cùng vô tận, không thể nghĩ bàn. Thí dụ như chúng ta trì giới không nói dối, không nói lời xuyên tạc, thêm bớt, vu cáo, để buộc tội, vu oan cho kẻ khác phải chịu nhiều đau khổ, cho thỏa mãn lòng căm tức của chúng ta đối với người đó, dù cho đó là kẻ thù, hay kẻ mình không ưa cũng vậy. Thí dụ như người tu sĩ Phật giáo cố gắng giữ gìn giới hạnh trong sạch, cuộc sống thanh tịnh, chăm lo tu học, không tham gia hoạt động thế sự, không lo chuyện thế gian, không ham danh văn sĩ, thi sĩ, tiến sĩ gì gì đó với đời, thì vị tu sĩ đó đem lại biết bao nhiêu "phước báu" cho chính bản thân, cho đồng bào Phật Tử và cho đạo pháp.
Được như vậy, không cần đợi đến kiếp mai sau, mà ngay hiện tại, trên cuộc đời này, ở tại nơi đây, trong kiếp sống này, chúng ta có thể thọ hưởng "phước báu" của một nếp sống giới hạnh. Lợi ích của giới đức phát sanh ngay trong hiện tại. Hiện tại rất quan trọng đối với người biết sống trong tỉnh thức, biết quán sát nội tâm, biết giữ gìn giới hạnh. Quá khứ đã trôi qua, nhớ nhung tiếc nuối chỉ phí phạm thời giờ, chẳng những điên rồ, mà đôi khi còn tạo nghiệp xấu, vì những chuyện tức giận, thù hận đã qua. Trong khi đó, tương lai chỉ là viễn ảnh mơ hồ, không có gì cố định, không có gì chắc chắn. Người nào hẹn đến khi có tuổi rồi, mới cạo đầu vào chùa bắt đầu tu, cũng là người đang sống trong mơ, đang trong cơn mê. Tại sao vậy? Bởi vì có ai biết được chắc chắn mình sống đến bao lâu? Trong khi đó, chúng ta có thể tạo "phước báu" bằng cách tu tâm dưỡng tánh, ngay hiện tại, trong cuộc sống hằng ngày, đừng đợi đến ngày nào cả. Tu tâm dưỡng tánh được ngày nào, chúng ta hưởng "phước báu" ngay ngày đó, thì tại sao phải hẹn? Vã lại tu tâm dường tánh đâu phải là việc dành riêng cho các tu sĩ, hoặc đâu phải cạo đầu vào chùa mới gọi là tu! Các bậc tôn túc thường nhắc nhở chúng ta: "tu mau kẻo trễ" và "tu trong mọi hoàn cảnh", chính là nghĩa đó vậy.
Chẳng hạn như trước đây, chúng ta thích bàn chuyện thị phi, phải quấy, tốt xấu, thích xen vào chuyện của thiên hạ thế nhân, cho nên lắm khi gặp rắc rối, tranh cãi, đôi co, mích lòng, có khi dẫn tới chuyện kiện tụng lôi thôi. Bây giờ chúng ta hiểu được giáo lý đạo Phật, biết rằng tu tâm dưỡng tánh đem lại nhiều "phước báu" hiện đời, có thể thực hành trong mọi hoàn cảnh, chúng ta quyết tâm dừng ngay, chừa bỏ tất cả, thì cuộc sống sẽ an lạc và hạnh phúc, không còn phiền não và khổ đau nữa. Giới luật ví như hai đường sắt của một tuyến xe lửa. Chiếc xe lửa nào, chạy đúng đường sắt, sẽ chạy ngon lành, đến nơi đến chốn, bình yên vô sự. Chiếc nào mà chạy, trật khỏi đường rầy, tức nhiên lật gọng, tai nạn thê thảm. Cũng vậy, những người Phật Tử, dù tại gia cư sĩ, hay xuất gia tu sĩ, trì giới thanh tịnh, sẽ tu tinh tiến, kết quả rõ ràng, bớt chuyện phiền não, giảm thiểu khổ đau, chóng được niết bàn, an lạc hạnh phúc, ngay tại hiện đời.
3) Thứ ba là nhẫn nhịn. Có người quan niệm: nhịn thì nhục, cự thì đục. Họ cho rằng nếu nhịn được đằng chân, chúng sẽ lân đằng đầu, được nước lần này chúng sẽ làm tới lần sau, nhịn hoài chúng sẽ cho là mình ngu, cho là mình hèn, làm sao nhịn nổi, tại sao phải nhịn chứ? Chính quan niệm như vậy khiến cho cuộc đời luôn luôn đầy dẫy những tranh chấp, cãi vã, hơn thua, kiện tụng, đấu tranh, cho nên thường dẫn đến phiền não và khổ đau. Thực ra, chính vì con người không thể thực hành được "hạnh nhẫn nhịn" cho nên mới có quan niệm như trên. Người ta mắng mình một tiếng, mình trả một miếng, có khi nhiều hơn, thì dễ dàng quá. Người ta hành động, không tốt với mình, mình liền trả đũa, hết sức nặng nề, cho thiệt hả giận, cho thực đã nư, thì dễ dàng quá. Nhưng còn tiếp theo, sau đó thì sao? Câu chuyện như vậy, biết đến bao giờ, mới được chấm dứt, và dứt thế nào? Người ta lỡ lầm, vi phạm tội ác, mình đòi trừng phạt, cho thiệt xứng đáng, phanh thây xẻ thịt, treo cổ bắn bỏ, đày xuống địa ngục, bỏ tù rục xương, rủa xả chửi mắng, tưng bừng tơi tả, thì hãy thử nghĩ: ai ác hơn ai?
Có những người trên thế gian này xin ân xá cho kẻ phạm tội đã giết người thân của mình, bởi vì những người đó đã biết cảnh mất người thân, đau khổ như thế nào, nên không muốn gia đình phạm nhân lâm vào cảnh ngộ bi thương đó. Chúng ta đọc báo thấy thực sự có những người như vậy, nhưng rất hiếm hoi!
Trong Kinh Pháp Cú, Đức Phật có dạy:
Lấy oán báo oán, oán nghiệp chập chùng.
Lấy ơn báo oán, oán nghiệp tiêu tan.
Người ta mắng mình một tiếng, nếu mình nhịn được, không trả một miếng, mới thực là khó. Người ta hành động, không tốt với mình, mình không hành động, giống y như vậy, mới thực là khó. Hơn nữa, nếu người ta gặp, khó khăn hoạn nạn, mình sẵn sàng giúp, thực tâm thực tình, hết lòng hết dạ, lại càng khó hơn. Làm được như vậy, mọi chuyện bình yên, tiếp theo sau đó. Câu chuyện thù oán, chắc chắn chấm dứt, một cách êm đẹp, nhẹ nhàng dễ dàng.
Trong Kinh Pháp Cú, Đức Phật có dạy:
Thắng vạn quân không bằng tự thắng mình.
Tự thắng mình là điều cao quí nhứt.
Nghĩa là tự kềm chế bản thân, tự kềm chế hành động, tự kềm chế ngôn ngữ, tự kềm chế ý nghĩ của chính mình, mới thực là khó. Con người thường bị tâm tham lam, tâm sân hận và tâm si mê sai khiến, điều khiển, cho nên cuộc đời mới gặp nhiều phiền não và khổ đau. Khi tâm tham khởi lên, khi tâm sân khởi lên, khi tâm si khởi lên, người nào tỉnh thức, tự kềm chế được, tự hóa giải được, thì cuộc sống sẽ an lạc hạnh phúc. Chiến thắng được tâm tham lam, sân hận, si mê của chính mình, mới thực sự gọi là "có phước", mới thực sự đem lại an lạc và hạnh phúc cho cuộc đời mình. Cho nên cổ nhân có dạy: "Một sự nhịn chín sự lành", chính là nghĩa đó vậy.
Khi chiến thắng được tâm tham chẳng hạn, không đi ăn trộm, không chôm chỉa đồ, không gạt gẫm người, con người khỏi gặp rắc rối với pháp luật. Khi chiến thắng được tâm sân chẳng hạn, không chửi mắng đánh đập, không trả thù người khác, không thưa gửi kiện tụng, không gây thêm phiền não, không tạo thêm kẻ thù, không tăng thêm nghiệp báo, không chuốc thêm oán hờn, không làm chuyện càn dỡ, con người được thoải mái bình yên. Khi chiến thắng được tâm si chẳng hạn, không mê tín dị đoan, không uống nước sông suối, chẳng có chút vệ sinh, lại cho là nước thánh, không tin chuyện huyễn hoặc, không tin thiên linh chuỗi, chẳng có căn cứ, con người được bình tĩnh, tâm trí sáng suốt. Nhờ đó, con người sẽ ăn được ngon, ngủ được yên. Sách có câu: "Ăn được ngủ được là tiên". Đó là "phước báu" do chính mình tạo nên, không do trời ban, không do cầu nguyện.
4) Thứ tư là Tinh tấn. Tinh tấn nghĩa là siêng năng, cần mẫn tu tâm dưỡng tánh trong mọi hoàn cảnh, trong mọi động tác, đi, đứng, nằm, ngồi, để ngăn chận ba nghiệp, không tạo thêm tội lỗi, nghiệp báo mới. Không phải đợi đến lúc quỳ trước bàn Phật, hay đi đến chùa, hoặc dự các khóa tĩnh tâm, mới gọi là tu! Tu như vậy ít quá, một tháng mới có một khóa tu, một tuần mới đến chùa một lần, một ngày niệm hương trước bàn thờ, hay ngồi thiền, chừng một tiếng đồng hồ, 23 tiếng còn lại, tha hồ để tâm trí dong ruổi theo những ý nghĩ tạp nhạp, thương người này, ghét người khác, thị phi phải quấy, tâm trí bất định. Đến khi nghịch cảnh xảy đến, tai nạn giáng xuống, không đủ năng lực để đối phó, tâm trí của chúng ta sẽ xáo trộn, bất an, đương nhiên dẫn đến khổ đau và than trời trách đất. Sách có câu: "Mấy người lòng dạ tinh ma. Đã làm phải chịu, kêu mà ai thương", chính là nghĩa đó vậy.
Chúng ta tinh tấn làm tất cả các điều thiện, dù lớn dù nhỏ, cứu người giúp đời, làm cho cuộc sống của chính mình và của những người chung quanh, có ý nghĩa hơn, an lạc hơn và hạnh phúc hơn. Chúng ta tinh tấn diệt trừ những tạp niệm vọng tưởng, thường xúi giục chúng ta tạo thêm nghiệp báo xấu, để cho chính mình và những người chung quanh bớt lo âu, phiền muộn vì những hành động sai khiến bởi tâm tham, tâm sân và tâm si của mình. Chúng ta thử nghĩ: thực hành hạnh tinh tấn như vậy, có phải chúng ta được vô lượng vô biên "phước báu" chăng? Và nhờ hạnh tinh tấn, chúng ta không nản lòng trên đường tu tập các hạnh lành, dù gặp biết bao nhiêu nghịch cảnh trở ngại. Cho nên trong đạo Phật, hạnh tinh tấn được tượng trưng bởi Bồ Tát Đại Lực Đại Thế Chí, là vị Bồ Tát có năng lực tinh tấn lớn lao, có ý chí siêu xuất thế gian, dũng mãnh tiến bước không lui, trước mọi nghịch cảnh, trước mọi nghiệp chướng.
5) Thứ năm là Thiền Định. Thiền định nghĩa là trau giồi tâm tánh cho được tự tại, cho được bình tĩnh thản nhiên, trước mọi hoàn cảnh của cuộc sống. Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta thường gặp những bước thăng trầm, những sóng gió của cuộc đời, chẳng hạn như lúc thịnh lúc suy, lúc được danh dự lúc bị hủy báng, lúc được khen tặng lúc bị chỉ trích, lúc được sung sướng lúc bị khổ đau. Trong kinh sách gọi đó là "bát phong", thường làm cho tâm trí của chúng ta bị bất an, chao đảo, dao động, xao xuyến, xáo trộn.
Cho nên đạo Phật dạy nhiều phương pháp để hàng phục và an trụ tâm, tùy theo căn cơ, trình độ, hoàn cảnh, sở thích, tâm nguyện của mỗi người, gọi là vô lượng pháp môn. Chẳng hạn như pháp môn tịnh độ dạy chúng ta tụng kinh, niệm Phật để định tâm. Khi chúng ta tụng kinh, thân ngồi ngay ngắn, nghiêm trang, miệng đọc lời Phật dạy trong kinh, tâm chú ý vào lời kinh và tiếng chuông mõ, nên không còn nghĩ ngợi linh tinh lang tang, tư tưởng không còn chạy lung tung nữa. Như vậy có nghĩa là tam nghiệp, gồm thân khẩu ý của chúng ta, đều được thanh tịnh.
Kinh sách có câu:
Tam nghiệp hằng thanh tịnh.
Đồng Phật vãng tây phương.
Nghĩa là khi ba nghiệp của chúng ta luôn luôn thanh tịnh, không còn tạo nghiệp nữa, thì "phước báu" vô lượng vô biên, chúng ta cùng chư Phật sống trong cõi tịnh độ tây phương. Hoặc khi tâm trạng bị hoang mang, lo lắng, sợ sệt, xôn xao, chúng ta dùng câu niệm Phật để định tâm, để trấn áp những tâm trạng bất an vừa kể.
Ở đây, cần biết thêm rằng không phải chúng ta tụng kinh để cho Đức Phật nghe! Cũng không phải chúng ta niệm Phật để cho Đức Phật tính sổ, coi chúng ta niệm được bao nhiêu câu, cộng được bao nhiêu chuỗi mỗi ngày! Kinh điển ghi lại lời dạy của Đức Phật cốt để hướng dẫn chúng ta tu tâm dưỡng tánh, điều trị tâm bệnh của chúng sanh, ví như toa thuốc của bác sĩ để điều trị thân bệnh, chứ không phải để đọc đi, đọc lại, tụng cho bác sĩ nghe!
