| Xin chào, Khách |
Bạn cần phải Đăng ký trước khi đăng bài viết trên diễn đàn.
|
| Thông kê diễn đàn |
» Thành viên: 475,495
» Thành viên mưới nhất: ShawnaSigm
» Chủ đề: 488,399
» Bài viết: 544,806
Thống kê đầy đủ
|
| Thành viên Online |
Hiên tại có 7098 thành viên online. » 2 Thành viên | 7089 Khách Applebot, Baidu, Bing, DuckDuckGo, Facebook, Google, Yandex, Michaelhoumn, tramanh09
|
|
|
| Chọn hải sản thông minh |
|
Đăng bởi: sunlight878 - 06-06-2013, 03:45 AM - Diễn đàn: Ẩm Thực
- Không có trả lời
|
 |
Hải sản luôn là nguyên liệu vàng của các bà nội trợ, với điều kiện: chúng phải thật tươi. Vài lưu ý nhỏ dưới đây có thể giúp bạn chọn được hải sản tươi như ý.
![[Image: hai-san-dong-lanh_shutterstock_b.jpg]](http://saigonamthuc.vn/Pictures20136/NgocLinh/hai-san-dong-lanh_shutterstock_b.jpg)
Cẩn trọng với các loại nghêu, sò, ốc được tách lấy thịt sẵn, những loại tôm, mực đã bóc vỏ, cắt đầu; cá sơ chế sẵn… bởi tỷ lệ hàng cũ, ươn trong nhóm này rất cao - Ảnh: Shutterstock
- Cá: Nếu là cá sông, cá nuôi, tốt nhất hãy chọn những con còn sống. Con cá nào bơi mạnh, linh hoạt, thịt chắc là cá khỏe, cá ngon. Với cá biển, cá đã chết thì hãy chọn những con mắt trong, không bị lõm; mang hồng; vảy chắc và xếp khít với nhau; thịt cá đàn hồi tốt; da sáng bóng, không bong tróc. Cá không có mùi tanh hôi lạ.
- Tôm: Tôm tươi sống, búng mạnh là một lựa chọn an toàn, nếu không bạn cũng phải chọn loại tôm có thịt săn chắc, màu sắc trong, sáng bóng, đầu tôm vẫn còn dính chặt vào mình, không rụng chân, rụng càng, không có mùi tanh hôi lạ.
- Cua: Đừng bao giờ mua cua chết. Hãy chọn những con bò khỏe, mình đầy đặn. Thử dùng tay ấn vào yếm hoặc 2 bên mai cua, nếu thấy chắc, không bị lõm xuống là cua chắc thịt.
- Mực: Chọn những con đầu còn dính chặt vào thân, da sáng bóng, không bị bong tróc, thịt dày, không có mùi tanh hôi lạ.
- Ốc: Một con ốc chết có thể phá hỏng cả bữa ăn của bạn vì thứ mùi rất khó chịu của nó. Ốc tươi mới có phần mày nằm sát phía ngoài. Nhìn vào một rổ ốc thấy phần mày của đa số ốc đều thụt vào trong có nghĩa ốc đã đánh bắt được vài ngày, ngoài chuyện ốm, không ngon thì rủi ro lẫn lộn ốc chết là rất cao, không nên mua.
- Nghêu, sò, hến…: Khi nghêu, sò, hến còn sống và khép miệng sẽ rất khó tách. Trong một rổ nghêu sò mới thường có vài con há miệng nhưng chỉ cần chạm nhẹ vào là chúng lập tức khép. Còn những con há hoài không khép hoặc ngược lại - khép lâu không há, tách ra dễ dàng cũng chắc chắn không còn sống. Còn một cách khá đơn giản: tận dụng khứu giác của bạn. Nghêu, sò, ốc chết có mùi rất dễ nhận ra.
Cuối cùng, hãy cẩn trọng với các loại nghêu, sò, ốc được tách lấy thịt sẵn, những loại tôm, mực đã bóc vỏ, cắt đầu; cá sơ chế sẵn… bởi tỷ lệ hàng cũ, ươn trong nhóm này rất cao.
Nhật Khuê
Nguồn: Ẩm thực
|
|
|
| Đầu đọc mã vạch rẻ nhất Miền Bắc - 04.3.555.3606 |
|
Đăng bởi: stmavach - 06-06-2013, 03:37 AM - Diễn đàn: Sản Phẩm Cần Bán
- Không có trả lời
|
 |
Chúng tôi có thể giúp bạn tìm thấy những máy quét mã vạch thích hợp để đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp bạn. Từ của hàng bán lẻ, chuỗi cửa hàng siêu thị đến kho bãi, Tân Phát có nhiều máy quét mã vạch của các thương hiệu chất lượng thuộc top 5 trên thế giới đọc tất cả các loại mã vạch trong bất kỳ môi trường nào như công nghệ Laser,CCD, chụp ảnh truyến tính, loại cầm tay, loại đa tia để bàn, âm bàn, loại không dây, và cả máy công nghiệp cho sản xuất ……
Đầu đọc mã vạch Symbol LS2208
Giá: 2,045,000 VNĐ
Mua hàng
Đầu đọc mã vạch Symbol LS2208
• Hãng sản xuất: Symbol Motorola • Model: LS 2208
• Tia quét: Laser • Tốc độ: 100 scan/sec • Giao tiếp PC: USB
• Máy bao gồm chân đế vững vàng
• Dễ dàng sử dụng và thân thiện; thiết kế đẹp và mạnh mẽ.
• Hàng được sử dụng rộng rãi tại Châu Âu.
• Sản phẩm chịu rơi nhiều làn ở độ cao 1.5 mét. Xuất xứ: Mexico .
Đầu đọc mã vạch 2 chiều (2D) Symbol DS6708
Giá: 5,355,000 VNĐ
Mua hàng
Đầu đọc mã vạch 2 chiều (2D) Symbol DS6708là thiết bị đọc mã vạch đọc đa hướng
.Sử dụng công nghệ chụp ảnh số (1.3M) để đọc các loại mã vạch 1 chiều, 2 chiều, PDF417
. Tốc độ quét 600 khung / giây, có thể đọc nhạy và chính xác mã vạch trong vùng từ 0-70cm
Đầu đọc mã vạch Symbol LS3408
Giá: 11,245,000 VNĐ
Mua hàng
• Hãng sản xuất: Symbol Motorola • Model: LS 3408 • Xuất xứ:Mexico
• Tốc độ: 36 scans/sec • Giao tiếp PC : USB ; Rs 232 ; Keyboard wedge
• Chịu rơi nhiều lần ở độ cao 1.5m • Chuyên sử dụng trong môi trường công nghiệp với tầng suất họat động cao • Bảo hành: 1 năm.
Đầu đọc mã vạch Symbol LS4208
Giá: 6,777,000 VNĐ
Mua hàng
Đầu đọc mã vạch Symbol LS4208 Là thiết bị đọc mã vạch 1 chiều, có dây, đọc đa tia,
Có khả năng đọc được tất cả các loại mã vạch 1 chiều, các mã vạch bị thu nhỏ kích cỡ (RSS) hoặc những mã vạch bị lỗi, mã vạch dạng PDF417, dạng PDF siêu nhỏ (microPDF).
LS4208 là thiết bị đọc mã vạch dạng cầm tay được thiết kế chắc chắn, có độ bền cao và đọc rất nhạy.
LS4208 giúp người sử dụng thu nhận và xử lý dữ liệu ở dạng mã vạch một cách nhanh ***ng và chính xác, giảm thiểu thời gian phải xử lý dữ liệu bằng tay, giảm chi phí bảo trì, qua đó làm tăng tính hiệu quả cho công việc.