Mục đích chúng ta tụng kinh, niệm Phật là để hàng phục và an trụ tâm, chuyển hóa từ kẻ phàm phu tục tử, trầm luân đau khổ, thành người trí tuệ, giác ngộ giải thoát. Hàng phục và an trụ được tâm, chúng ta mới có được cuộc sống phước báu, an lạc và hạnh phúc.
Cũng với mục đích hàng phục và an trụ được tâm, thiền tông dạy chúng ta "tứ oai nghi thiền". Nghĩa là trong bốn oai nghi, gồm có: đi, đứng, nằm, ngồi, trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta luôn luôn giữ gìn tâm được chánh niệm, không loạn tưởng, không tạp niệm, như vậy sẽ được chánh định. Cho nên mỗi khi tạp niệm, vọng tưởng khởi lên, chúng ta liền biết ngay và dừng lại, không bị luồng tư tưởng lăng xăng lộn xộn đó dẫn đi. Thí dụ như khi đang ngồi chơi, bỗng dưng chúng ta nhớ tới chuyện thù oán năm xưa, tâm trí liền xao xuyến với ý nghĩ trả thù phục hận! Nếu chúng ta không thức tỉnh dừng lại ngay, thì luồng tư tưởng này sẽ tiếp tục dẫn chúng ta đi tới ý nghĩ tìm cách nào để trả thù, cho đáng đời kẻ đã hại mình, đã thưa gửi mình ra tòa, đã vu oan giá họa cho mình, đã cáo gian mình, và hậu quả là chúng ta tạo thêm nghiệp báo! Cuộc đời chắc chắn sẽ gặp nhiều khổ đau! Tây phương có câu: "Do not mess up your beautiful life!", chính là nghĩa đó vậy.
Trong Kinh Kim Cang, Đức Phật có dạy:
Quá khứ tâm bất khả đắc.
Hiện tại tâm bất khả đắc.
Vị lai tâm bất khả đắc.
Nghĩa là: Chuyện quá khứ qua rồi đừng luyến tiếc, đừng nhớ nghĩ làm gì cho bận tâm, chỉ gieo thêm nghiệp chướng chứ chẳng ích lợi gì. Chuyện hiện tại rồi cũng qua mau, cố níu kéo cũng chẳng được, có lo âu phiền muộn cũng chẳng ích lợi gì. Chuyện tương lai chưa đến, lo lắng, ưu tư, sầu muộn cũng chẳng giúp ích được gì. Chi bằng chúng ta giữ gìn tâm trí được như như, bình tĩnh, thản nhiên, có phải khỏe hơn không? Chuyện gì phải tới nó sẽ tới, lo sợ cũng chẳng ngăn cản được đâu. Tốt nhứt chúng ta đừng tạo thêm tội nghiệp mới, thì khỏi phải lo sợ quả báo, tội báo, nghiệp báo sẽ đến!
Trong Kinh Pháp Cú, Đức Phật có dạy:
Lấy oán báo oán, oán nghiệp chập chùng.
Lấy ơn báo oán, oán nghiệp tiêu tan.
Nghĩa là chuyện oán thù trong quá khứ chỉ nên cởi mở, không nên kết chặt thêm. Thí dụ như trong gia đình trước kia có chuyện bất hòa, tranh chấp, chúng ta bèn bỏ nhà đi xa. Khi có dịp trở về quê hương viếng thăm, chúng ta mang theo quà cáp với tấm lòng từ bi hỷ xả, một trời thương nhớ, quên hết chuyện không vui trong quá khứ, tức nhiên mọi chuyện sẽ trở nên êm đẹp vui vẻ. Tâm trí của chúng ta sẽ an lạc hơn, cuộc đời sẽ hạnh phúc hơn.
Ở đây, cần biết thêm rằng thiền tông không dạy tọa thiền như con cóc, từ giờ này sang giờ khác, chẳng hiểu mục đích để làm gì, ngoài chuyện đem khoe khắp nơi khắp chốn? Chính thiền tông dạy chúng ta ngồi thiền để "chăn trâu", để thúc liễm thân tâm, tức là dẹp trừ tạp niệm và vọng tưởng, với mục đích hàng phục và an trụ tâm. Hơn thế nữa, không phải chỉ có lúc ngồi thiền mới dẹp trừ tạp niệm và vọng tưởng mà thôi. Trong đời sống hằng ngày, lúc tiếp xúc với ngoại cảnh, lúc thấy hình sắc, lúc nghe âm thanh, lúc ngửi mùi, lúc nếm vị, lúc xúc chạm, chúng ta luôn luôn giữ gìn tâm trí được bình tĩnh thản nhiên, không xao xuyến, không loạn động. Nếu trong tâm "lỡ" nổi loạn, tạp niệm khởi lên, chúng ta liền biết ngay và dừng lại kịp thời, thì đó chính là thiền định vậy.
Tổ Điều Ngự Giác Hoàng, tức là Hoàng Đế Trần Nhân Tôn nhường ngôi, đi tu, trở thành Sơ Tổ Thiền Phái Trúc Lâm, có dạy rằng:
Cư trần lạc đạo thả tùy duyên
Cơ tắc xan hề khốn tắc miên
Gia trung hữu bảo hưu tầm mích
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.
Nghĩa là dù sống trên trần đời, muốn được vui theo đạo lý, hãy đừng chấp chặt, tùy duyên hành sự, tùy hoàn cảnh mà ứng xử. Chẳng hạn như đói đến thì ăn, mệt ngủ khò. Chẳng có gì đòi hỏi, chẳng có gì buồn lo, chẳng có gì bận tâm, chẳng có gì ưu phiền. Trong mỗi con người chúng ta, ai ai cũng có "của báu", đó chính là "con người chân thật" của chúng ta. Cho nên chẳng cần chạy vào chùa, hay lên non lên núi, tìm kiếm làm gì cho mất công, nhọc sức vô ích. Trong cuộc sống hiện nay, đối với các cảnh trần đời, chúng ta đừng khởi vọng tâm lăng xăng lộn xộn, thương thương ghét ghét, phải quấy thị phi, tranh đua hơn thua. Lúc đó, chính là lúc chúng ta đạt được thiền định, hiểu được và sống được với "con người chân thật" của chính mình. Đó chính là mục đích cứu kính của đạo Phật vậy.
6) Thứ sáu là Trí tuệ. Trí tuệ trong đạo Phật, kinh sách gọi là trí tuệ bát nhã, không phải sự hiểu biết, kiến thức, trí thức của thế gian. Ở thế gian, người trí thức là người học cao hiểu rộng, có bằng cấp các ngành, nhưng vẫn sống trong trong sanh tử luân hồi, thường gặp phiền não khổ đau. Trí tuệ trong đạo Phật là sự nhận thức sáng suốt, đưa con người đến chỗ giác ngộ và giải thoát, được an lạc và hạnh phúc. Người có trí tuệ là người có chánh kiến, nghĩa là người thấy muôn pháp, biết muôn việc "đúng như thực", không mê lầm điên đảo, không mê tín dị đoan, không nhận giả làm chân, không chấp chặt thành kiến. Chẳng hạn như khi thấy việc gì xảy đến cho mình hay cho người, chúng ta biết ngay rằng: đó là kết quả hay hậu quả của một việc hay nhiều việc đã làm trước đây. Không bao giờ tự nhiên có khói, mà không do lửa phát sanh. Không bao giờ tự nhiên có sóng, trong khi gió lặng yên. Không bao giờ tự nhiên có cái cây mọc lên, mà không có hạt giống trong đất trước đó. Nhờ đó, chúng ta không ngạc nhiên, khi có chuyện may mắn đến, cũng như không đau khổ, khi có chuyện xui xẻo xảy ra.
Trong Kinh Hoa Nghiêm, Đức Phật có dạy:
Chư pháp tùng nhân duyên sanh.
Chư pháp tùng nhân duyên diệt.
Nghĩa là mọi việc muôn sự trên thế gian này, trong kinh sách gọi là chư pháp, tùy theo nhân duyên mà sanh ra, cũng tùy theo nhân duyên mà diệt đi. Không có việc gì sanh diệt mà không có nguyên nhân. Không có cái gì, vật gì, việc gì tự nhiên xảy ra, tự nhiên sanh ra, tự nhiên xuất hiện. Không có cái gì, vật gì, việc gì tự nhiên biến mất, tự nhiên diệt đi, tự nhiên không còn nữa. Chẳng hạn như khi thấy một tòa nhà sụp đổ, một tình bạn kết thúc, chúng ta hiểu ngay phải có nguyên nhân và cũng hiểu rằng không có chuyện gì trên đời tồn tại vĩnh viễn. Nhờ đó, chúng ta có thể giữ gìn được tâm trí bình tĩnh thản nhiên, khi mọi chuyện tang thương biến đổi xảy ra trong cuộc đời.
Không có cái gì, vật gì, việc gì do ông trời, do thượng đế sanh ra cả. Chẳng hạn như một cơn mưa do hội đủ nhân duyên mà có, chứ làm gì có ông thần mưa, ông thần gió, ông thần sấm, ông thần sét, ông thần sông, ông hà bá, như người xưa tin tưởng, khi khoa học chưa phát triển. Bây giờ con người còn có khả năng làm mưa nhân tạo, ở bất cứ nơi nào, bất cứ lúc nào. Tại sao thượng đế làm ra cuồng phong, bão tố, lũ lụt, động đất, để giết hại con người? Thượng đế vẫn còn nổi cơn thịnh nộ, nổi cơn sân hận, để giáng họa trừng phạt con người ngoan cố, không nghe theo, không làm theo, như vậy có khác gì những kẻ phàm phu tục tử ở trên đời này, hay nổi sân hận, khi gặp chuyện không vừa ý?
Nếu chỉ đọc giáo lý của đạo Phật và chỉ biết Phật giáo qua lý thuyết, ắt là không đủ. Không học hiểu giáo lý, không thực sự biết Phật giáo như thế nào, chỉ nhắm mắt làm theo những tập tục cổ truyền một cách máy móc, tức nhiên là sai lầm và thiếu sót nặng nề. Học mà không hành thì khác nào cái đãy sách, cái tủ sách, cái tàng kinh các. Hành mà không học hiểu, khác nào người đi trong đêm tối, không có đèn đuốc, đụng đầu lọt hố, bất cứ lúc nào! Trọng Phật tin Phật mà không nghe Pháp học Pháp, như vậy chưa phải là đệ tử chơn chánh của Đức Phật. Vì không nghe Pháp học Pháp, làm sao thực hành đúng theo lời Phật dạy được? Do đó, con người sống mãi trong vô minh, mờ mịt u tối, si mê lầm lạc, bao giờ mới giác ngộ và giải thoát được, bao giờ mới hết phiền não giảm khổ đau được?
Chư Tổ có dạy: Tu mà không học là tu mù. Học mà không tu là đãy sách, chính là nghĩa đó vậy.
Chúng ta cần phải phát tâm học Phật Pháp, nếu muốn có được trí tuệ "đúng như thực", còn gọi là "trí tuệ bát nhã". Đó chính là "phước báu" tối thượng. Người có trí tuệ bát nhã, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách. Nghĩa là con người muốn được tự tại, muốn không sợ hãi, muốn qua mọi khổ ách, thì phải có trí tuệ bát nhã, thấy tất cả các pháp đều không thực, không tồn tại vĩnh viễn, không cố định. Cái thân ngũ uẩn của chúng ta cũng là một trong các pháp trên thế gian, cho nên cũng sẽ biến hoại sau một thời gian tại thế, không có gì đáng luyến tiếc, than thở, khổ đau. Chỉ có "con người chân thật không sanh diệt" mới là cứu kính mà thôi. Đó là những lời dạy vô cùng quí báu của Đức Phật, đó là bản đồ hướng dẫn chúng ta đạt được cuộc sống an lạc và hạnh phúc, tiến đến chỗ giải thoát và giác ngộ.
Tóm lại, trong cuộc sống hằng ngày, có rất nhiều cơ hội, có rất nhiều cách, có rất nhiều phương pháp, để cho con người làm phước, tạo phước, kiếm phước. Dù là phước hữu lậu hay vô lậu, đều có công năng giúp con người có cuộc sống bình yên, ít đau khổ, bớt phiền não, để tiến tới chỗ giải thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi. Phước hữu lậu do những việc làm tạo sự an vui thoải mái, có ích lợi cho người, giúp đỡ người lúc gặp khó khăn về vật chất hay tinh thần. Phước hữu lậu có công năng đem lại sự may mắn, tai qua nạn khỏi, chuyện lớn hóa nhỏ, chuyện nhỏ hóa không, bớt oan trái, giảm nghiệp báo. Người làm phước với ước mong được hưởng phước về sau, đó là phước hữu lậu, còn trong vòng sanh tử luân hồi.
Phước vô lậu do những việc làm có ích lợi cho người, nhưng đồng thời cũng chuyển hóa được con người chính mình, thí dụ như bố thí cúng dường, tụng kinh niệm Phật, tư duy thiền quán, tu tâm dưỡng tánh. Người làm phước với tâm từ bi hỷ xả, không cầu mong được hưởng phước về sau, chỉ cố gắng tu học để tiến dần đến chỗ giác ngộ và giải thoát, đó là phước vô lậu, vượt khỏi vòng sanh tử luân hồi. Trong lúc thực hiện hành động tạo phước, không nghĩ rằng mình đang làm phước, giúp đỡ người khác vì tình thương, do lòng tốt tự nhiên, với tâm bất vụ lợi, vì người quên mình, đó là hành động tạo phước cao thượng nhứt, đem lại "phước báu" vô lượng vô biên, không thể nghĩ bàn.
Phước hữu lậu ví như tiền tiết kiệm, có khả năng giúp con người giàu sang, sung sướng, may mắn, bình yên. Hưởng phước này có ngày cũng cạn, cũng dứt. Khi đó, con người sẽ phải đền trả những nghiệp báo trước kia. Chúng ta đã từng thấy các ông vua, các bà hoàng, các hoàng tử, các công chúa, các nhà giàu có trưởng giả, thế lực quyền quí, cao sang danh vọng, các lãnh tụ chính trị, các lãnh tụ tôn giáo, khi hưởng hết phước báo hữu lậu, họ phải chịu nhiều tai nạn, khổ ách, tán gia bại sản, thân bại danh liệt, thậm chí có thể mất mạng thê thảm, không chỗ chôn thân!
Trong Kinh A Hàm, Đức Phật có dạy:
"Con người khi đang hưởng phước báo, cũng như mũi tên bắn lên không trung. Mũi tên bay lên rất nhanh, rất mạnh, cũng như con người gặp mọi sự may mắn, tốt đẹp, như ý. Đến khi phước báo hết, con người bắt đầu đền trả nghiệp báo, cũng như mũi tên hết trớn thì rơi xuống đất cũng nhanh như vậy", chính là nghĩa phước hữu lậu đó vậy.
Bởi vậy cho nên, Đức Phật dạy chúng ta khi làm phước, đừng mong cầu hưởng phước báo, mà nên nguyện được phước duyên, đời đời gặp Chánh Pháp, gặp thầy lành bạn tốt, giúp đỡ tu tập, cho đến ngày giác ngộ và giải thoát, mà thôi.
Điều dĩ nhiên ai ai cũng có thể hiểu được là: tất cả những hành động nào, những lời nói nào, những ý nghĩ nào, ngược lại với việc tạo "phước báu", chính là hành động, lời nói, ý nghĩ, tạo tội lỗi, tạo nghiệp báo xấu vậy! Tội lỗi là do hành động, lời nói hay ý nghĩ làm cho mình, cho người khác đau khổ trong hiện tại và vị lai, dù vô tình hay cố ý.
Trong Kinh A Hàm, Đức Phật có dạy: "Chỉ có phước báo mới có thể giảm thiểu nghiệp báo mà thôi".
Con người tạo tội nghiệp từ trước, đến lúc phải đền trả quả báo, nhẹ thì bị chửi mắng, đau yếu, nặng thì gặp tai nạn, thậm chí mất mạng. Tội nghiệp do con người tạo tác, sanh ra tội báo nghiệp báo, được ví như một nắm muối. Nếu phải bị nuốt nắm muối đó, thì con người sẽ đau khổ biết là dường nào. Nhưng nếu có thể bỏ nắm muối đó vào trong một tô nước rồi uống, thì có lẽ sẽ dễ chịu hơn một chút. Nếu có thể bỏ nắm muối đó vào trong một lu nước rồi uống, thì chắc sẽ dễ chịu hơn một chút nữa. Nếu bỏ nắm muối đó vào trong một hồ nước lớn, rồi từ từ uống, thì chuyện sẽ không còn thành vấn đề. Tô nước, lu nước, hồ nước tượng trưng cho "phước báu", do chính chúng ta tạo được ít hay nhiều, sẽ giúp chúng ta tai qua nạn khỏi, chịu đựng được quả báo, do tội nghiệp đã tạo trước đây. Chuyện lớn sẽ hóa nhỏ, chuyện nhỏ sẽ hóa không, chuyện khó sẽ hóa dễ. Chứ không phải chúng ta tạo tội nghiệp đầy dẫy trong cuộc đời, gây đau khổ cho không biết bao nhiêu người thân kẻ thù, dù cho nhân danh công lý lẽ phải, trả thù báo oán, gì gì đi nữa, rồi đến lúc giựt mình thức tỉnh, bèn đem tất cả tội lỗi đã tạo, giao cho Trời Phật gánh giùm, chịu tội thế cho mình, bằng cách đi chùa cúng kiến, đi nhà thờ xưng tội, "thì mà là" tất cả tội lỗi đó tiêu tan hết đâu? Con người thường có thói quen "quịt nợ", cho nên mới có ý nghĩ như vậy!
Luật nhân quả không bao giờ sai chạy, dù cho con người tu hành đắc thánh quả, vẫn phải chịu quả báo do những tội nghiệp đã gây nên, từ nhiều đời nhiều kiếp trước kia. "Chỉ có phước báo mới có thể giảm thiểu nghiệp báo mà thôi". Chúng ta nên ghi nhớ lời Đức Phật đã dạy. Đọc lịch sử, chúng ta cũng đã nhận thấy, ngay cuộc đời của Đức Phật, cũng như các vị giáo chủ khác, vẫn bị người đời gièm pha, vu khống, mạ lỵ, chửi bới, ám sát, xét xử, giam cầm, giết hại. Nếu là bậc "phước tuệ lưỡng toàn" như Đức Phật, nghĩa là phước báu và trí tuệ đầy đủ, thì mọi chuyện trở ngại trên thế gian này rồi cũng qua, cuộc đời kết thúc một cách êm đềm, bình an, tự tại. Nếu không có đủ phước báo thì, dù là bất cứ ai, cũng sẽ bị xử chết một cách thê thảm!
Khi Đức Phật còn tại thế, có người ngoại đạo đến hỏi Đức Phật: Ngài có kinh điển nào đem đọc tụng, có thể giúp cho đệ tử của Ngài vãng sanh niết bàn được không? Đức Phật trả lời rõ ràng: KHÔNG! Tại sao vậy? Bởi vì con người hiền thiện, biết tu tâm dưỡng tánh khi còn sinh thời, tâm tư thanh thản, nhẹ nhàng, thì nhứt định kiếp sau sẽ sinh ở cõi lành. Con người hung ác, luôn luôn làm việc lợi mình hại người, bất chấp thủ đoạn, bất kể sự phiền não khổ đau của tất cả mọi người, thì nhứt định kiếp sau sẽ sinh vào tam đồ ác đạo, gồm có: địa ngục, ngạ quỉ và súc sinh. Thí dụ như dầu nhẹ hơn nước thì nổi trên mặt nước, đá nặng hơn nước thì chìm dưới đáy nước, không nghi ngờ gì cả, không thể nào khác hơn được. Đó là chân lý công bằng tuyệt đối vậy.
Cuối cùng, vấn đề sau hết là sự khác nhau giữa "phước báu" và "phước báo". Phước báu là từ ngữ chỉ những hành động, lời nói và ý nghĩ, thiện lành quí báu, tạo phước trong hiện tại, ví như chúng ta làm việc, kiếm tiền sinh sống, có dư dả thì để dành về sau. Phước báo là từ ngữ chỉ kết quả, còn gọi là quả báo lành, quả báo phước đức, do những hành động, lời nói, hay ý nghĩ thiện lành, từ nhiều đời trước cũng như đời này, đến với chúng ta qua các dạng: thới hên, may mắn, bình yên, an ổn, đẹp đẽ, vui vẻ, khỏe mạnh, hạnh phúc, giàu sang, sung sướng, nhàn nhã, trường thọ, trong cuộc đời hiện tại, ví như tiền tiết kiệm chúng ta dành dụm được từ trước đến nay, bây giờ đem ra xử dụng khi cần thiết.
|
|
|
| Âm Luật Vô Tình |
|
Đăng bởi: lyquochoang - 05-29-2013, 01:41 AM - Diễn đàn: Tôn giáo & Tâm linh
- Không có trả lời
|
 |
TRÁNH XA TÀ DÂM, GẶP MAY HẾT XUI.
ÂM LUẬT VÔ TÌNH.
Thượng Quan Ngọc Hoa trước tác.
Lời Tựa.
A Di Đà Phật ! chào đại chúng !
Nguyện thế giới hòa bình,chiến tranh chấm dứt !
Nguyện hư không pháp giới tất cả hữu tình vui vẻ hạnh phúc,bình yên an lành !
Nguyện pháp giới tất cả hữu tình giải thoát sanh tử,xuất ly tam giới,lìa khổ được vui !
Nguyện pháp giới tất cả hữu tình lắng nghe chánh pháp,nghiêm trì giới luật thanh tịnh !
Nguyện trái đất của chúng ta,từ trường sớm ngày hồi phục như thuở ban đầu sơ kiếp,quân bình và hài hòa.Nguyện tất cả hữu tình chúng sanh có duyên gặp quyển sách này có thể nói lại cho người thân bạn bè của mình,quí trọng thân người khó được do quá khứ đã giữ gìn ngũ giới,cố gắng tu hành,lợi dụng thân người ngũ quan đầy đủ này tiếp tục giữ gìn giới luật thanh tịnh,nâng cao ánh sáng tự tánh bên trong chúng ta,sớm ngày đạt được giải thoát qua bờ bên kia !
Để linh tánh của chúng ta bước về ánh sáng,nếu tất cả hữu tình linh tánh đều trong sáng thì sẽ đem lại sự quân bình cho đại tự nhiên vũ trụ,chúng ta sẽ không phải chịu quá nhiều đại cộng nghiệp thiên tai.Do đó có thể nói vì toàn vũ trụ mà chúng ta cần làm tốt bản thân mình trước,chúng ta chính là tiểu vũ trụ;tiểu vũ trụ thông đại vũ trụ,một tức tất cả,tất cả tức một,mọi người không phân biệt ta người,tất cả đều liên quan mật thiết.Đừng nghĩ rằng làm một việc riêng tư,không ai biết được;một niệm thiện ác đều được kết nối trực tiếp ghi lại trên sách thiện ác tại âm ty địa phủ.
Phật bồ tát từ bi nhìn hiện tại thế đạo sa đọa,vì khoa học phát triển đem lại cho người đời vật chất phong phú,tư tưởng tâm người càng trở nên hư hỏng.Người hiện tại đều không tin nhân quả,cho rằng nhân quả là loại tư tưởng cổ hủ không hợp trào lưu.Ngay cả đứa trẻ nhỏ cũng không giống như lúc trước thời sơ kiếp tánh tình thuần lương thì nói gì đến người lớn.Càng làm mất đi truyền thống tốt lành của Khổng Mạnh thời cổ xưa và sự giáo dục của tứ thư ngũ kinh.Người hiện tại tinh thần sống rất thoáng,cũng như quần áo nơi buôn bán lớn,nào là đồ lót,dây đeo,đều xem là bình thường,vào thời xưa nếu như người nữ ăn mặc như vậy thì không thể nào được.Bây giờ nơi nào cũng có,các loại tạp chí,giấy báo,ảnh bìa toàn là kiểu hở hang,áo hở ngực,đứa trẻ nhỏ mỗi ngày đến trường đều được nhìn thấy,không hư hỏng cũng không được.Phật bồ tát phát hiện thế gian gần như nghiêm trọng thiếu hụt sự giáo dục cho linh tánh,lo lắng linh tánh chúng sanh trầm luân,tai nạn nhất định sẽ không ngừng vãng lai.Thế gian tuy có nhiều người thiện tâm không ngừng đề xướng văn chương đạo đức nhưng nếu như chúng sanh không chịu bỏ ác làm lành thì sau khi chết nhất định sẽ vào địa ngục chịu đủ cực hình,không có ngày ra.
Thiên đế từ bi,nhìn các đại địa ngục đã tràn đầy người,lại phải tiếp tục xây thêm,đặc biệt là các địa ngục dành cho tà dâm đều đầy những đứa nhỏ trẻ tuổi thọ khổ hình,cũng vì chúng thiếu được giáo dục tư tưởng nhân quả từ trước,thực là việc đau lòng cho chúng sinh nhân gian !
Vì thế mà Thiên Đế đặc biệt thỉnh thị Phật,xin Phật sắp xếp một vị đệ tử dương gian thích hợp,đã từng giữ thanh tịnh giới luật,phải trong tình trạng sáng suốt xuống tham quan địa ngục,sau đó viết thành một quyển sách,đem tình hình địa ngục tường tận nói cho chúng sinh dương gian biết rõ,tên là "âm luật vô tình".Sách này sau mỗi lần tham quan địa ngục sẽ dùng văn tự dễ hiểu viết ra;không những thế mà mỗi lần viết xong phải sữa chỉnh kỹ càng cho hợp với tình hình chân thật mới được phát hành.Có lúc vì để viết đúng một phần sách mà A Ngọc phải tới lui nơi địa ngục nhiều lần để làm rõ nội dung;Do đó,sẽ khác xa những sách thiện hay phụ đồng đã lưu truyền tại nhân gian,cũng không giống loại tường thuật lại của những người nằm mộng thấy kể lại.
Thiên Đế hy vọng lần này tiết lộ thiên cơ để cho tôi Thượng Quan Ngọc Hoa đem tình hình địa ngục nói cho thế nhân,mong cảnh giác người đời cố tu tâm dưỡng tánh,từ đây không phạm giới phạm tội,nhất định sẽ làm giảm cơ hội sau khi mạng chung chịu khổ ở địa ngục.Nếu như có thể đem thật tướng địa ngục nói rộng ra làm nhiều người tỉnh ngộ cải tà qui chánh,siêng năng hành thiện tích phước thì có thể miễn trừ quả báo của ác nhân địa ngục,chuyển sanh phước địa hoặc nữ chuyển thân nam,đương nhiên tình hình tường tận sẽ được phật bồ tát và nhân quả xem xét cụ thể.
Trong cá thể của mỗi sinh mạng đều có bậc thềm hướng đến quang minh cho hữu tình chúng sanh nào biết sám hối bước lên,để chúng sinh hiểu được gieo thiện nhân được thiện quả,gieo ác nhân bị ác báo,nhân quả báo ứng như bóng theo hình,không phải không báo,thời gian chưa đến mà thôi.
Lúc trước,Phật có khai thị cho A Ngọc,kêu A Ngọc tham quan địa ngục,sau đó viết ra văn chương để đại chúng hiểu rõ nhân quả,thọ trì thanh tịnh giới luật.Chưa thọ giới thì cố gắng thọ giới;đã thọ giới rồi thì càng cố gắng hơn nữa,không ngừng tiến bộ,làm nhiều việc lợi ích chúng sanh.
A Ngọc là đệ tử Phật đã quy y tam bảo và thọ trì năm giới,rất hân hạnh được phật cho phép làm công việc này.Địa Tạng Bổn Nguyện Kinh có nói: "nếu không phải uy thần thì là nghiệp lực".Thật ra,nếu không có Phật lực gia bị,A Ngọc căn bổn không đủ phước đức trí tuệ mà gánh vác nhiệm vụ thần thánh này.Nhưng con sẽ quí trọng mà toàn sức hoàn thành sự an bày này của Phật.