Đầu đọc mã vạch đa tia symbol LS9208 / LS9203
Giá: 5,155,000 VNĐ
Mua hàng
Đầu đọc mã vạch đa tia symbol LS9208 / LS9203là thiết bị đọc mã vạch đa tia, đọc được tất cả các loại mã vạch 1 chiều.
Được thiết kế thành 1 khối chắc chắn hình hộp. Đây là dòng thiết bị mà hãng Symbol đã giới thiệu được cả 2 tính năng xử lý ở hiệu suất cao và là mẩu thiết bị đọc mã vạch đa tia quét 100 dòng để giúp tăng hiệu quả tại các quầy bán hàng, thanh toán,...vv
. LS9208 có chân đế linh họat có thể điều chỉnh để có thể đọc được ở nhiều góc độ tùy vào môi trường làm việc của người sử dụng.
Đầu đọc mã vạch đa tia symbol LS7708
Giá: 8,944,000 VNĐ
Tặng thẻ : mua hàng trị giá 150.000 vnđ
Mua hàng
Đầu đọc mã vạch đa tia symbol LS7708 Công nghệ : Laser đa tia Tốc độ tối ưu : 2400 scans/second
Độ bền cao : Khả năng đọc : chuẩn mã vạch 2 chiều Nối kết : Keyboard Wedge, USB, RS-232, Synapse, IBM 468X/9X
"Ứng dụng : Dùng trong môi trường có nhu cầu quét sản phẩm số lượng lớn như quầy thuốc, cửa hàng, siêu thị... Trọng lượng: 181g"
MÁY QUÉT MÃ VẠCH SYMBOL LS3578 - Chống sốc
Giá: 18,627,000 VNĐ
Mua hàng
MÁY QUÉT MÃ VẠCH SYMBOL LS3578 - Chống sốc Giải mã logic mờ (Fuzzy logic)
Đọc được tất cả các loại mã vạch 1D chỉ với 1 lần đọc, ngay cả với nhưng mã vạch có chất lượng in kém, bị bẩn, hư hỏng hoặc có đọ tương phản kém.
Tích hợp Bluetooth® Đảm bảo truyền tải dữ liệu không dây an toàn.
Đầu đọc mã vạch Không dây Symbol LI4278
Giá: 8,638,000 VNĐ
Tặng thẻ mua hàng trị giá 300.000vnđ
Mua hàng
Máy quét LI4278 nâng khả năng quét mã vạch 1D lên cấp độ tiếp theo, cho phép các nhân viên quét nhanh hơn và xa hơn vì họ có thể chụp gần như mọi mã vạch 1D.
Được tích hợp để sử dụng cả ngày và hàng ngày, máy quét LI4278 cung cấp khả năng không dây và tương thích với Bluetooth.
Máy cũng cung cấp mã hóa tốt hơn để tăng cường bảo mật và hiệu năng không dây tổng thể tốt hơn.
Máy quét LI4278 tương thích ngược với phụ kiện quan trọng của máy — đế giữ — hoạt động với các sản phẩm anh em của máy là LS4278 và DS6878.
Quản lý năng lượng pin ưu việt cho phép số lượt quét cao nhất trên mỗi lần sạc pin để hỗ trợ các ứng dụng cần quét nhiều. Bạn có thể sử dụng máy trong môi trường bụi bặm và ẩm ướt và máy có thể chịu rơi từ độ cao 6 fut/1,8 m.
Đầu đọc mã vạch 2 chiều Symbol DS3408
Giá: 14,590,000 VNĐ
Mua hàng
Đầu đọc mã vạch 2 chiều Symbol DS3408 của hãng Symbol
+ Là loại máy quét cho những ứng dụng yêu cầu thực thi cao.
+ Máy quét DS3408 có thể quét tất cả các loại mã vạch từ 1 chiều đến 2 chiều.
+ Với thiết kế dạng cầm tay, DS3408 mang lại sự nhanh ***ng và thuận tiện khi sử dụng.
Đầu đọc mã vạch Không dây Symbol LS4278
Giá: Call
Tặng 1 Quạt để bàn trị giá 450.000vnđ
Mua hàng
Máy quét LS4278 nâng khả năng quét mã vạch 1D lên cấp độ tiếp theo
. Cho phép các nhân viên quét nhanh hơn và xa hơn vì họ có thể chụp
gần như mọi mã vạch 1D
. Được tích hợp để sử dụng cả ngày và hàng ngày .
. Máy quét LI4278 cung cấp khả năng không dây và tương thích
với Bluetooth
. Máy cũng cung cấp mã hóa tốt hơn để tăng cường bảo mật
Các sản phẩm liên quan
Đầu đọc mã vạch Metrologic MS9590
Giá: 1,990,100 VNĐ
Máy quét mã vạch Honeywell (Metrologic) MS-9591
Giá: 2,591,000 VNĐ
Đầu đọc mã vạch Honeywell Xenon 1902 Wireless
Giá: 22,489,000 VNĐ
Máy đọc mã vạch Honeywell (Metrologic) MS-1250g
Giá: 2,317,000 VNĐ
Đầu đọc mã vạch đa tia Honeywell MS7120 Orbit
Giá: 5,809,000 VNĐ
Máy quét mã vạch 2 chiều Honeywell Xenon 1900
Giá: 6,264,000 VNĐ
Đầu đọc mã vạch cầm tay DATALOGIC QSImager QD2130
Giá: 2,955,000 VNĐ
Đầu đọc mã vạch để bàn Datalogic MAGELLAN 2200VS
Giá: 6,809,000 VNĐ
Máy quét mã vạch Datalogic Magellan™ 800i
Giá: 4,771,800 VNĐ
Đầu đọc mã vạch Datalogic PSC QS6000
Giá: 3,742,000 VNĐ
Đầu đọc mã vạch Datalogic/ PSC Powerscan LR
Giá: 13,230,000 VNĐ
Đầu đọc mã vạch không dây Datalogic Gryphone M100-RF
Giá: 13,230,000 VNĐ
Máy quét Denso GT15Q for US
Giá: Call
Denso AT10Q - máy quét di động
Giá: Call
Denso AT20B series- Máy quét đơn tia
Giá: Call
Denso AT20Q
Giá: Call
Đầu đọc mã vạch Zebex Z-3220
Giá: 899,000 VNĐ
Đầu đọc mã vạch Không dây Zebex Z 3191 BT
Giá: 6,990,000 VNĐ
Zebex Z3151 HS
Giá: 1,863,000 VNĐ
Đầu đọc mã vạch 2D Z3152
Giá: 6,445,000 VNĐ
Đầu đọc mã vạch không dây Zebex Z-3051BT
Giá: 7,445,000 VNĐ
Chọn Mua Sản phẩm theo thương hiệu
![[Image: datalogic_pr_187.png]](http://www.sieuthimasomavach.vn/view-150/datalogic_pr_187.png)
Khách hàng chọn mua sản phẩm thương hiệu top 5 với giá rẻ nhất
Sieuthimasomavach.vn là website chuyên sâu về các thiết bị mã số mã vạch, ở đó khách hàng sẽ tìm thấy những sản phẩm mã số mã vạch có thương hiệu và xuất xứ rõ ràng, đều thuộc top 5 chất lượng tốt nhất trên thế giới. Khách hàng chọn mua sản phẩm hoàn toàn yên tâm tuyệt đối vì:
1/ Uy tín công ty Tân Phát: đã có mặt trên 10 năm kể từ 2001, với đội ngũ kỹ sư am hiểu sâu về công nghệ. Điều này được nhiều KH từ đại siêu thị đến chuỗi các shop bán lẻ, các DN sx đã mua hàng từ nhiều năm nay
2/ Khách hàng sẽ mua được sp chất lượng tốt vì Tân Phát chủ yếu cung cấp sp thuộc top 5 thương hiệu.
3/ Khách hàng sẽ mua sp với giá cạnh tranh luôn thấp hơn thị trường vì Tân Phát luôn dẫn đầu về giá rẻ.[/COLOR]
Quan điểm kinh doanh và phương châm hoạt động của công ty Tân Phát dựa trên nền tảng của sự tin cậy và phát triển bền vững, hướng tới sự thành công của khách hàng, Chính vì điều đó Tân Phát ngày càng khẳng định vị trí là một nhà cung cấp số 1 tại miền Bắc cho những ai có nhu cầu sử dụng thiết bị và các ứng dụng công nghệ mã số mã vạch.
Tân phát cam kết với khách hàng
Sản phẩm thuộc top 5 thương hiệu chất lượng
Hàng có nguồn gốc xuất rõ ràng ( CO,CQ)
Hoàn trả, đổi hàng nếu sp không phù hợp
Khẳng định giá luôn rẻ nhất
Hoàn tiền nếu giá cao hơn thị trường
Cho mượn sản phẩm khi chờ bảo hành
Khách hàng có thể gọi bất cứ khi nào cho quản lý của chúng tôi nếu sai cam kết , theo số máy 0912270988 gặp chị Hồng
Từ khóa Đầu đọc mã vạch || Đầu đọc mã vạch rẻ nhất || Đầu đọc mã vạch dùng tốt nhất || Đầu đọc mã vạch kiểu dáng đẹp || Đầu đọc mã vạch đọc || Đầu đọc mã vạch tốc độ cao ||
|
|
|
| Cà dĩa hấp xốt kho quẹt |
|
Đăng bởi: sunlight878 - 06-06-2013, 03:33 AM - Diễn đàn: Ẩm Thực
- Không có trả lời
|
 |
Cà dĩa hấp bùi bùi, dẻo dẻo ăn với kho quẹt thơm lừng, nếu kèm theo vài loại rau củ hấp hoặc luộc nữa thì càng tuyệt.
![[Image: Cadiasotkhoquet.jpg]](http://saigonamthuc.vn/Pictures20136/HuongGiang/Cadiasotkhoquet.jpg)
Nguyên liệu:
- 3 trái cà dĩa
- 4 củ hành tím
- 4 muỗng nước tương hoặc nước mắm
- 2 muỗng nước cơm
- Tiêu, ớt, đường
Cách làm:
- Xốt kho quẹt: phi thơm củ hành tím băm nhuyễn rồi cho nước tương (nước mắm) và nước cơm vào (tạo độ sền sệt cho xốt), thêm chút đường, ớt và tiêu có độ cay vừa ăn.
- Cà dĩa rửa sạch hấp khoảng 15 phút, cắt làm tư, bày ra đĩa rồi rưới nước xốt kho quẹt lên. Dùng với cơm nóng rất ngon.
Mẹ Gấu
Nguồn: Ẩm thực
|
|
|
| Phước Báu |
|
Đăng bởi: lyquochoang - 06-06-2013, 03:25 AM - Diễn đàn: Tôn giáo & Tâm linh
- Không có trả lời
|
 |
Những "phước báu" chúng ta đã hưởng, đang hưởng, và sẽ hưởng, chính do chúng ta đã tạo trong nhiều kiếp trước và ngay trong kiếp này. "Mình làm mình chịu, mình làm mình hưởng" mới là lẽ công bằng tuyệt đối vậy.
Trong cuộc sống hằng ngày chúng ta thường nghe nói: Người này "có phước" quá, cho nên mới được vừa giàu sang, vừa học giỏi, vừa đẹp đẽ, vừa mạnh khỏe, vừa may mắn, cầu con được con, cầu của được của, vạn sự như ý, tùy tâm mãn nguyện. Hoặc cũng có khi chúng ta nghe nói: Người này "bạc phước" quá, cho nên làm chuyện gì cũng thua lỗ, tính toán việc gì cũng hỏng, muốn gì cũng không nên, cầu gì cũng chẳng được, tai họa xảy ra tới tấp, gặp xui xẻo liên miên! Khi được may mắn, khi được sung sướng, khi được những sự như ý, khi được tất cả những điều gọi là "có phước", người đời thường nghĩ rằng, cho rằng: mình có phước báu như vậy là do trời thương, trời ban cho mình! Những người đó không chịu tìm hiểu thêm: Tại sao ông trời lại thương mình và ban cho mình phước báu như vậy, mà không ban cho biết bao nhiêu người khác? Như vậy có phải là bất công chăng? Như vậy có đúng chăng? Tại sao con người lại có ý nghĩ như vậy?
Sở dĩ con người có ý nghĩ như vậy là do tâm ích kỷ nhiều đời, do tập khí tham lam bỏn sẻn, do tánh ganh tị đố kỵ mà ra. Con người khi được sung sướng, thì mặc kệ người khác ra sao, chẳng bận tâm đoái hoài, đó là tâm ích kỷ. Con người khi được toại nguyện, muốn gì được nấy, thì mặc kệ người khác ra sao, thậm chí trong lòng còn chẳng muốn ai khác được như vậy, đó là tập khí tham lam bỏn sẻn. Con người khi được thành công thắng lợi, thì mặc kệ người khác ra sao, chẳng muốn ai khác bằng mình hay hơn mình, đó là tánh ganh tị đố kỵ vậy.
Thực ra, không có ông trời, thượng đế, hay đấng tạo hóa nào làm những chuyện bất công, thiên vị như vậy. Những "phước báu" chúng ta đã hưởng, đang hưởng, và sẽ hưởng, chính do chúng ta đã tạo trong nhiều kiếp trước và ngay trong kiếp này. "Mình làm mình chịu, mình làm mình hưởng" mới là lẽ công bằng tuyệt đối vậy. Cũng không ít người thắc mắc: Làm sao biết mình "có phước" hay không? Làm sao để tạo phước? Đồng thời chúng ta cũng cần nên biết: thế nào là phước hữu lậu và thế nào là phước vô lậu? Và khi làm phước giúp đỡ ai điều gì, mình nên nguyện như thế nào?
* * *
Trên thế gian này, nếu ngước nhìn lên chúng ta sẽ thấy không biết bao nhiêu người giàu sang hơn mình, học thức hơn mình, khỏe mạnh hơn mình, sung sướng hơn mình, đẹp đẽ hơn mình, địa vị hơn mình, quyền thế hơn mình, may mắn hơn mình, nhàn nhã hơn mình, bình yên hơn mình, thông minh hơn mình, sáng suốt hơn mình, nhứt là không biết bao nhiêu người tu tập giác ngộ hơn mình, được an lạc và hạnh phúc hơn mình. Những người như vậy chính là những người "có phước" hơn mình. Trái lại, khi nhìn xuống chúng ta sẽ thấy không biết bao nhiêu người nghèo hèn hơn mình, dốt nát hơn mình, yếu đuối hơn mình, khổ sở hơn mình, xấu xí hơn mình, thấp kém hơn mình, cô thế hơn mình, xui xẻo hơn mình, cực khổ hơn mình, hoạn nạn hơn mình, đần độn hơn mình, tối tăm hơn mình, nhứt là không biết bao nhiêu người không được sống an lạc và hạnh phúc như mình. Những người như vậy chính là những người "bạc phước" hơn mình.