Có một câu nói như vậy: "Hoằng pháp do bồ tát,hộ pháp là do phật".Thực ra tất cả công đức đều bắt nguồn từ phật,phật ở sau lưng an bày và gia trì rất nhiều rất nhiều,chỉ vì chúng ta không biết mà thôi,do đó đại chúng nên cố gắng giữ giới báo phật ân,sư ân !
Đệ tử xấu hổ Thượng Quan Ngọc Hoa kính bút.
ÂM LUẬT VÔ TÌNH PHẬT HỮU TÌNH.
Có người bạn trên mạng hỏi: "sao gọi là âm luật vô tình ?".Âm luật còn có thể gọi là nhân quả,nhân quả thì bất biến,đó là định luật của vũ trụ.Vô tình ở đây có nghĩa tính tất nhiên của nhân quả,không thể vì vật gì mà thay đổi,nhân nào quả đó.Nhân quả thông ba đời,do đó nhiều khi không thể chứng kiến tận mắt được,nhưng nhân quả có thật không sai,không phải vì thân phận,địa vị,tài phú,danh vọng,nam nữ,già trẻ,màu da mà có sai biệt khác nhau,nhân quả bình đẳng trước tất cả chúng sanh,do đó mà nói là vô tình.
Âm luật vô tình nhưng phật hữu tình.Tuy nhân quả định luật bất biến nhưng trước khi hình thành quả báo thiện ác thì ở giữa có duyên,có thể thông qua sữa lỗi làm thiện mà chuyển hóa.Chư phật bồ tát đại từ đại bi,một mực không mệt mỏi mà kiên trì chuyển chánh pháp luân,tùy cơ giáo hóa,tùy duyên khai thị,lợi ích tất cả chúng sinh,chúng sinh mới có nơi y theo mà thoát khổ được vui,là con đường giải thoát cứu cánh,mau chóng trở thành đèn sáng ở bờ bên kia.
Ở trong thời đại này,tuy có thiện hạnh nhân sĩ nhưng đa phần không hiểu nhân quả,chiều thế tạo ác nghiệp ngày càng cường thạnh,tai nạn,chiến tranh,tật bệnh đầy khắp.Tuy có uy thần lực,công đức lực,từ bi lực,thiện nghiệp lực,hồi hướng lực hợp lại cũng chỉ trị được phần ngọn,nếu muốn trị phần gốc thì cần mọi người đều biết nhân quả,cải tà quy chánh,bỏ ác tòng thiện,nhân vì cảnh theo tâm chuyển nên chư phật thường chuyển pháp luân.
"Âm Luật Vô Tình" là sách ứng thời ứng thế mà ra,là do lòng bi mẫn của phật bồ tát đối với chúng sanh từ bi an bày.Thượng Quan Ngọc Hoa tiền bối càng không từ cực khổ,dũng cảm gánh trọng trách,tận tâm tận lực vì chúng sanh phục vụ.Có một số chúng sanh không tin nhân quả mà tạo nghiệp,khuyên mãi không nghe nhưng phật bồ tát không nhẫn tâm thấy chúng sanh chịu khổ,để chúng sanh thấy rõ chân tướng của địa ngục,sinh tâm thật sự sám hối mà thay đổi;chưa tạo mà biết để khỏi tạo nghiệp nữa,cũng như vẽ một đường phòng vệ trước cửa địa ngục,hy vọng đường phòng vệ này ngăn cản chúng sanh đi chịu khổ.Thật sự là ân cứu độ của Phật bồ tát cho đến bao giờ mới có thể nói hết được ?
Nếu bạn xem qua "âm luật vô tình",mà sám hối thay đổi,sau không tạo nữa,quảng tuyên lưu hành,giúp người cải chánh,thì cửa địa ngục tự nhiên đóng kín;Nhưng nếu cứ mãi không nghe không tin,tự ý tạo tác,thì cửa địa ngục sẽ mở rộng đón chào,không người ngăn cản.Nhưng bạn phải biết rằng,lúc đó,Địa Tạng Vương Bồ tát gặp lại bạn chỉ mong bạn đi vào hành bồ tát đạo,vào địa ngục cứu độ chúng sanh,chứ không phải vì tạo ác nghiệp mà đi vào.
Mọi người trân trọng !
Đạo Phong cung kính hợp chưởng.
1,ĐỆ THẤT ĐIỆN HIỆN TRƯỜNG NGHE XỬ.
Cảm ân chư phật bồ tát gia trì để con có cơ hội du địa ngục lần này,vừa tăng trưởng kiến văn lại kiên cố lòng tin với việc giữ giới.Thật ra từ nhỏ tôi đã có loại cảm ứng đặc biệt này,tức là những việc sắp phát sinh hoặc sẽ xảy ra trong tương lai tự nhiên xuất hiện trong giấc mơ của tôi,cảm thấy như mơ nhưng không phải là mơ.Tôi có thể biết rõ linh hồn mình xuất ra và nhìn thấy mình nằm trên giường,linh hồn xuất ra nhìn thấy những việc phát sinh thì có thể nhớ rõ,thường thì những điều này sẽ ứng nghiệm trong tương lai hay là một loại điềm báo nhưng chưa xảy ra thì tôi đã xử lý ổn thỏa rồi.
Lúc trước toàn là những việc liên quan đến cá nhân và người nhà,lần này thì khá đặc biệt,tôi cần phải chia sẽ với tất cả hữu tình chúng sinh,để mọi người biết được sự quan trọng của ý niệm,có nghĩa là nếu muốn người khác không biết thì mình đừng có làm.Bên cạnh chúng ta,trong sinh hoạt thường ngày có nhiều điều sai lầm mà ta không biết.Giống như một đôi vợ chồng hợp pháp,song phương đều không có ngoại tình nhưng họ đều phạm tội tà dâm.Vì sao ? vì họ không giữ giới luật phi thời,phi địa,phi khí.
Đêm hôm qua,tôi cảm thấy như nằm mơ xuất hồn du địa ngục,vừa đến địa ngục tôi cảm thấy âm khí rất nặng.Nam nữ ở đây đều đang chịu đau khổ,kêu gào thảm thiết,phát ra tiếng kêu lớn thất kinh,không có chút tiếng cười,không có tự do,trên người bị gông sắt khóa lại,có người bị quỷ sứ dùng hình cụ lôi đi, bị đánh,bị đâm. Địa ngục có quỷ sai,có phán quan,bọn họ cũng không cười,rất nghiêm túc,có người nhìn rất dữ. Chỉ có một bộ phận địa phủ quan viên nhìn có vẻ không dữ lắm, còn những quỷ sai khác thường rất hung tợn.Địa ngục không có ánh sáng, không giống nhân gian, khí trời đen lại có chút đỏ, rất khó hình dung,là một cảm giác rất không thoải mái.
Lúc đó tôi vừa đến địa ngục đệ thất điện,đúng lúc địa phủ đang xét xử một vụ phạm tà dâm của hồn nam, được sự cho phép của phán quan mà vào dự thính. Ngay chính giữa đại điện là chủ quản tên Thái Sơn Vương, ông ta quản lý điện này, điện này có 16 địa ngục nhỏ đều do Thái Sơn Vương phụ trách quản lý. Lớn nhất trong địa ngục là Diêm La Vương. Diêm La Vương quản lý cả địa ngục, bao gồm thập điện, mỗi điện có một Vương, mỗi vị Điện Vương phụ trách quản lý 16 cái địa ngục nhỏ. Hai bên Thái Sơn Vương là hai vị địa phủ quan viên,một vị là phán quan,một là chấp hành quỉ sai cầm đao lớn và xiềng xích,bọn họ đều rất nghiêm túc nghe xử, không khí cảm giác âm u, lại có cảm giác mát nhẹ.
Lúc này thấy Thái Sơn Vương rất hung dữ xét hỏi nam hồn phạm tội tà dâm khi còn sống;hồn này đang xảo biện,Thái Sơn Vương dùng tay vẽ một đường trên hư không hiện ra Nghiệt Kính Đài. Nghiệt Kính Đài hiện ra hồn nam lúc còn trẻ cùng vợ và người tình phi thời, phi địa, phi khí, đang xem sách sắc tình, đĩa phim sex v.v.. tội tà dâm. Nam hồn kinh sợ cả người run rẩy, quì xin tha tội, nhưng đã quá muộn rồi,Thái Sơn Vương đã mệnh lệnh quỉ sai áp giải đến địa ngục ôm trụ đồng thọ hình.
Quỉ sai cầm đao lớn dùng xiềng xích lôi tội hồn ra khỏi đại điện đi thọ hình, tôi cũng đi theo xem tình hình ra sao. Không xem thì không sao, một khi đã xem rồi thì ôi ! thật kinh người, toàn bộ hồn quỉ trong địa ngục này đều rên la thống khổ, mà số lượng thì rất nhiều rất nhiều, bọn họ rên la thê thảm mà không hề ngưng nghỉ được, sự đau khổ liên tục mà hoàn toàn không có thời gian nghỉ ngơi. Tôi trông thấy vị nam hồn lúc nãy vui vẻ chạy đến trụ đồng, khi hắn ôm vào thì tức khắc rên la đau khổ. Tôi hỏi phán quan tại sao như vậy? Phán quan nói lúc nãy hồn nam thấy trụ đồng là mỹ nữ nên hắn rất vui vẻ nhưng khi ôm vào trụ đồng thì bị đốt cháy cả người, cho nên đau khổ rên la.
Tôi tiếp tục hỏi phán quan sao gọi là phi thời,phi địa, phi khí ? thì ra dù là vợ chồng chính thức cũng phải giữ một số giới luật,nếu không cũng là phạm tội tà dâm. Phi thời là ngày đản sanh của phật bồ tát hoặc 6 ngày chay trong mỗi tháng hay 3 tháng trường chay trong năm,không được quan hệ. Trong những ngày này như mùng một,mùng 10, 15, tứ đại thiên vương sẽ du tuần xem xét ghi lại thiện ác tại nhân gian rồi báo cáo cho Ngọc Đế. Phi Địa là vợ chồng quan hệ nên vừa đủ, ngoài giường nằm của vợ chồng không được quan hệ ở nơi khác như phòng khách, bếp, nhà vệ sinh, lộ thiên, trước tượng phật v.v...Phi khí là ngoài bộ phận sinh dục ra không được hành dâm ở bộ phận khác, nếu không sẽ phải xuống địa ngục chịu khổ. Chịu hết khổ địa ngục còn phải đầu thai làm heo, chó, uyên ương, rắn v.v...
Hiện tại khoa học phát triển, trên mạng internet có rất nhiều trang web sắc tình, không được xem,xem cũng là phạm, nhất định sẽ bị giảm trừ phúc, lộc, thọ. Tuy rằng chưa có hành động gì, ý niệm nhất động, câu sinh thần lập tức ghi lại hết. Mỗi người chúng ta đều có hai vị câu sinh thần, một vị ghi ác nghiệp, một vị ghi thiện nghiệp. Đương nhiên có người nói, một đời tôi chỉ quan hệ với bạn đời của mình thì không tính là phạm tội được, thật ra là sai. Phán quan nói: làm người phải giữ gìn chân tinh khí, quan hệ quá độ sẽ làm tổn hao chánh khí của tự thân mình, khi nam nữ quan hệ hành dâm thì sẽ làm phát tán tà khí phá hoại chánh khí trong trời đất. Nếu như vợ chồng chánh thức có phạm phải những điều như trên như giới luật phi thời, phi địa, phi khí thì mau mau sám hối thay đổi và đem những điều này chuyển nói cho tất cả hữu tình làm cho mọi người biết giữ mình trong sạch, giữ lễ tiết, giữ nhân luân, làm cho chánh khí trong trời đất được quân bình.
Nếu như lúc trước có phạm phải phi thời, phi địa, phi khí mà do người bạn đời ép bức, trong lòng không có ý hưởng lạc hành dâm, lại kịp lúc sám hối sửa lỗi, đồng thời lập nguyện về sau sẽ khuyến hóa người khác, như thế thì sẽ khỏi phải chịu khổ hình nơi địa ngục. Nếu như cố ý tìm cầu khoái cảm mà phạm giới, thì phải đọa địa ngục ôm trụ đồng, thọ báo xong bị đánh vào súc sanh đạo, lại chuyển sanh làm thân nữ hạ tiện.
Dưới đây sẽ nói đến sự phân biệt phán xử đối với kẻ phạm giới tà dâm. Trước tiên là nam nữ chưa kết hôn, nếu nam nữ chưa kết hôn còn giữ được thân đồng tử (người nam nữ chưa từng quan hệ tình dục với người khác phái) xem sách sắc tình hay trang web sex, cũng là phạm tội tà dâm, sẽ bị giảm trừ phước, lộc, thọ. Nếu như xem một lần sẽ bị giảm tuổi thọ 1 tháng, nếu tiếp tục xem sẽ bị giảm thọ 1 năm hay hơn nữa, nếu như xem mà không có hành động và kịp thời sám hối thì có thể giảm nhẹ tội nghiệp.
Nếu như chưa kết hôn mà quan hệ tuy là chỉ với một đối tượng dù sau đó đi đến kết hôn với người đó, cả hai cũng phải bị giảm trừ phước báo vì không giữ đúng lễ tiết.
Nếu như chưa kết hôn mà quan hệ bừa bãi, có nghĩa là thường xuyên thay đổỉ đối tượng, hôm nay A, ngày mai B, ngày mốt C, hiện tại rất phổ biến trào lưu người nam càng có nhiều bạn gái càng tự hào, người nữ thì ngủ với nhiều người v.v...Trường hợp như vậy sau khi mạng chung sẽ đọa địa ngục ôm trụ đồng, thời gian chịu khổ càng dài, sau đó luân hồi làm súc sanh, lại chuyển làm thân người trả nợ xưa. Nếu như đã kết hôn mà ngoại tình thì phải xem xét mức độ thương tổn mà định thời gian thọ hình cùng mức độ nặng nhẹ, ít nhất là ôm trụ đồng 1 vạn năm.