Như vậy, rõ ràng chúng ta được gọi là "có phước", hay đang thọ hưởng "phước báo", nếu như chúng ta có đủ tay chân, mắt mũi vẹn toàn, cơm ăn áo mặc, khỏe mạnh ít đau, sống lâu trăm tuổi, tâm trí bình thường, gia đình hạnh phúc, cuộc sống tương đối đầy đủ, cuộc đời tương đối bình yên, không gặp hoạn nạn, không gặp hiểm nguy, không gặp tai biến, không gặp chiến tranh, không gặp đói khát, không gặp kẻ thù, không gặp thiên tai, hỏa hoạn động đất, bão lụt cuồng phong. Khi nào bị đau mắt, không còn nhìn thấy được gì nữa cả, chúng ta mới thấy giá trị của đôi mắt, giá trị của thị giác, mà hằng ngày chúng ta không lưu tâm. Đến khi gặp thầy gặp thuốc, được chữa lành bệnh, đôi mắt trở lại như xưa, chúng ta mới thấy là mình đang "có phước"! Hoặc khi nào bị bệnh bại xụi cả hai chân, không còn đi đứng được bình thường, phải dùng xe lăn. Đến khi khỏi bệnh, được bình phục như xưa, chúng ta mới thấy là mình đang "có phước"!
Thí dụ như trên một chuyến máy bay, một chuyến tàu thủy hay một chuyến xe lửa gặp tai nạn, hằng trăm người thương tích tử vong, những người được sống sót chính là những người "đại phước" vậy. Họ là những người theo đủ mọi tôn giáo, thuộc đủ mọi sắc dân, thuộc đủ mọi thành phần trong xã hội, gồm đủ mọi lứa tuổi, nhưng điểm quan trọng là: chính họ đã "tu nhơn tích phước" nhiều đời nhiều kiếp trước, mới được sống còn như vậy, chứ không phải do họ cầu nguyện van xin thánh thần thiên địa gì cả, dù là chí thành và khẩn thiết lắm, trong lúc ngộ nạn, mà được đâu! Chúng ta thử suy nghĩ: trong khi lâm nạn, người thì cầu Đức Mẹ cứu giúp, người thì cầu Bồ Tát Quán Âm cứu tai, cứu khổ, cứu nạn. Vậy, khi cả hai người cùng thoát được nạn, vị nào thực sự đã tế độ họ?
Thực sự chính "phước báo" của mỗi người đã cứu chính họ mà thôi. Người có "phước báo" nhiều hơn, thoát nạn một cách an ổn hơn. Người có "phước báo" ít hơn, thoát nạn với một chút sây sát. Người hết phước báo, không phước báo, thì đã vong mạng!
Thậm chí trong số những người tử vong trong các tai nạn, nhiều trường hợp có cả các chức sắc thuộc các tôn giáo, có cả những người đã từng đại diện thượng đế tha tội cho nhiều người khác! Còn chính họ có tội nghiệp, đến lúc phải trả, vẫn phải đền trả quả báo, nghiệp báo như mọi người khác vậy! Chúng ta đọc báo cũng thấy có những chuyến hành hương cầu nguyện của các tôn giáo, bị lật xe trên đường đi hoặc trên đường về, gặp nạn hỏa hoạn tại thánh địa, tại khu vực hành lễ, khiến cho hàng trăm người, hàng ngàn người tử vong thương tích. Điều này giúp cho chúng ta nhận định rất rõ ràng rằng: con người tạo nghiệp báo, dù vô tình hay cố ý, cho đến lúc quả báo chín muồi, lại không có phước báo che chở, thì cầu nguyện van xin cũng chẳng ích lợi gì, chẳng có hiệu quả gì.
Trong Kinh Pháp Cú, Đức Phật có dạy: "Dù lên non, xuống biển, vào hang, nghiệp báo vẫn theo con người như hình với bóng, không ai có thể tránh được".
Nghĩa là nếu như con người không biết tu nhơn tích phước, chỉ lo tạo tội tạo nghiệp, trong cuộc sống đấu tranh giành giựt hằng ngày, cho đến khi quả báo thuần thục, không ai có thể tránh được, dù cho người đó là bất cứ ai trong thế gian này, không phân biệt vua quan, chức quyền hay thường dân, giàu sang hay nghèo hèn, học thức hay bình dân, nam phụ lão ấu, tín đồ hay chức sắc!
Có ông Liêm Sứ ở Hồng Châu, đến hỏi Thiền sư Mã Tổ Đạo Nhất: Uống rượu ăn thịt là nên hay không nên? Mã Tổ Đạo Nhất đáp: Uống rượu ăn thịt là cái "lộc" của ngài. Không uống rượu ăn thịt là cái "phước" của ngài! Có phước mới hưởng lộc. Có phước mới trường thọ. Không phước sao được hưởng lộc, sao được trường thọ? Như vậy, chúng ta đã tạm hiểu thế nào là "có phước". Bây giờ chúng ta thử tìm hiểu vấn đề: trong cuộc sống hằng ngày, những phương cách nào, những pháp môn nào, những việc làm nào, những hành động nào, những lời nói nào, hay những ý nghĩ nào có thể tạo "phước báu", công năng và ích lợi của "phước báu" như thế nào?
1) Trước tiên là Bố Thí. Hạnh bố thí là nền tảng của tất cả các hạnh lành, là căn bản của việc thực hành giáo pháp, luôn luôn được đề cập đến trong Phật giáo. Bản chất của con người thế gian là luôn luôn muốn có, muốn thêm, muốn nữa, không bao giờ thấy đủ, không bao giờ thỏa mãn với những gì mình đang có. Cho nên, nếu được lên thiên đàng, nếu được về cõi tây phương, mà vẫn còn giữ lòng tham như vậy, gọi là "đới nghiệp vãng sanh", thì con người vẫn thấy khổ đau như hiện đời vậy thôi. Muốn được an lạc hạnh phúc hiện đời, ngay tại thế giới ta bà này, hãy vui thích với những gì mình đang có, bởi vì mình không thể có những gì mình thích. Mong cầu nhiều, mơ ước nhiều, chỉ thêm nhiều đau khổ mà thôi. Thực là đơn giản!
Đạo Phật dạy hạnh bố thí để giúp con người dẹp lòng tham lam ham muốn, ích kỷ hẹp hòi, gồm có tham tiền tài, tham sắc đẹp, tham danh vọng, ham ăn ham uống, ham ngủ ham nghỉ. Đạo Phật dạy hạnh bố thí để đem lại an lạc và hạnh phúc cho người đời. Tại sao vậy? Bởi vì với lòng tham ngũ dục: tài, sắc, danh, thực, thùy, nói trên, con người trên thế gian phải đấu tranh, giành giựt, phải dùng mọi thủ đoạn để thỏa mãn, bất chấp sự đau khổ của kẻ khác, bất chấp sự an nguy của chính bản thân, với bất cứ giá nào, cũng phải đoạt cho bằng được sự như ý! Không được thỏa mãn, con người dễ nổi lòng sân hận, thù đời ghét người, oán trời trách đất! Hạnh bố thí giúp con người hiểu được ít nhiều sự an lành thiết thực của người và của chính mình như thế nào. Cái gì mình tiêu xài thì đã qua mất rồi. Cái gì mình đang có, chưa chắc giữ được lâu dài, nhưng chắc chắn rằng sẽ để lại, khi qua đời. Chỉ có những gì mình đã bố thí, đã cho ra, mới thực sự là "của mình", mới thực sự là "phước báu", và sẽ đến với mình qua các dạng: bình yên may mắn, tai qua nạn khỏi, cầu gì được nấy, trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta.
Trong khi thực hành hạnh bố thí, chúng ta đừng nên thắc mắc: nếu mình quyên góp tiền bạc cho một người hay một tổ chức nào đó, để làm việc từ thiện, nhưng họ không làm đúng như lời họ nói, thậm chí họ còn lợi dụng lòng tốt của nhiều người để thủ lợi, làm việc sai trái, thì mình có được "phước báu" hay không? Tại sao vậy? Bởi vì khi chúng ta tự nguyện, phát tâm tùy hỷ, đóng góp tịnh tài cho một việc từ thiện, cứu người giúp đời, với tâm vị tha bất vị kỷ, vì người quên mình, vì muốn giúp người, không vì phước báu cho mình, thì chúng ta đã có "phước báu" ngay tại chỗ đó rồi, ngay từ lúc phát tâm tùy hỷ như vậy đó. Còn chuyện người đó, chùa đó, tổ chức đó, có làm đúng hay không, tội nghiệp họ tạo, quả báo họ sẽ tự nhận. Nhân nào quả nấy. Chúng ta không cần phải bận tâm!
Chúng ta cũng được hiểu thế nào là "phước điền" cao thượng nhứt, đó là những "ruộng phước" đem lại nhiều "phước báu" nhứt, khi hành động tạo phước của chúng ta hướng đến. Cũng ví như người nông dân hiểu biết đám ruộng nào phì nhiêu, trồng trọt sẽ cho năng suất cao nhứt. Phước điền cao thượng đó chính là bốn ơn nặng, hay tứ trọng ân, gồm có: ơn cha mẹ, ơn thầy bạn, ơn xã hội, ơn tam bảo. Hạnh bố thí dù là tài thí, pháp thí hay vô úy thí, đều đem lại "phước báu" vô lượng vô biên, nếu như mình làm hạnh bố thí với thiện tâm, trực tâm và bồ đề tâm. Nghĩa là tạo được bao nhiêu "phước báu" do hạnh bố thí, chúng ta đều nên phát tâm "hồi hướng" cho toàn thể chúng sanh trong pháp giới đồng thọ hưởng. Có như thế, quả báo phước đức sau này, còn gọi là phước báo, mới thực sự to lớn. Tại sao vậy? Bởi vì không giữ riêng cho mình, dù là "phước báu" do chính mình tạo nên, có nghĩa là mình đã diệt được lòng tham. Khi lòng tham đã diệt được, sự giải thoát mới hoàn toàn, phước báo mới vô lượng vô biên vậy.
2) Thứ hai là Trì Giới. Trì giới là nghiêm chỉnh ăn ở theo đúng giới luật của Phật Tử, dù là cư sĩ tại gia, hay tu sĩ xuất gia. Nhờ đó, trong cuộc sống, chúng ta không làm tổn nhơn, hại vật, trong khi tạo ích lợi cho mình. Đó là cách tạo "phước báu" vô cùng vô tận, không thể nghĩ bàn. Thí dụ như chúng ta trì giới không nói dối, không nói lời xuyên tạc, thêm bớt, vu cáo, để buộc tội, vu oan cho kẻ khác phải chịu nhiều đau khổ, cho thỏa mãn lòng căm tức của chúng ta đối với người đó, dù cho đó là kẻ thù, hay kẻ mình không ưa cũng vậy. Thí dụ như người tu sĩ Phật giáo cố gắng giữ gìn giới hạnh trong sạch, cuộc sống thanh tịnh, chăm lo tu học, không tham gia hoạt động thế sự, không lo chuyện thế gian, không ham danh văn sĩ, thi sĩ, tiến sĩ gì gì đó với đời, thì vị tu sĩ đó đem lại biết bao nhiêu "phước báu" cho chính bản thân, cho đồng bào Phật Tử và cho đạo pháp.
Được như vậy, không cần đợi đến kiếp mai sau, mà ngay hiện tại, trên cuộc đời này, ở tại nơi đây, trong kiếp sống này, chúng ta có thể thọ hưởng "phước báu" của một nếp sống giới hạnh. Lợi ích của giới đức phát sanh ngay trong hiện tại. Hiện tại rất quan trọng đối với người biết sống trong tỉnh thức, biết quán sát nội tâm, biết giữ gìn giới hạnh. Quá khứ đã trôi qua, nhớ nhung tiếc nuối chỉ phí phạm thời giờ, chẳng những điên rồ, mà đôi khi còn tạo nghiệp xấu, vì những chuyện tức giận, thù hận đã qua. Trong khi đó, tương lai chỉ là viễn ảnh mơ hồ, không có gì cố định, không có gì chắc chắn. Người nào hẹn đến khi có tuổi rồi, mới cạo đầu vào chùa bắt đầu tu, cũng là người đang sống trong mơ, đang trong cơn mê. Tại sao vậy? Bởi vì có ai biết được chắc chắn mình sống đến bao lâu? Trong khi đó, chúng ta có thể tạo "phước báu" bằng cách tu tâm dưỡng tánh, ngay hiện tại, trong cuộc sống hằng ngày, đừng đợi đến ngày nào cả. Tu tâm dưỡng tánh được ngày nào, chúng ta hưởng "phước báu" ngay ngày đó, thì tại sao phải hẹn? Vã lại tu tâm dường tánh đâu phải là việc dành riêng cho các tu sĩ, hoặc đâu phải cạo đầu vào chùa mới gọi là tu! Các bậc tôn túc thường nhắc nhở chúng ta: "tu mau kẻo trễ" và "tu trong mọi hoàn cảnh", chính là nghĩa đó vậy.
Chẳng hạn như trước đây, chúng ta thích bàn chuyện thị phi, phải quấy, tốt xấu, thích xen vào chuyện của thiên hạ thế nhân, cho nên lắm khi gặp rắc rối, tranh cãi, đôi co, mích lòng, có khi dẫn tới chuyện kiện tụng lôi thôi. Bây giờ chúng ta hiểu được giáo lý đạo Phật, biết rằng tu tâm dưỡng tánh đem lại nhiều "phước báu" hiện đời, có thể thực hành trong mọi hoàn cảnh, chúng ta quyết tâm dừng ngay, chừa bỏ tất cả, thì cuộc sống sẽ an lạc và hạnh phúc, không còn phiền não và khổ đau nữa. Giới luật ví như hai đường sắt của một tuyến xe lửa. Chiếc xe lửa nào, chạy đúng đường sắt, sẽ chạy ngon lành, đến nơi đến chốn, bình yên vô sự. Chiếc nào mà chạy, trật khỏi đường rầy, tức nhiên lật gọng, tai nạn thê thảm. Cũng vậy, những người Phật Tử, dù tại gia cư sĩ, hay xuất gia tu sĩ, trì giới thanh tịnh, sẽ tu tinh tiến, kết quả rõ ràng, bớt chuyện phiền não, giảm thiểu khổ đau, chóng được niết bàn, an lạc hạnh phúc, ngay tại hiện đời.