Nếu như cưỡng hiếp,giở mưu kế làm người nữ mất trinh tiết, hay người nữ tham dâm, mạng chung đọa địa ngục này 2 vạn năm, sau đó lại vào địa ngục rên la thọ báo 1 vạn năm, lại sanh nhân gian trả nợ cũ. Nếu như tà dâm lại thêm độc hại người chết, đọa địa ngục này 4 vạn năm, sau đó sanh vào nhân gian trả nợ cũ.
A Di Đà Phật ! nếu viết ra không hay thì đều là lỗi của kẻ hậu học không liên quan đến sự chỉ dạy của phán quan. Cảm tạ sự gia trì của phật bồ tát cho con đến được địa ngục tham quan mà có thể viết ra đoạn văn này chia sẽ với mọi người. Nếu như có công đức, xin đem hồi hướng cho hư không pháp giới nhất thiết chúng sinh, xa rời dục vọng, giữ gìn giới luật thanh tịnh, cùng chứng vô thượng chánh đẳng bồ đề.
2, PHÁN QUAN NÓI: "SAU KHI CHẾT MỚI SÁM HỐI THÌ ĐÃ QUÁ TRỄ RỒI !".
Cảm ân phật bồ tát đại gia trì, cho con lần nữa đến địa ngục tăng trưởng kiến văn. Địa ngục cảm giác luôn luôn đau khổ và đen tối, sung mãn từ trường âm tính, hy vọng mọi người không phải vì tạo nghiệp mà đến địa ngục, đúng là thật đau khổ quá.
Lập tức đến đệ thất điện đang thẩm vấn một hồn nam, trông anh ta khá lịch sự, không biết là phạm phải tội gì, bị phán quan phán 500 năm tội nuốt viên đồng.Xem kỹ thì ra anh ta có một vợ và hai người tình cố định,lúc còn sống anh ta thích hành dâm phi thời,phi địa,phi khí;ba người này vừa đủ có thể thỏa mãn dục vọng của anh ta,một đời anh ta chỉ có 3 người này.
Lúc này nghe thấy hồn nam tự biện hộ cho mình:"tại sao có thể miễn trừ 500 năm tội ôm trụ đồng mà không trừ được 500 năm tội nuốt viên đồng ?".Lúc này phán quan nói : "xem phim" ! thì ra lúc còn sống nam hồn yêu cầu vợ hành dâm phi khí,người vợ cự tuyệt còn nói không nên làm như vậy,không hợp với lễ tiết.Người vợ chỉ chịu hành dâm phi thời,phi địa với hắn,mà dục vọng của người vợ ít nên tội nhẹ hơn,chỉ tổn hao đi phước báo,nhân vì cự tuyệt và khuyên nói không được phi khí hành dâm,lại tích được một ít phước.
Hồn nam tuy không có cưỡng ép người vợ nhưng lại phạm 3 hạng tà dâm với 2 người còn lại.Phán quan nói:"niệm ngươi có tâm sám hối và hiếu thảo với cha mẹ,lại biết tôn trọng pháp luật trong công việc,chỉ phạm 3 hạng tà dâm này,do đó miễn trừ 500 năm ôm trụ đồng".Lúc này nam hồn không còn gì để nói nữa,bị quỉ sai dẫn đến địa ngục nuốt viên đồng.Quỉ sai đẩy nam hồn vào ngục,hắn thấy tình nhân của mình liền đi tới nhưng thật ra là một con chim lớn,nó dùng cái miệng lớn ngậm phải bộ phận sinh dục của nam hồn rồi bay lên kéo đứt đi;nam hồn đau đớn kêu la thảm thiết,đến đây vì máu huyết tanh hôi nên tôi không cách gì xem tiếp nữa.
Sau khi ra khỏi điện,tôi thỉnh giáo phán quan một vài vấn đề về hình phạt tội tà dâm.Theo phán quan chỉ dạy,trước tiên phải giữ gìn chánh tri chánh niệm,lúc nào cũng cảnh giác bản thân sao cho trong sạch.Nếu như ý niệm hành dâm mà không hành động thì giảm phước 1 tuần;nếu như xem sách báo sắc tình,chỉ xem thì giảm phước thọ 1 tuần lễ;có hành động giảm phước thọ 1 tháng;nếu có lần thứ 2 hành động thì giảm thọ 2 tháng,cứ như thế mà tính.
Nam nữ trước khi kết hôn quan hệ tình dục đều bị giảm phước thọ,cụ thể thì mỗi trường hợp có khác nhau,đại khái chia ra 3 loại :
1,một đời chỉ có một người mà đối phương dục vọng ít,sau đó kết hôn với đối phương;loại này nếu như không phạm cấm giới phi thời,phi địa,phi khí thì chỉ bị giảm phước báo,càng có thể sớm sám hối tiêu nghiệp.
2,trước sau kết hôn quan hệ với bạn đời có phạm phi thời,phi địa,phi khí mà dục vọng nhiều,trước sau hôn nhân đều bị giảm phước thọ,mạng chung đọa vào địa ngục ôm trụ đồng 500 năm,nuốt viên đồng 500 năm.Nếu như lúc còn sống biết sám hối thì hiệu quả hơn,kèm với việc khuyên người không phạm,lấy công chuộc tội thì có thể miễn trừ quả báo địa ngục.
3,trước sau kết hôn phạm tà dâm bừa bãi,dục vọng đặc biệt nghiêm trọng,cả ngày sống trong cảnh say mê đắm tình,lúc còn sống nhất định là giảm phước,giảm thọ,mạng chung đọa vào địa ngục ôm trụ đồng,nằm giường sắt,nuốt viên đồng và các địa ngục khác ít nhất là 1 vạn năm,căn cứ cụ thể từng trường hợp phán xử.Địa ngục báo chung lại sanh vào súc đạo,có người làm con uyên ương,có người làm chó,rắn v.v...
Hiện tại nhiều nhất trong địa ngục là loại thứ 3,vả lại trước mắt,địa ngục đã được mở rộng lớn hơn trước,tại nhân gian hiện tại có rất nhiều thuộc loại thứ 3,tương lai đều phải đến địa ngục thọ báo.
Phán quan nói tiếp,lúc người nữ vào kỳ sinh lý,vợ chồng nghiêm cấm hành lạc;lúc có thai và bú mớm cũng vậy,nếu không sẽ tổn phước báo;Do đó thời kỳ sinh lý hành lạc sẽ chiêu cảm các loại quỉ nuốt tinh huyết đến hút máu,mỗi lúc hành dâm đều có quỉ nuốt tinh khí đến hút tinh khí,sau đó làm thân thể phát bệnh và gặp nhiều vận xui.
Phán quan còn nói,người nữ vào lúc mùa nóng ăn mặc quá hở hang thì cũng bị giảm phước 1 tuần vì làm cho người khác phái khởi tâm tà dâm.Sau khi nghe lời phán quan,cảm thấy khởi tâm động niệm thật quan trọng hết sức vậy,thì ra trong vô hình lại có quỉ thần giám sát ghi lại tất cả hành vi của chúng ta !
Rất cảm ân phán quan chỉ dạy những điều quan trọng,tiết lộ thiên cơ,bái biệt tại đây;đương nguyện thiên hạ hữu tình đều tu thanh tịnh phạm hạnh,thoát khổ địa ngục.
3,THỦ DÂM ĐẠI ĐỊA NGỤC THẢM BÁO,PHÁN QUAN TIẾT LỘ TẬN THIÊN CƠ !
Phật bồ tát cứu độ chúng sanh cũng như biển lớn không rời sóng nước,không có ngưng nghỉ,niệm niệm tương tục,sóng sóng nối tiếp.Nguyện thiên hạ hữu tình có thể thể hội làm tốt phận sự của bản thân,giữ trọn năm giới để có được thân người,tự làm trong sạch bản thân; nguyện hậu học cũng có thể học theo tinh thần đại từ đại bi không ngừng không nghỉ của phật bồ tát,vì quảng đại chúng sinh phục vụ,hôm nay lại thừa phật lực du địa ngục một lần nữa.
Đảnh lễ cảm ân phật lực gia trì ! vừa niệm phật hiệu thì đến ngay địa ngục khổ nạn.Nếu không có phật lực gia trì vòng sáng vây quanh,tôi nhất định sẽ rất mệt,từ trường âm tính của địa ngục như dời non lấp bể không có gián đoạn.Nếu như nhân gian liên tục mưa 7 ngày,trời mưa lại thêm phát sốt,tin rằng nhiều người sẽ than khổ,mỗi ngày trời đã mưa người lại mang bệnh,đầu nặng chân mềm còn phải đi làm,thật ra cái khổ của địa ngục lại gấp trăm ngàn lần cái khổ tại nhân gian,cái khổ của địa ngục thì không gián đoạn.Nghe thấy tiếng kêu lớn,tiếng rên la thống khổ ! theo tiếng mà đi xem !
Oa ! rất nhiều người nam thân thể lõa lồ bị một vài con rắn hai đầu phát ra lửa hồng đeo bám.Hồn nam thấy cảnh tượng mỹ nữ sờ mó,nhưng khi con rắn hai đầu chạm vào bộ phận sinh dục của hồn nam thì lập tức cắn đứt nó,hồn nam đau đớn kêu lớn rồi hôn mê.Con rắn hai đầu này thổi một cái,hồn nam lập tức tỉnh dậy,bộ phận sinh dục cũng được hồi phục lại,lúc này con rắn hai đầu lại tiếp tục làm lại màn cảnh như lúc nãy,đúng là không muốn xem tiếp nữa,trong lòng cảm thấy rất khó chịu !
Ở đây có rất nhiều nam hồn đều chịu khổ như vậy.Tôi đi vào địa ngục thỉnh giáo phán quan,xin hỏi bọn họ phạm phải tội gì vậy ? Phán quan nói,đây là một trong những địa ngục trị tội thủ dâm khi còn sống,quả báo rắn hai đầu thường là 1 vạn năm ! đây là một trong các loại ác báo của việc thủ dâm bình thường.
Còn có một loại thủ dâm ác báo phải thọ 2 vạn năm.Lúc còn sống theo đuổi cảm giác mạnh,dùng nước hay nước ấm,dùng ớt,dùng chất nước bôi trơn v.v...hoặc là dùng vật phẩm bản thân ưa thích tự làm hay dạy người khác thủ dâm tà dâm,mạng chung sẽ bị đọa vào địa ngục băng hỏa ngũ trùng thiên.
Tôi xin hỏi vì sao tội thủ dâm phán nặng như vậy,kẻ phạm nhẹ cũng phải 1 vạn năm ?
Phán quan nói tại vì thủ dâm đặc biệt tổn thân bại đức,tổn hại tam bảo của thân người là tinh khí thần,càng rất bất hiếu với cha mẹ;cũng như tự sát vậy,tuy rằng không có xâm hại người khác nhưng cũng giết chết sinh mạng bản thân nên hình phạt nặng.Những chúng sinh thích thủ dâm thường phạm liên tục.Lúc còn sống phạm tội thủ dâm một lần,giảm phước thọ nữa tháng,lần thứ hai giảm phước thọ 1 tháng,mạng chung đọa vào địa ngục thọ báo.Nếu như lúc sống cố gắng sám hối thì có thể miễn địa ngục khổ hình,phải xem một án lệ thực tế phán xử.
Phán quan hỏi tôi có muốn tham quan địa ngục băng hỏa ngũ trùng thiên không ? tôi nghỉ cũng được,đi xem thử.
Ở đây còn tàn khốc hơn địa ngục rắn hai đầu,công cụ ở đây rất nhiều,nên nói là hình cụ rất nhiều.Hình cụ là vật trong suốt có chút màu trắng sắc bén hình tròn,nhìn có vẻ rất lạnh và bén,sau khi chạm vào bộ phận sinh dục của hồn nam thì tức khắc đông cứng và đứt đoạn,sau đó lại hồi phục.
Thọ hết băng hình thì lập tức thọ núi lửa áp đỉnh báo không ngừng.Núi lửa áp đỉnh này là do lúc thủ dâm tà dâm dùng nước ấm,ớt để trợ dâm.Nam hồn bị một hình cụ như tòa núi nhỏ cũng hình lửa đỏ bay đến vồ lấy,như là đã đo sẵn kích cỡ,ngay tại bộ phận sinh dục có cái nút đè ngay đó để lửa đốt cháy rụi,lại là những tiếng kêu đau đớn thảm thiết rồi hôn mê chết ngất,sau lại do nghiệp lực mà tỉnh dậy,tiếp tục chịu đựng,đúng là thật đau khổ,thật tội nghiệp !
Đêm nay lại đến địa ngục này thật ghê tởm quá.Phán quan cho biết địa ngục này là mới xây,còn không đủ chỗ,cần phải xây thêm,nhân gian có quá nhiều loại chúng sanh mạng chung sẽ đọa vô địa ngục này thọ hình.
Tôi lại thấy có xây thêm địa ngục chuyên dành cho những người làm thẩm mỹ viện giúp làm đẹp,nâng ngực,làm phẫu thuật phần dưới cho người nữ,rất nhiều công ty thẩm mỹ hay bộ phận y tế,chuyên môn làm cho người nữ trầm mê dục vọng,tà dâm phạm giới,lúc sống tổn phước thọ,mạng chung vào địa ngục 1 vạn năm.
Phán quan biết tôi có vấn đề,chúng tôi thật ra dùng ý niệm để câu thông.Tôi muốn hỏi tại sao phi địa hành dâm cũng là phạm giới ? phán quan cho xem phim.
Thì ra lộ thiên,nhà vệ sinh hay vào đêm sấm chớp,có rất nhiều loại quỉ và tinh linh đến hút tinh khí hay phi tinh nhập hồn;nếu như vào lúc đó phi địa hành dâm,đối với bản thân bất lợi mà còn làm tổn hại từ trường chánh khí đại tự nhiên,trăm hại mà không có một lợi,do đó những chúng sinh vi phạm đều phải thọ khổ báo.