3) Thứ ba là nhẫn nhịn. Có người quan niệm: nhịn thì nhục, cự thì đục. Họ cho rằng nếu nhịn được đằng chân, chúng sẽ lân đằng đầu, được nước lần này chúng sẽ làm tới lần sau, nhịn hoài chúng sẽ cho là mình ngu, cho là mình hèn, làm sao nhịn nổi, tại sao phải nhịn chứ? Chính quan niệm như vậy khiến cho cuộc đời luôn luôn đầy dẫy những tranh chấp, cãi vã, hơn thua, kiện tụng, đấu tranh, cho nên thường dẫn đến phiền não và khổ đau. Thực ra, chính vì con người không thể thực hành được "hạnh nhẫn nhịn" cho nên mới có quan niệm như trên. Người ta mắng mình một tiếng, mình trả một miếng, có khi nhiều hơn, thì dễ dàng quá. Người ta hành động, không tốt với mình, mình liền trả đũa, hết sức nặng nề, cho thiệt hả giận, cho thực đã nư, thì dễ dàng quá. Nhưng còn tiếp theo, sau đó thì sao? Câu chuyện như vậy, biết đến bao giờ, mới được chấm dứt, và dứt thế nào? Người ta lỡ lầm, vi phạm tội ác, mình đòi trừng phạt, cho thiệt xứng đáng, phanh thây xẻ thịt, treo cổ bắn bỏ, đày xuống địa ngục, bỏ tù rục xương, rủa xả chửi mắng, tưng bừng tơi tả, thì hãy thử nghĩ: ai ác hơn ai?
Có những người trên thế gian này xin ân xá cho kẻ phạm tội đã giết người thân của mình, bởi vì những người đó đã biết cảnh mất người thân, đau khổ như thế nào, nên không muốn gia đình phạm nhân lâm vào cảnh ngộ bi thương đó. Chúng ta đọc báo thấy thực sự có những người như vậy, nhưng rất hiếm hoi!
Trong Kinh Pháp Cú, Đức Phật có dạy:
Lấy oán báo oán, oán nghiệp chập chùng.
Lấy ơn báo oán, oán nghiệp tiêu tan.
Người ta mắng mình một tiếng, nếu mình nhịn được, không trả một miếng, mới thực là khó. Người ta hành động, không tốt với mình, mình không hành động, giống y như vậy, mới thực là khó. Hơn nữa, nếu người ta gặp, khó khăn hoạn nạn, mình sẵn sàng giúp, thực tâm thực tình, hết lòng hết dạ, lại càng khó hơn. Làm được như vậy, mọi chuyện bình yên, tiếp theo sau đó. Câu chuyện thù oán, chắc chắn chấm dứt, một cách êm đẹp, nhẹ nhàng dễ dàng.
Trong Kinh Pháp Cú, Đức Phật có dạy:
Thắng vạn quân không bằng tự thắng mình.
Tự thắng mình là điều cao quí nhứt.
Nghĩa là tự kềm chế bản thân, tự kềm chế hành động, tự kềm chế ngôn ngữ, tự kềm chế ý nghĩ của chính mình, mới thực là khó. Con người thường bị tâm tham lam, tâm sân hận và tâm si mê sai khiến, điều khiển, cho nên cuộc đời mới gặp nhiều phiền não và khổ đau. Khi tâm tham khởi lên, khi tâm sân khởi lên, khi tâm si khởi lên, người nào tỉnh thức, tự kềm chế được, tự hóa giải được, thì cuộc sống sẽ an lạc hạnh phúc. Chiến thắng được tâm tham lam, sân hận, si mê của chính mình, mới thực sự gọi là "có phước", mới thực sự đem lại an lạc và hạnh phúc cho cuộc đời mình. Cho nên cổ nhân có dạy: "Một sự nhịn chín sự lành", chính là nghĩa đó vậy.
Khi chiến thắng được tâm tham chẳng hạn, không đi ăn trộm, không chôm chỉa đồ, không gạt gẫm người, con người khỏi gặp rắc rối với pháp luật. Khi chiến thắng được tâm sân chẳng hạn, không chửi mắng đánh đập, không trả thù người khác, không thưa gửi kiện tụng, không gây thêm phiền não, không tạo thêm kẻ thù, không tăng thêm nghiệp báo, không chuốc thêm oán hờn, không làm chuyện càn dỡ, con người được thoải mái bình yên. Khi chiến thắng được tâm si chẳng hạn, không mê tín dị đoan, không uống nước sông suối, chẳng có chút vệ sinh, lại cho là nước thánh, không tin chuyện huyễn hoặc, không tin thiên linh chuỗi, chẳng có căn cứ, con người được bình tĩnh, tâm trí sáng suốt. Nhờ đó, con người sẽ ăn được ngon, ngủ được yên. Sách có câu: "Ăn được ngủ được là tiên". Đó là "phước báu" do chính mình tạo nên, không do trời ban, không do cầu nguyện.
4) Thứ tư là Tinh tấn. Tinh tấn nghĩa là siêng năng, cần mẫn tu tâm dưỡng tánh trong mọi hoàn cảnh, trong mọi động tác, đi, đứng, nằm, ngồi, để ngăn chận ba nghiệp, không tạo thêm tội lỗi, nghiệp báo mới. Không phải đợi đến lúc quỳ trước bàn Phật, hay đi đến chùa, hoặc dự các khóa tĩnh tâm, mới gọi là tu! Tu như vậy ít quá, một tháng mới có một khóa tu, một tuần mới đến chùa một lần, một ngày niệm hương trước bàn thờ, hay ngồi thiền, chừng một tiếng đồng hồ, 23 tiếng còn lại, tha hồ để tâm trí dong ruổi theo những ý nghĩ tạp nhạp, thương người này, ghét người khác, thị phi phải quấy, tâm trí bất định. Đến khi nghịch cảnh xảy đến, tai nạn giáng xuống, không đủ năng lực để đối phó, tâm trí của chúng ta sẽ xáo trộn, bất an, đương nhiên dẫn đến khổ đau và than trời trách đất. Sách có câu: "Mấy người lòng dạ tinh ma. Đã làm phải chịu, kêu mà ai thương", chính là nghĩa đó vậy.
Chúng ta tinh tấn làm tất cả các điều thiện, dù lớn dù nhỏ, cứu người giúp đời, làm cho cuộc sống của chính mình và của những người chung quanh, có ý nghĩa hơn, an lạc hơn và hạnh phúc hơn. Chúng ta tinh tấn diệt trừ những tạp niệm vọng tưởng, thường xúi giục chúng ta tạo thêm nghiệp báo xấu, để cho chính mình và những người chung quanh bớt lo âu, phiền muộn vì những hành động sai khiến bởi tâm tham, tâm sân và tâm si của mình. Chúng ta thử nghĩ: thực hành hạnh tinh tấn như vậy, có phải chúng ta được vô lượng vô biên "phước báu" chăng? Và nhờ hạnh tinh tấn, chúng ta không nản lòng trên đường tu tập các hạnh lành, dù gặp biết bao nhiêu nghịch cảnh trở ngại. Cho nên trong đạo Phật, hạnh tinh tấn được tượng trưng bởi Bồ Tát Đại Lực Đại Thế Chí, là vị Bồ Tát có năng lực tinh tấn lớn lao, có ý chí siêu xuất thế gian, dũng mãnh tiến bước không lui, trước mọi nghịch cảnh, trước mọi nghiệp chướng.
5) Thứ năm là Thiền Định. Thiền định nghĩa là trau giồi tâm tánh cho được tự tại, cho được bình tĩnh thản nhiên, trước mọi hoàn cảnh của cuộc sống. Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta thường gặp những bước thăng trầm, những sóng gió của cuộc đời, chẳng hạn như lúc thịnh lúc suy, lúc được danh dự lúc bị hủy báng, lúc được khen tặng lúc bị chỉ trích, lúc được sung sướng lúc bị khổ đau. Trong kinh sách gọi đó là "bát phong", thường làm cho tâm trí của chúng ta bị bất an, chao đảo, dao động, xao xuyến, xáo trộn.
Cho nên đạo Phật dạy nhiều phương pháp để hàng phục và an trụ tâm, tùy theo căn cơ, trình độ, hoàn cảnh, sở thích, tâm nguyện của mỗi người, gọi là vô lượng pháp môn. Chẳng hạn như pháp môn tịnh độ dạy chúng ta tụng kinh, niệm Phật để định tâm. Khi chúng ta tụng kinh, thân ngồi ngay ngắn, nghiêm trang, miệng đọc lời Phật dạy trong kinh, tâm chú ý vào lời kinh và tiếng chuông mõ, nên không còn nghĩ ngợi linh tinh lang tang, tư tưởng không còn chạy lung tung nữa. Như vậy có nghĩa là tam nghiệp, gồm thân khẩu ý của chúng ta, đều được thanh tịnh.
Kinh sách có câu:
Tam nghiệp hằng thanh tịnh.
Đồng Phật vãng tây phương.
Nghĩa là khi ba nghiệp của chúng ta luôn luôn thanh tịnh, không còn tạo nghiệp nữa, thì "phước báu" vô lượng vô biên, chúng ta cùng chư Phật sống trong cõi tịnh độ tây phương. Hoặc khi tâm trạng bị hoang mang, lo lắng, sợ sệt, xôn xao, chúng ta dùng câu niệm Phật để định tâm, để trấn áp những tâm trạng bất an vừa kể.
Ở đây, cần biết thêm rằng không phải chúng ta tụng kinh để cho Đức Phật nghe! Cũng không phải chúng ta niệm Phật để cho Đức Phật tính sổ, coi chúng ta niệm được bao nhiêu câu, cộng được bao nhiêu chuỗi mỗi ngày! Kinh điển ghi lại lời dạy của Đức Phật cốt để hướng dẫn chúng ta tu tâm dưỡng tánh, điều trị tâm bệnh của chúng sanh, ví như toa thuốc của bác sĩ để điều trị thân bệnh, chứ không phải để đọc đi, đọc lại, tụng cho bác sĩ nghe!
Mục đích chúng ta tụng kinh, niệm Phật là để hàng phục và an trụ tâm, chuyển hóa từ kẻ phàm phu tục tử, trầm luân đau khổ, thành người trí tuệ, giác ngộ giải thoát. Hàng phục và an trụ được tâm, chúng ta mới có được cuộc sống phước báu, an lạc và hạnh phúc.
Cũng với mục đích hàng phục và an trụ được tâm, thiền tông dạy chúng ta "tứ oai nghi thiền". Nghĩa là trong bốn oai nghi, gồm có: đi, đứng, nằm, ngồi, trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta luôn luôn giữ gìn tâm được chánh niệm, không loạn tưởng, không tạp niệm, như vậy sẽ được chánh định. Cho nên mỗi khi tạp niệm, vọng tưởng khởi lên, chúng ta liền biết ngay và dừng lại, không bị luồng tư tưởng lăng xăng lộn xộn đó dẫn đi. Thí dụ như khi đang ngồi chơi, bỗng dưng chúng ta nhớ tới chuyện thù oán năm xưa, tâm trí liền xao xuyến với ý nghĩ trả thù phục hận! Nếu chúng ta không thức tỉnh dừng lại ngay, thì luồng tư tưởng này sẽ tiếp tục dẫn chúng ta đi tới ý nghĩ tìm cách nào để trả thù, cho đáng đời kẻ đã hại mình, đã thưa gửi mình ra tòa, đã vu oan giá họa cho mình, đã cáo gian mình, và hậu quả là chúng ta tạo thêm nghiệp báo! Cuộc đời chắc chắn sẽ gặp nhiều khổ đau! Tây phương có câu: "Do not mess up your beautiful life!", chính là nghĩa đó vậy.
Trong Kinh Kim Cang, Đức Phật có dạy:
Quá khứ tâm bất khả đắc.
Hiện tại tâm bất khả đắc.
Vị lai tâm bất khả đắc.
Nghĩa là: Chuyện quá khứ qua rồi đừng luyến tiếc, đừng nhớ nghĩ làm gì cho bận tâm, chỉ gieo thêm nghiệp chướng chứ chẳng ích lợi gì. Chuyện hiện tại rồi cũng qua mau, cố níu kéo cũng chẳng được, có lo âu phiền muộn cũng chẳng ích lợi gì. Chuyện tương lai chưa đến, lo lắng, ưu tư, sầu muộn cũng chẳng giúp ích được gì. Chi bằng chúng ta giữ gìn tâm trí được như như, bình tĩnh, thản nhiên, có phải khỏe hơn không? Chuyện gì phải tới nó sẽ tới, lo sợ cũng chẳng ngăn cản được đâu. Tốt nhứt chúng ta đừng tạo thêm tội nghiệp mới, thì khỏi phải lo sợ quả báo, tội báo, nghiệp báo sẽ đến!
Trong Kinh Pháp Cú, Đức Phật có dạy:
Lấy oán báo oán, oán nghiệp chập chùng.
Lấy ơn báo oán, oán nghiệp tiêu tan.
Nghĩa là chuyện oán thù trong quá khứ chỉ nên cởi mở, không nên kết chặt thêm. Thí dụ như trong gia đình trước kia có chuyện bất hòa, tranh chấp, chúng ta bèn bỏ nhà đi xa. Khi có dịp trở về quê hương viếng thăm, chúng ta mang theo quà cáp với tấm lòng từ bi hỷ xả, một trời thương nhớ, quên hết chuyện không vui trong quá khứ, tức nhiên mọi chuyện sẽ trở nên êm đẹp vui vẻ. Tâm trí của chúng ta sẽ an lạc hơn, cuộc đời sẽ hạnh phúc hơn.
Ở đây, cần biết thêm rằng thiền tông không dạy tọa thiền như con cóc, từ giờ này sang giờ khác, chẳng hiểu mục đích để làm gì, ngoài chuyện đem khoe khắp nơi khắp chốn? Chính thiền tông dạy chúng ta ngồi thiền để "chăn trâu", để thúc liễm thân tâm, tức là dẹp trừ tạp niệm và vọng tưởng, với mục đích hàng phục và an trụ tâm. Hơn thế nữa, không phải chỉ có lúc ngồi thiền mới dẹp trừ tạp niệm và vọng tưởng mà thôi. Trong đời sống hằng ngày, lúc tiếp xúc với ngoại cảnh, lúc thấy hình sắc, lúc nghe âm thanh, lúc ngửi mùi, lúc nếm vị, lúc xúc chạm, chúng ta luôn luôn giữ gìn tâm trí được bình tĩnh thản nhiên, không xao xuyến, không loạn động. Nếu trong tâm "lỡ" nổi loạn, tạp niệm khởi lên, chúng ta liền biết ngay và dừng lại kịp thời, thì đó chính là thiền định vậy.
Tổ Điều Ngự Giác Hoàng, tức là Hoàng Đế Trần Nhân Tôn nhường ngôi, đi tu, trở thành Sơ Tổ Thiền Phái Trúc Lâm, có dạy rằng:
Cư trần lạc đạo thả tùy duyên
Cơ tắc xan hề khốn tắc miên
Gia trung hữu bảo hưu tầm mích
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.