Trước khi ra về,phán quan dặn dò tôi rằng: "lần này ngươi thừa phật lực đến nơi đây,lại được thánh thượng và diêm vương ân chuẩn,mệnh bổn quan giải nói tình trạng chân thật của địa ngục,đã tiết lộ tận thiên cơ,không sót gì cả,hy vọng ngươi về dương gian nói lại,cảnh cáo người đời,đừng phạm vào tà dâm làm tổn luân bại đức,tự tạo địa ngục,càng tăng trưởng lượng công việc ở đây và dương gian thiên tai nhân họa.Ngươi nhìn tướng của ta kinh dị như thế,hy vọng người đời sau khi chết khỏi phải gặp mặt ta thì thật là may mắn vậy.
Vạn ác dâm đứng đầu ! ở đây bái biệt phán quan,cảm ân phán quan chỉ dạy,lần sau gặp lại.
4,KHÁCH KIẾM GÁI 10 VẠN NĂM ĐẠI ĐỊA NGỤC BÁO ỨNG.
Cảm ân phật cho con ngồi hoa sen trắng xuất phát,địa ngục hôm nay sao lại khác thường,có phải đi sai đường không ? bình thường địa ngục âm khí nặng nề,hôm nay lại có một luồng sáng màu hoàng kim rất mạnh,phật quang thật dễ chịu.ngưỡng đầu nhìn lên thì ra là Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát,nước mắt gần như chảy ra rồi,lập tức năm vóc sát đất đảnh lễ địa tạng vương bồ tát.
Địa Tạng bồ tát khai thị tôi cần quí trọng thân người,làm tốt công việc có ý nghĩa này; cần chân thành tuyên dương chánh pháp,lấy khổ nạn của địa ngục thổ lộ ra ngoài,khi về nói cho chúng sanh biết làm chúng sinh nhân gian cải tà qui chánh,bỏ ác tòng thiện.Tôi vui vẻ hồi bẩm bồ tát nói,con nhất định dùng tận sức mình y giáo phụng hành.
Trước tiên hướng về phán quan hành lễ ! hôm nay muốn hỏi phán quan : "kẻ chơi gái,gái điếm và người dắt mối quả báo ra sao vậy ?".
Phán quan nói với tôi,khách chơi phân làm 2 loại:
Thứ nhất là nhu cầu sinh lý khống chế không được,vợ không thỏa mãn được,định kỳ tìm gái điếm hành dâm;Lúc còn sống mỗi lần phạm tội giảm phước thọ 1 tháng,mạng chung vào các địa ngục dành cho tội tà dâm thọ báo.Thời gian thọ báo tùy theo án lệ cụ thể mà định,đại khái là 800 năm.
Thứ hai là dục vọng quá mạnh,trường kỳ kiếm gái tà dâm,lãng phí không quí trọng thân người,sống trong cảnh say mê dục lạc,sử dụng công cụ trợ dâm theo đuổi kích thích cảm quan thân xác;loại này mỗi lần phạm tội giảm phước thọ 1 tháng rưỡi,mạng chung đọa vào địa ngục tội tà dâm thọ báo 10 vạn năm,hết tội địa ngục sanh vào súc sanh đạo làm súc sanh thấp hèn 1000 năm,sau đó chuyển làm người có đầu óc không tỉnh táo.
Cho đến gái điếm,quả báo chia làm 3 loại:
Thứ nhất là hoàn toàn bị khống chế cưỡng bức bán dâm,tự thân không thể tạm thời thoát li,với lại trong lúc hành dâm không có hưởng thụ cảm giác,sau được cứu thoát nhưng cần sám hối nghiệp chướng không được tái phạm nữa,hoặc có thể miễn khổ báo địa ngục.
Thứ hai là vì tiền bạc mà làm gái điếm,lúc sinh tiền mỗi lần hành lạc giảm phúc thọ 1 tháng,mạng chung vào địa ngục thọ hình 8 vạn năm,hết tội địa ngục sanh vào súc sanh đạo 800 năm,sau đó chuyển làm thân người thọ hạ tiện báo.
Thứ ba là gái điếm giống loại thứ hai khách chơi,đều là dục vọng mãnh liệt,lãng phí không tiếc thân người,say mê dục lạc,sử dụng công cụ trợ dâm theo đuổi cảm giác kích thích,mỗi lần giảm phước thọ 2 tháng,mạng chung thọ báo địa ngục 15 vạn năm,hết tội địa ngục sanh vào súc sanh đạo,làm súc vật hạ tiện 2000 năm,sau đó chuyển làm người thọ báo thân hạ tiện.
Còn kẻ dắt mối chia làm 2 loại:
Thứ nhất vì tiền tạm thời làm việc,sau vì giác ngộ mà rời bỏ không tái phạm nữa,lại cố gắng sám hối tội lỗi,hoặc có thể miễn đi một số quả báo địa ngục,nhưng lúc sống mỗi lần phạm tội bị giảm phước thọ 1 tháng rưỡi,mạng chung đọa vào khói hoa lăn lộn địa ngục thọ báo 10 vạn năm.
Thứ hai là tâm địa bất chính,khống chế gái điếm,tự thân dục vọng mãnh liệt,tự tư tự lợi,chuyên môn nghĩ kế hảm hại người khác v.v...lúc sống giảm phước giảm thọ,mạng chung đọa vào khói hoa lăn lộn địa ngục thọ báo đến lúc tất cả gái điếm bị hại chuyển lại thân người mới được rời khỏi địa ngục,sau vào súc sanh đạo thọ báo,súc sanh đạo báo tận lại thọ thân người hạ tiện.
" Oa ! phán quan,sao kẻ dắt mối bị phán nặng như vậy ! nghe ông giải thích rõ rồi,tôi lại cảm thấy đau lòng chua xót và rất thông cảm những chúng sinh trong hạnh nghiệp này".
Phán quan nói: " loại hành nghiệp này phá hoại nghiêm trọng phong hóa của xã hội,phá hoại đạo đức lễ tiết luân thường,nghiêm trọng ảnh hưởng đến bản tính thuần lương của con người,do đó địa ngục minh vương muốn trừng phạt loại chúng sinh phạm ác này.Nhưng theo sự hiểu biết của bổn quan,phật bồ tát từ bi lân mẫn loại chúng sanh này,hóa thân người ở trong nơi sống của bọn họ mà độ kẻ còn thiện căn quay đầu hướng thiện.
Hôm nay tạm thời đến đây,cảm ân phán quan ! A Di Đà Phật ! ngồi hoa sen trắng về thôi.
Hôm nay rất vui vì có thể gặp địa tạng vương bồ tát trong địa ngục,kim quang bao phủ toàn thân bồ tát,lại gia trì được cho con,nguyện lực rộng lớn thật bất khả tư nghì !
Quay về nhân gian,đã rất mệt mỏi;nhân mỗi lần đi thăm địa ngục đều hao tổn nguyên thần nguyên khí rất nhiều,sau khi về phải lập tức niệm chú bổ sung.
Hy vọng các vị độc giả đừng xem như tiểu thuyết,vậy mới không phụ tấm lòng khổ tâm của địa tạng vương bồ tát. A Ngọc lần nữa cám ơn chư vị,Nam mô đại nguyện địa tạng vương bồ tát ma ha tát !
5,TÌNH HÌNH TRỪNG PHẠT LOẠN LUÂN TÀ HẠNH TẠI ĐẢO LUÂN BĂNG THIÊN ĐỊA NGỤC VÀ HOA MÀU RỪNG KIẾM ĐỊA NGỤC.
A Ngọc đảnh lễ Địa Tạng Bồ Tát ! rất vui lại được lợi ích từ pháp diệu !
Địa Tạng bồ Tát khai thị A Ngọc về năm giới,giữ năm giới có thể được thân người,là căn bổn làm người,không bị đọa lạc,xem có vẻ đơn giản nhưng đa số chúng sinh đều phạm mà không hay biết.Chúng ta thường nghe nhiều kẻ xung quanh nói,tôi không có cướp của giết người,phóng hỏa hại ai,là một người dân lương thiện.Thật ra giết người phóng hỏa đã là tội rất nghiêm trọng,phải xuống địa ngục thọ báo.Bây giờ chúng ta lắng nghe Địa Tạng bồ tát từ bi khai thị,nếu nghe có sai sót thì là vấn đề của bản thân A Ngọc,A Ngọc đơn giản thuật lại lời khai thị của bồ tát như sau:
1,không sát sanh: nghiêm cấm đoạt lấy sinh mạng bất kỳ hữu tình nào,thanh tịnh ăn chay là căn bản của việc giữ giới này,sao gọi là thanh tịnh ? cần nghiêm chỉnh thủ hộ giáo nghĩa của kinh Lăng Nghiêm,bất cứ thứ gì liên quan đến bản thân đều không được dùng,ăn,tất cả thức ăn liên quan đến động vật đều không được ăn.Ví dụ: sữa bò,trứng,mật ong,pho mát,mỡ bò,những cái liên quan đến động vật đều giới cấm,vật phẩm trang điểm đa số đều có thành phần của động vật,không được dùng.Khi chúng ta bị bệnh cần uống thuốc,đặc biệt là thuốc đông y có nhiều thành phần động vật.
2,không trộm cắp: chưa được sự chấp nhận của người khác mà chiếm giữ cho bản thân là trộm cắp.Có rất nhiều người tại công ty,lấy đồ văn phòng của công ty dùng cho việc riêng tư hay đem về nhà dùng,hoặc gọi điện thoại cho việc riêng tư,sạc điện di động tại công ty,dùng máy photocopy,máy fax làm việc riêng tư v.v...,nếu chưa được công ty đồng ý thì đều là phạm giới trộm cắp.
3,không tà dâm: là quan hệ tình dục ngoài vợ chồng ra đều là tà dâm.Phi thời,phi địa,phi khí,xem đĩa phim sex,dùng công cụ trợ dâm đều là phạm giới tà dâm.
4,không vọng ngữ: nói lời chân thực,không lừa gạt người khác.Có thì nói có,không thì nói không,cố ý lừa gạt là phạm giới nghiêm trọng;trường hợp thuận tiện vọng ngữ thì cố gắng đừng nói,nhân vì nói nhiều thì sẽ trở thành thói quen tự nhiên.
5,không uống rượu: cấm rượu và chất ma túy.Sản phẩm liên quan đến rượu đều không được ăn,ví dụ như chao,đa phần là có rượu không được ăn,mặc dù cho người chủ bán chao nói là dùng rất ít rượu,chỉ cần có một ít cũng là rượu,trừ khi dùng với thuốc để cứu mạng người thì không sao,còn có nhiều vật phẩm trang điểm có thành chất rượu,tốt nhất không dùng.
Sau khi nghe Địa Tạng bồ tát khai thị,A Ngọc tiếp tục đến trước gặp phán quan.Phán quan,a di đà phật ! hôm nay muốn thỉnh giáo phán quan quả báo của việc loạn luân.
Phán quan nói,loạn luân là bại hoại đạo đức,nhiễu loạn phong khí xã hội,là hành vi phá hoại chánh khí nhân luân,địa phủ sẽ trừng phạt nghiêm khắc loại chúng sanh này.Nhưng chúng sanh phạm tội này,lúc sống giảm phước thọ 2 tháng rưỡi,mạng chung vào đảo luân địa ngục thọ khổ 500 năm,ôm trụ đồng địa ngục 500 năm,giường sắt địa ngục 500 năm,khói hoa lăn lộn địa ngục 500 năm,rừng kiếm địa ngục 500 năm,đây chỉ là hình phạt cho trường hợp loạn luân bình thường,đương nhiên là hình phạt tùy thuộc vào mỗi trường hợp vi phạm khác nhau mà phán định,,trong sát na,ngồi hoa sen trắng đến đảo luân địa ngục rồi,ở đây nam hồn nhiều hơn nữ hồn.
Những hồn loạn luân tại địa ngục này,toàn là những kẻ hành dâm với người thân khác giới của mình.Tức là nam với chị dâu,em dâu,chị,em gái,hoặc là hành dâm với người khác giới bên vợ.Nữ với anh rễ,em rễ,anh,em trai,hoặc người thân khác giới bên chồng.
Đảo luân băng thiên địa ngục có một cái bánh xe rất lớn tự chuyển động,bốn mặt là tường bằng băng đá lạnh,phía trên là một mảnh băng như cái gương,thì gọi là băng kính vậy.Băng kính này không giống bốn bức tường,nó có độ trong suốt và độ chiếu xạ hơn,nói chung là có công năng của tấm gương,có thể soi rọi tình hình trong bánh xe lớn;mặt tấm gương đó không ngừng phóng ra băng đá trong suốt,bắn vào những chúng sinh đang thọ hình trong bánh xe lớn.
Lúc này chỉ thấy một hồn nam toàn thân lõa lồ chạy đến bánh xe lớn,bánh xe hút anh ta vào giam lại chuyển động,mặt gương phóng ra băng đá đâm vào người hắn,mỗi miếng băng đá đều làm cho tội hồn chảy máu đứt tay đứt chân,đau khổ muôn phần,tội hồn bán mạng chạy ra ngoài.Khi anh ta bị thọ thương tạm thời rời khỏi được bánh xe lớn,quỉ sứ bên ngoài dùng thiết xoa đâm hắn bỏ vào lại,tình trạng vô cùng thảm khốc,a di đà phật !
Lúc này phán quan gọi tôi đến hoa màu rừng kiếm địa ngục kế bên xem thử,địa ngục này là do lúc còn sống phạm dâm với thân thuộc trực hệ,cưỡng ép hay tự nguyện.Nếu như bị ép bức mà lúc đó không có ý hưởng lạc,thông qua sám hối thì không bị thọ hình phạt;nếu như có ý hưởng lạc thì phải thọ báo.Phàm là nam với con gái,cháu gái,bà ngoại,bà nội hay thân thuộc trực hệ bên nhà vợ;Nữ với cha,cháu trai,ông nội,ông ngoại hay là thân thuộc trực hệ bên nhà chồng.Trong địa ngục này có vô số hoa đẹp,số hoa này có rất nhiều cơ quan,hoa sẽ biến sắc,xem hoa hình như rất hấp dẫn người.
Lúc này có nam hồn thân mình lõa lồ,lòng đầy dục vọng muốn hái hoa,hoa mau chóng biến hình bám vào người hắn,hoa từ từ bám xuống bộ phận sinh dục của hắn rồi lập tức bẽ gãy nó,máu tuôn đầy đất,máu thịt bầy nhầy,sau đó hoa biến thành vô số cánh hoa cứng không ngừng đánh vào tội hồn chết ngất đi,rồi quỉ sứ dùng nước hàn băng tưới lên mặt tội hồn làm hắn tỉnh dậy,tiếp tục hành hình,lại phải chịu thêm một lần đau khổ muôn phần,sớm biết như vậy thì lúc đầu đừng phạm !
Phán quan nói: "nhân gian loạn luân tà hạnh thì thiên địa bất dung,tội ác thật lớn,nhất định phạt nặng,không được tha thứ,để làm sáng tỏ âm luật vô tư".
Hôm nay đến đây là đủ,ngày khác quay lại.
Bái biệt phán quan,cám ơn sự chỉ dạy của phán quan !
6,THIẾU NIÊN ĐẮM MÊ TRANG WEB SẮC TÌNH PHƯỚC THỌ GIẢM HẾT,LÚC CHẾT CHỈ 20 TUỔI !
Cảm ân chư phật bồ tát ! A Ngọc ngồi hoa sen trắng xuất phát.
Phán quan,a di đà phật ! A Ngọc hợp chưởng hành lễ !
hôm nay phán quan dẫn tôi đi tham quan tà dâm điện quang nhãn địa ngục.Địa ngục này là giành cho người lúc sống thích xem sách truyện hay trang web sex,mạng chung vào địa ngục thọ báo.Chúng sinh đến địa ngục này sẽ căn cứ vào mức tuổi và mức độ xem mà định phán hình,ít nhất là 50 năm,số tuổi càng trẻ phán tội càng nặng.
Đa số người sau khi xem trang web sex đều sẽ tiếp tục phạm nhiều loại tà dâm khác,như thủ dâm hoặc phi thời,phi địa,phi khí tà hạnh,thậm chí dùng công cụ trợ dâm.Xem loại sách sắc tình này sẽ nghiêm trọng phá hoại bản tánh tốt lành của con người,đặc biệt là thiên tính thuần tịnh thuần dương của trẻ nhỏ,người trưởng thành cũng không được xem huống chi là trẻ vị thành niên.
Hiện tại nhân gian có rất nhiều thanh thiếu niên đều lên mạng xem những trang web sex.Bất cứ người nào đắm mê sắc dục đều sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển tốt lành của tâm linh.Con người mỗi ngày đều phải nhờ vào ý niệm tư duy để sống.Ý niệm tư duy sẽ thúc đẩy hành vi,hành vi tạo thiện ác nghiệp,thiện ác nghiệp quyết định vận mạng,vận mạng tạo thành nghiệp lực,nghiệp lực sản sanh phải thọ báo.
Thường xuyên xem trang web sắc tình,tư duy của con người sẽ hôn trầm,xử lý mọi việc không tinh tế;đặc biệt là trẻ nhỏ bị ảnh hưởng rất nhiều,đoạn mất cơ hội tu hành giải thoát.Trên đầu chữ sắc là một con dao,cổ kim đã có biết bao danh nhân tướng sĩ không qua nổi cửa ải này.
Phán quan nói: "mỗi lần xem sách hay trang web sex sẽ bị giảm phước thọ,sau đó phạm tội tà dâm khác lại cũng giảm phước thọ,cũng như là mãn tính tự sát".
"hiện tại nhân gian khoa học phát đạt,trẻ nhỏ đều dùng máy vi tính,có rất nhiều đứa trẻ nhỏ xem trang web sex.Có một vài phụ huynh không biết,vì bản thân phụ huynh không biết sử dụng máy vi tính,mặc cho con em tự học vi tính mà không quan sát,mỗi ngày làm việc lại rất bận rộn,căn bổn là không có thời gian quan tâm đến con em.Hoặc là kinh tế tốt một chút thì thuê người giữ con,người làm thì không nhất định sẽ chăm sóc chu đáo,do đó những phụ huynh này sẽ bị giảm phước,không thể nói không biết mà không quan tâm,nuôi mà không dạy là lỗi của cha mẹ.Cha mẹ cần phải quan tâm nhiều đến việc giáo dục con cái lành mạnh trưởng thành.Cho đến có một số cha mẹ rõ ràng biết như vậy nhưng không ngăn cản hoặc xem như là giáo dục giới tính mà buông thả cho trẻ nhỏ xem.Có người lại nói thời đại không như trước rồi,hiện tại là thời đại mở thoáng,tại trường học cũng có khóa trình học giáo dục giới tính cho trẻ nhỏ,đó là quan điểm sai lầm nghiêm trọng.Minh phủ hy vọng lần này mượn cơ hội A Ngọc tham quan địa ngục,sau khi về nhân gian kêu gọi chúng hữu tình cải tà qui chánh,quí trọng nhân gian mấy chục năm sinh sống,cố làm nhiều việc lợi lạc thế đạo nhân tâm,đừng làm những việc hại người hại mình;nếu không một khi nhắm mắt sẽ đến đây gặp ta đấy !".
Đã nghe thấy tiếng thảm kêu,thì ra là chúng sinh trong điện quang nhãn địa ngục đang thọ cực hình.Trong địa ngục này thiết lập rất nhiều máy vi tính lớn có nhiều cơ quan,mỗi hồn một cái máy vi tính;trong máy tính có hình để xem,mỗi hồn đều đang xem máy tính của mình;không xem thì thôi,một khi xem thì lớn tiếng thảm kêu.
Có hồn nam rất trẻ,chỉ 20 tuổi; máy tính của nó phóng ra móc câu điện quang màu đỏ móc vào 2 mắt của nó,kéo xé hai con ngươi ra ngoài,máu đỏ đầy đất,nam hồn có vẻ cực kỳ đau khổ bi ai ! đây là quả báo của việc xem phim sách hay tiểu thuyết sex trên mạng.
Phán quan nói,nam hồn này đã xem những trang web sắc tình từ nhỏ,không những thế mà còn thủ dâm; vì phạm ở mức độ cao nên phước báo cả đời gần như giảm hết mà đọa vào địa ngục này,cha mẹ của nó tại nhân gian còn đang kêu khóc con mình.
Bên cạnh có tội hồn ngồi trên một cái ghế xem sách sắc tình,giống như trường hợp móc mắt lúc nãy nhưng tốc độ thọ hình chậm hơn.Tôi xin thỉnh giáo phán quan vì sao thọ hình tốc độ lại có sai khác vậy ?
Phán quan nói : "nhân vì khi xem trang web sex,thường xem được số lượng nhiều trong thời gian ngắn,thời gian xem cũng tương đối dài,còn xem sách hình hay tiểu thuyết sắc tình,chỉ giới hạn trong vài quyển thôi.Nếu như chúng sanh lúc còn sống có xem mà sau này giác ngộ sám hối không tái phạm nữa,đồng thời cố gắng tuyên truyền sách thiện này,khuyên bảo chúng sinh không được xem những trang web,đĩa,sách sex nữa,dùng tiền của mình tận lực mua sách đĩa sex đem thiêu hủy hết,lấy công chuộc tội thì miễn chịu địa ngục khổ báo".
Phán quan nghiêm khắc nói: "những chúng sinh thọ báo tại địa ngục điện nhãn quang,thường thì phải tiếp tục thọ hình tại những địa ngục khác.Phạm thủ dâm,phạm phi thời,phi địa,phi khí đẳng tội,sau khi chết quyết định sẽ bị đánh vào các ngục nuốt viên đồng,ôm trụ đồng,khói hoa lăn lộn và nhiều đủ loại địa ngục khác nữa thọ hình".
Hôm nay tạm thời đến đây,bái biệt phán quan !
A Ngọc hợp chưởng hướng phán quan hành lễ,cảm ân phán quan ! ngồi hoa sen trắng quay về.
Trang web sắc tình và đĩa phim sex đúng là hại người không ít,mùi máu tanh trong các loại đại địa ngục làm A Ngọc khó lòng chịu đựng.Tham quan các loại đại địa ngục thấy nhiều tội hồn bị quỷ tốt chặt đầu chặt tay,xẻo thịt cắt chân,rên la thảm thiết trong máu tanh thật kinh hoàng,A Ngọc sau khi về nhà,trong lòng cũng phải điều chỉnh một phen mới hồi phục bình thường lại được !
7,THỦ DÂM TRỪNG PHẠT THẢM THIẾT-ĐỊA NGỤC ĐIỆN NHÃN THIẾT HOÀN.
Cảm ân chư phật bồ tát ! ngồi hoa sen trắng xuất phát.
Phán quan,a di đà phật ! A Ngọc hợp chưởng hành lễ !
Hôm nay phán quan dẫn tôi đi tham quan tà dâm địa ngục,điện quang thiết hoàn địa ngục.
Điện quang thiết hoàn địa ngục là giành cho những người đắm mê những trang web sex,hình ảnh sắc tình,sách báo sex và vừa xem vừa thủ dâm,mạng chung vào địa ngục này thọ phạt,thời gian là 800 năm;sau đó xem xét linh thức chuyển hóa như thế nào để quyết định có thọ phạt tại đây nữa không.
Lúc trước có nói,mỗi lần xem sách báo sắc tình thì bị giảm phước thọ 1 tháng;Trừ lần đầu giảm phước thọ nữa tháng ra,những lần sau đều giảm 1 tháng.nếu như xem thường xuyên lại thủ dâm thì chắc chắn phước báo một đời mau chóng hết sạch rồi.
Địa ngục này bên cạnh điện quang nhãn địa ngục,so với điện quang nhãn địa ngục khổ hơn ngàn vạn lần.Ở đây hầu như đa số đều là thanh thiếu niên.Oa ! thật tội nghiệp,đứa nào cũng rất nhỏ tuổi.Nhớ lại bản thân mình vào độ tuổi này còn đi học ở trường ngu khờ biết mấy,cái gì cũng không biết,tại sao chúng nó có trường không học mà chạy tới đây thọ hình vậy,chỉ một chữ,thật đau lòng ! những đứa trẻ nhỏ phải biết giữ mình trong sạch,địa ngục thật khổ lắm khổ lắm vậy,đừng có bao giờ đến đây,ở nhân gian cố gắng đi học tu hành,quí trọng cuộc đời tươi đẹp này.
Ở đây phát hiện có một nam sinh trung học thật quen mặt,gặp qua ở đâu vậy ? ah,nghĩ ra rồi,đại khái là nữa năm trước nhìn thấy di ảnh của nó tại tang đường.Nữa năm trước tôi xử lý tang sự của người thân,linh đường của nó ở kế bên,lúc đó linh đường bên chúng tôi vì nhiều người,trẻ con nhiều,cảm giác rất náo nhiệt;Còn bên linh đường của nó thì thật lạnh lẽo,chỉ có cha mẹ và hai,ba người thân.Lúc đó,thân thuộc chúng tôi bên đây nghị luận đứa trẻ này nhỏ như vậy,không biết xảy ra chuyện gì.Cha mẹ rất thảm sầu,mẹ của nó rất đau lòng,tôi chỉ có thể hướng về di ảnh của nó niệm vài câu a di đà phật hồi hướng,không ngờ lại gặp nó tại địa ngục,mạng người thật vô thường !
Nghe phán quan nói,cha mẹ đứa trai nhỏ này chỉ có một mình nó,lúc sống nó mê đắm những trang web sex,sách báo sắc tình,lại còn nhiễm thói ác thủ dâm,lại dùng công cụ tự mình sáng tạo ra trợ dâm.6 tuổi bắt đầu thủ dâm,10 tuổi đã hư thận;mẹ của nó dẫn nó đi khắp nơi trị bệnh,uống rất nhiều thuốc đông y,đi đường giống như ông già dùng gậy chống; vì nó không biết quí trọng sinh mạng,quí trọng sức khoẻ,trong thời kỳ uống thuốc lại tiếp tục thủ dâm,do đó 12 tuổi phước báo mất hết bị đánh vào địa ngục điện nhãn thiết hoàn thọ phạt 800 năm.
Tôi thấy bên cạnh nó có hình cụ máy tính và rắn lửa bám vào thân nó.Trong máy tính phóng ra móc câu hồng quang móc mắt nó,máu huyết bay tung;rắn lửa bám vào,hình như là sờ mó bộ phận sinh dục của nó rồi lập tức cắn đứt,lại là máu phun đầy đất.Trong khi nó chưa kịp phản ứng thì có hai con sói dữ đến cắn xé nó,cắn đứt hai tay nó,thật là thê thảm quá ! đúng là cực hình trong cực hình,rất đau khổ khó chịu.
Tôi hỏi phán quan,tại sao trong một lúc chịu nhiều loại hình phạt như vậy ? sao không để nó lành đôi mắt rồi mới thọ hình rắn lửa và chó sói.
Phán quan nói: "đây tuyệt đối không thể phân ra thọ chịu,nhân vì lúc còn sống hắn vừa xem vi tính vừa thủ dâm,sau đó lại dùng công cụ tự chế phạm tà dâm lần nữa,do đó mà hắn rất mau đến địa ngục thọ báo vậy.Sau khi thọ báo ở đây xong,hắn còn phải đến đại địa ngục kêu la tiếp tục chấp hành hình phạt.Do hắn phạm phải thủ dâm sớm ngày tiêu trừ hết phước báo,làm cha mẹ đau buồn thương tâm,người tóc bạc đưa người tóc đen,là mang tội bất hiếu mà chịu hình phạt này.Hiện tại người ở nhân gian,tuổi đời nhỏ nhỏ,đã không giữ lễ nghĩa;đối với song thân ngỗ nghịch trả treo,mở lời nhục mạ,càng tay đấm chân đá,hành vi còn thua loài cầm thú hạ đẳng.Ở giữa trời đất là kẻ đại bất hiếu,sau khi chết phải đến đây thọ phạt,tẩy rửa linh thức,tịnh hóa nguyên thần,đến khi thật lòng sám hối sửa lỗi".
"hôm nay đến đây chấm dứt,bổn quan còn công vụ tại thân,ngày khác lại đến".
"A Ngọc bái biệt phán quan,đa tạ phán quan !"
8,DƯƠNG THỌ CHƯA HẾT ĐÃ CÂU BA HỒN !!!
Cảm ân phật lực gia bị ! ngồi hoa sen trắng xuất phát.
A di đà phật ! A Ngọc hướng phán quan hành lễ.
Hôm nay phán quan dẫn tôi đi tham quan địa ngục tội tà dâm,địa ngục roi trượng.Sao gọi là địa ngục roi trượng ? tức là chúng sinh phạm tội tà dâm mà dương thọ chưa hết,một bộ phận thần thức của họ bị quỉ sai nơi địa phủ bắt đến địa phủ chịu trừng phạt.Người có ba hồn bảy vía,quỉ sai bắt ba hồn của tội linh hành hình.Chúng sinh nhân gian cảm thấy đau đầu chóng mặt rất hôn hôn trầm trầm,có người cảm thấy bị đánh trong lúc mơ hồ;nhưng đa số bọn họ đều nghỉ rằng mình bị ác mộng,nghiêm trọng thì bị sốt nằm trên giường thiếp đi.Đến khi thọ hết hình phạt về đến dương gian,có người thấy toàn thân đau đớn,cảm giác đau đến thấu xương.
Cái địa ngục roi trượng này,thật là quá lớn ! có thể nói nhìn không thấy nơi tận cùng;giống nhân gian nhìn biển lớn vậy,không thấy nơi chấm dứt ở đâu,là địa ngục lớn nhất tôi nhìn thấy từ trước đến giờ.Trong roi trượng địa ngục này có rất nhiều người không cùng một quốc gia,như Trung Quốc,Anh,Mỹ,Pháp,Nhật Bổn,Thái Lan,còn có Ấn Độ,Phi Châu,Pakistan v.v...rất nhiều quốc tịch khác nhau.Có một điều thật không may là lại có rất nhiều vô số thanh thiếu niên và trẻ nhỏ trong ngục chịu trừng phạt.
Tôi xin hỏi phán quan sao lại có nhiều người như vậy ? cái địa ngục này sao lớn đến kinh dị như vậy !
Phán quan nói: " chính vì khoa học phát đạt,nhân gian phát minh máy vi tính,số lượng trang web sex kinh người đã đầu độc ô nhiễm thanh thiếu niên và trẻ nhỏ,bọn họ đều đang phạm tà dâm tạo nhân địa ngục,con số những chúng sanh bất thiện này không gián đoạn vượt thăng lên,do đó phật đặc biệt phái ngươi đến địa ngục tham quan,quay về hãy cáo giới chúng sanh cần giữ ngũ thường bát đức;đặc biệt là người trẻ tuổi,đừng nghĩ là những thứ này đã cũ rít rồi mà phải giữ mình trong sạch,cải tà qui chánh,bỏ ác tòng thiện,nếu không sau này khó thoát khổ hình địa ngục,đến lúc đó hối tiếc cũng quá muộn rồi !".
Lúc này,tôi thấy chúng sanh tại địa ngục roi trượng,toàn bộ bị quỉ sai lấy roi trượng đánh đập.Quỉ sai ở đây một mực cầm roi trượng đánh tội hồn,tội hồn đau quá kêu oa oa,tiếng kêu lớn cứ như sóng lan từ chỗ này đến chỗ khác.Bị đánh là để tội hồn phản tỉnh lỗi lầm của bản thân,số ít tội hồn sau khi tỉnh dậy sẽ thay đổi lỗi cũ,nhưng đa số tội hồn sau khi về nhân gian lại tiếp tục phạm lỗi.
A Ngọc xin thỉnh giáo phán quan,làm sao để chúng sinh dương gian tin tưởng "Âm Luật Vô Tình",bộ sách trước tác muôn nghìn lần chân thật về tình trạng địa ngục hiện nay ? Nhân vì có một vài người có thể nói A ngọc tự mình hoang tưởng hoặc hư cấu viết ra,giống tiểu thuyết vậy,thật khó làm người ta tin vậy.
Phán quan nói: "trong âm thầm tất cả đều có nhân quả,không phải nhìn không thấy thì cho là giả.Chúng ta mỗi một người đều không thể thấy mẹ mình sinh ra mình nhưng đây là sự thật chắc chắn,không nhìn thấy không có nghĩa là không tồn tại.Trên đầu ba tấc có thần linh,trong đại thiên thế giới này có quá nhiều sự vật mà chúng ta nhìn không thấy,nhưng chúng và cuộc sống của chúng ta có quan hệ mật thiết,tương quan từng chút,chỉ có điều chúng ta không phát hiện ra sự tồn tại của phật bồ tát và quỉ thần thôi.Cơ duyên và phước báo của mỗi người không giống nhau,sở cảm thọ và kinh nghiệm qua cũng không giống; thiện ác nhân quả như bóng theo hình,không phải không báo,thời gian chưa đến thôi,lưới trời lồng lộng tuy thưa mà khó thoát.Lần này A Ngọc con đến tham quan tình hình các đại địa ngục,cũng phải qua sự chọn lựa an bày của phật;con có đủ tư cách gánh vác sứ mệnh này như một đệ tử phật giữ giới,cố gắng hoàn thành tốt thiện hạnh lợi lạc chúng sanh này".
Đa tạ phán quan khích lệ,A Ngọc nhất định tận dụng hết khả năng hoàn thành nhiệm vụ thần thánh này.
Lúc này,tôi nhìn thấy có vài quan viên địa phủ hướng về roi trượng địa ngục đi đến.Oa ! thì ra là Diêm Vương đến rồi,A Ngọc hợp chưởng h
|
|
|
| Mỹ Nhân Ải - Hội Ngộ Anh Tài |
|
Đăng bởi: mannuva - 05-29-2013, 01:27 AM - Diễn đàn: Games Offline
- Không có trả lời
|
 |
Mới đây, sau khi ra mắt trên IOS và thu hút lượng “khủng” người chơi, GMO Minh Châu đang từng bước trở thành một trong những hình mẫu phát triển thành công của thể loại GMO ở Việt Nam.
![[Image: 06f40cbe3366ab34b06fb3e0ce4969dc_5594423...9976432472]](http://nx1.upanh.com/b2.s38.d1/06f40cbe3366ab34b06fb3e0ce4969dc_55944231.image002.jpg?rand=0.7285309976432472)
Hình ảnh của Minh Châu trên phiên bản Android
Là game mobile online đầu tiên phát hành tại Việt Nam, Minh Châu được rất nhiều người dùng java và Android lựa chọn bởi ngoài đồ họa đẹp ,tạo hình nhân vật chibi bắt mắt, Minh Châu còn thừa hưởng 1 gameplay vô cùng hấp dẫn và cuốn hút . Sau 2 năm xuất hiện cùng với rất nhiều cập nhật chỉnh sửa, đến nay Minh Châu có thể được coi là một trong những GMO hoàn hảo trên thị trường game mobile. Có thể thấy được điều đó qua lượng truy cập cũng như số lượng người chơi trên IOS tăng một cách chóng mặt ngay sau khi chính thức xuất hiện trên itunes trong cuối tháng 4 vừa qua.
Trên phiên bản iOS, các anh hùng của Minh Châu đã và đang được trải nghiệm những cập nhật mới nhất của phiên bản Mỹ Nhân Ải bao gồm: Tùy tùng Điêu Thuyền, thánh thú Huyền Võ, hay một loạt những thử thách mới trong chuỗi nhiệm vụ hàng ngày.. trước 2 hệ điều hành Java và Android – một ưu ái khiến cho những gamer tại 2 hệ điều hành này vô cùng bức xúc
![[Image: e2ab1be44ff21492e891ff353a32fe2d_5594423...4082891047]](http://nx2.upanh.com/b4.s36.d2/e2ab1be44ff21492e891ff353a32fe2d_55944232.image003.jpg?rand=0.5789384082891047)
Tùy Tùng Điêu Thuyền và Thú cưỡi Huyền Võ trên iOS – 2 trong số những cập nhật mới của phiên bản Mỹ Nhân Ải
Trước tình hình đó, quyết không thể để mang tiếng “thương con đỏ, bỏ con đen”, vào ngày 28 tháng 5 này, MCCorp sẽ chính thức cập nhật nốt phiên bản mới Mỹ Nhân Ải trên 2 hệ điều hành Java và Android đi kèm với sự kiện cộng đồng cực chất mang tên Tam Ải Gặp Mỹ Nhân tại Fanpage Minh Châu game.
Hãy cùng chờ đợi giây phút được khám phá dáng dấp mới mẻ của Minh Châu tại Big Update: Mỹ Nhân Ải vào ngày 28/05. Phiên bản mới đi kèm với sự kiện Facebook hấp dẫn sẽ dành tặng tất cả cộng đồng những sét đồ mới và thú cưới đẹp mắt hoàn toàn miễn phí. Với kinh nghiệm chăm sóc và dẫn dắt cộng đồng chuyên nghiệp của mình, chờ xem mỹ nhân Điêu Thuyền sẽ làm “điên đảo” các bậc anh hùng trong Minh Châu thế nào nhé.
Trang chủ: http://mcgame.vn
Link facebook: http://www.facebook.com/minhchaugame
Tải game cho dế: MCG gửi 8075
|
|
|
| Những kỷ niệm đáng nhớ nhất của bạn khi chơi game |
|
Đăng bởi: ghiengamequadi - 05-29-2013, 01:25 AM - Diễn đàn: Games Online
- Không có trả lời
|
 |
"Chắc các thím ở đây thuộc thế hệ 8x đầu 9x đều không thể không lớn lên bên game Online.
Cái game đầu tiên em chơi là TS online với những kỷ niệm sâu sắc đến nỗi giờ đây cũng không thể quên, lần đầu tiên biết thế nào là tình cảm bạn bè, anh em trai gái qua game, ôi một thời ngây ngô với bao kỷ niệm.
Kỷ niệm sâu sắc nhất của em chính là cua được một em gái nói chuyện cực cute qua game, lúc ấy em mới lớp 10. hai đứa cũng hẹn hò này kia, ai ngờ đến khi hẹn gặp thì ra ngay cô giáo thực tập của em @@ đã nhọ không hết còn bị cô méc ba mẹ đánh cho một trận nhớ đời :'(
Cho đến giờ em vẫn chưa tìm được cái cảm giác nguyên vẹn khi chơi TS Online ngày ấy :-< và cô giáo ngày nào thì đã lấy chồng @@ ôi cuộc đời...
Các thím có kỷ niệm nào thì kể ra cho vui nhé!
|
|
|
| Công nghệ lọc nước kiểu nano ceramic tại vietloc.com |
|
Đăng bởi: dinhquanvuong - 05-29-2013, 01:19 AM - Diễn đàn: Box rao vặt linh tinh
- Không có trả lời
|
 |
Bài viết này sẽ giúp quý khách hàng phần nào hiểu về công nghệ lọc nước kiểu nano ceramic. Nếu quý khách hàng có thắc mắc gì về công nghệ lọc nước này, xin để lại thông tin, chúng tôi rất hân hạnh được hồi đáp.
Vật liệu chính để sản xuất ra gốm nano (trong lọc nước) là vật liệu diatomite. Diatomite được hình thành từ một loại tảo biển đã bị hóa thạch hàng triệu năm dưới biển sâu.
Khi còn sống, các loài tảo này có kích thước siêu nhỏ, các cơ quan thu gom thức ăn trên cơ thể chúng là rất nhiều các lỗ nhỏ li li, kích thước khoảng 100nanomet, khi nước đi qua cơ thể chúng thì các chất huyền phù làm thức ăn cho chúng được giữ lại tại các lỗ này. Sau khi các tảo này bị hóa thạch, chúng tạo thành các mỏ diatomite dưới đại dương.
Chúng có đặc tính là tỉ lệ các lỗ xốp rỗng trên diện tích rất lớn, giúp chúng có khả năng lọc nước (nhỏ hơn kích thước vi khuẩn) với tốc độ dòng chảy cao. Nhiều công ty sản xuất các sản phẩm gốm xốp lọc nước đã quảng cáo sản phẩm của mình là các công nghệ "lọc gốm ứng dụng công nghệ Nano" với lý do là khe lọc ở kích thước "nanomet".
Người ta sản xuất các sản phẩm gốm lọc bằng cách nghiền hóa thạch diatomite thành bột, sau đó định hình bột này thành các tấm lọc. Kể cả sau khi bị nghiền thành một hạt bột, trên hạt bột diatomite đó vẫn còn rất nhiều khe lọc nhỏ. Việc định hình tấm lọc có thể được tiến hành bằng đất xét hoặc xi măng, sau đó được nung đến nhiệt độ thích hợp.
Việc sản xuất, ép bột vật liệu diatomite xốp tại các lực ép có thể giúp tạo ra các khe lọc và công suất lọc khác nhau. Các ứng dụng: gốm ngậm dầu trong ngành cơ khí, lọc không khí, lọc dầu, lọc nước… Trong lọc nước, người ta đưa hạt nano bạc Ag+ vào các khe của lõi lọc tạo ra các sản phẩm lọc gốm nano silver. Trên đây là những bí quyết vật liệu và công nghệ sản xuất gốm lọc nano ceramic chất lượng cao mà bạn là một trong những người đầu tiên ở Việt Nam được biết đến.
Mọi thông tin chi tiết vui lòng liên hệ
Công ty TNHH Công nghệ Lọc Quốc Tế Filtech
Địa chỉ: Lô 8, khu giãn dân Mỗ Lao, Hà Đông, Hà Nội
Điện thoại: (84-4) 33560597 Fax: (84-4).33560596
|
|
|
|