Nghĩa là dù sống trên trần đời, muốn được vui theo đạo lý, hãy đừng chấp chặt, tùy duyên hành sự, tùy hoàn cảnh mà ứng xử. Chẳng hạn như đói đến thì ăn, mệt ngủ khò. Chẳng có gì đòi hỏi, chẳng có gì buồn lo, chẳng có gì bận tâm, chẳng có gì ưu phiền. Trong mỗi con người chúng ta, ai ai cũng có "của báu", đó chính là "con người chân thật" của chúng ta. Cho nên chẳng cần chạy vào chùa, hay lên non lên núi, tìm kiếm làm gì cho mất công, nhọc sức vô ích. Trong cuộc sống hiện nay, đối với các cảnh trần đời, chúng ta đừng khởi vọng tâm lăng xăng lộn xộn, thương thương ghét ghét, phải quấy thị phi, tranh đua hơn thua. Lúc đó, chính là lúc chúng ta đạt được thiền định, hiểu được và sống được với "con người chân thật" của chính mình. Đó chính là mục đích cứu kính của đạo Phật vậy.
6) Thứ sáu là Trí tuệ. Trí tuệ trong đạo Phật, kinh sách gọi là trí tuệ bát nhã, không phải sự hiểu biết, kiến thức, trí thức của thế gian. Ở thế gian, người trí thức là người học cao hiểu rộng, có bằng cấp các ngành, nhưng vẫn sống trong trong sanh tử luân hồi, thường gặp phiền não khổ đau. Trí tuệ trong đạo Phật là sự nhận thức sáng suốt, đưa con người đến chỗ giác ngộ và giải thoát, được an lạc và hạnh phúc. Người có trí tuệ là người có chánh kiến, nghĩa là người thấy muôn pháp, biết muôn việc "đúng như thực", không mê lầm điên đảo, không mê tín dị đoan, không nhận giả làm chân, không chấp chặt thành kiến. Chẳng hạn như khi thấy việc gì xảy đến cho mình hay cho người, chúng ta biết ngay rằng: đó là kết quả hay hậu quả của một việc hay nhiều việc đã làm trước đây. Không bao giờ tự nhiên có khói, mà không do lửa phát sanh. Không bao giờ tự nhiên có sóng, trong khi gió lặng yên. Không bao giờ tự nhiên có cái cây mọc lên, mà không có hạt giống trong đất trước đó. Nhờ đó, chúng ta không ngạc nhiên, khi có chuyện may mắn đến, cũng như không đau khổ, khi có chuyện xui xẻo xảy ra.
Trong Kinh Hoa Nghiêm, Đức Phật có dạy:
Chư pháp tùng nhân duyên sanh.
Chư pháp tùng nhân duyên diệt.
Nghĩa là mọi việc muôn sự trên thế gian này, trong kinh sách gọi là chư pháp, tùy theo nhân duyên mà sanh ra, cũng tùy theo nhân duyên mà diệt đi. Không có việc gì sanh diệt mà không có nguyên nhân. Không có cái gì, vật gì, việc gì tự nhiên xảy ra, tự nhiên sanh ra, tự nhiên xuất hiện. Không có cái gì, vật gì, việc gì tự nhiên biến mất, tự nhiên diệt đi, tự nhiên không còn nữa. Chẳng hạn như khi thấy một tòa nhà sụp đổ, một tình bạn kết thúc, chúng ta hiểu ngay phải có nguyên nhân và cũng hiểu rằng không có chuyện gì trên đời tồn tại vĩnh viễn. Nhờ đó, chúng ta có thể giữ gìn được tâm trí bình tĩnh thản nhiên, khi mọi chuyện tang thương biến đổi xảy ra trong cuộc đời.
Không có cái gì, vật gì, việc gì do ông trời, do thượng đế sanh ra cả. Chẳng hạn như một cơn mưa do hội đủ nhân duyên mà có, chứ làm gì có ông thần mưa, ông thần gió, ông thần sấm, ông thần sét, ông thần sông, ông hà bá, như người xưa tin tưởng, khi khoa học chưa phát triển. Bây giờ con người còn có khả năng làm mưa nhân tạo, ở bất cứ nơi nào, bất cứ lúc nào. Tại sao thượng đế làm ra cuồng phong, bão tố, lũ lụt, động đất, để giết hại con người? Thượng đế vẫn còn nổi cơn thịnh nộ, nổi cơn sân hận, để giáng họa trừng phạt con người ngoan cố, không nghe theo, không làm theo, như vậy có khác gì những kẻ phàm phu tục tử ở trên đời này, hay nổi sân hận, khi gặp chuyện không vừa ý?
Nếu chỉ đọc giáo lý của đạo Phật và chỉ biết Phật giáo qua lý thuyết, ắt là không đủ. Không học hiểu giáo lý, không thực sự biết Phật giáo như thế nào, chỉ nhắm mắt làm theo những tập tục cổ truyền một cách máy móc, tức nhiên là sai lầm và thiếu sót nặng nề. Học mà không hành thì khác nào cái đãy sách, cái tủ sách, cái tàng kinh các. Hành mà không học hiểu, khác nào người đi trong đêm tối, không có đèn đuốc, đụng đầu lọt hố, bất cứ lúc nào! Trọng Phật tin Phật mà không nghe Pháp học Pháp, như vậy chưa phải là đệ tử chơn chánh của Đức Phật. Vì không nghe Pháp học Pháp, làm sao thực hành đúng theo lời Phật dạy được? Do đó, con người sống mãi trong vô minh, mờ mịt u tối, si mê lầm lạc, bao giờ mới giác ngộ và giải thoát được, bao giờ mới hết phiền não giảm khổ đau được?
Chư Tổ có dạy: Tu mà không học là tu mù. Học mà không tu là đãy sách, chính là nghĩa đó vậy.
Chúng ta cần phải phát tâm học Phật Pháp, nếu muốn có được trí tuệ "đúng như thực", còn gọi là "trí tuệ bát nhã". Đó chính là "phước báu" tối thượng. Người có trí tuệ bát nhã, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách. Nghĩa là con người muốn được tự tại, muốn không sợ hãi, muốn qua mọi khổ ách, thì phải có trí tuệ bát nhã, thấy tất cả các pháp đều không thực, không tồn tại vĩnh viễn, không cố định. Cái thân ngũ uẩn của chúng ta cũng là một trong các pháp trên thế gian, cho nên cũng sẽ biến hoại sau một thời gian tại thế, không có gì đáng luyến tiếc, than thở, khổ đau. Chỉ có "con người chân thật không sanh diệt" mới là cứu kính mà thôi. Đó là những lời dạy vô cùng quí báu của Đức Phật, đó là bản đồ hướng dẫn chúng ta đạt được cuộc sống an lạc và hạnh phúc, tiến đến chỗ giải thoát và giác ngộ.
Tóm lại, trong cuộc sống hằng ngày, có rất nhiều cơ hội, có rất nhiều cách, có rất nhiều phương pháp, để cho con người làm phước, tạo phước, kiếm phước. Dù là phước hữu lậu hay vô lậu, đều có công năng giúp con người có cuộc sống bình yên, ít đau khổ, bớt phiền não, để tiến tới chỗ giải thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi. Phước hữu lậu do những việc làm tạo sự an vui thoải mái, có ích lợi cho người, giúp đỡ người lúc gặp khó khăn về vật chất hay tinh thần. Phước hữu lậu có công năng đem lại sự may mắn, tai qua nạn khỏi, chuyện lớn hóa nhỏ, chuyện nhỏ hóa không, bớt oan trái, giảm nghiệp báo. Người làm phước với ước mong được hưởng phước về sau, đó là phước hữu lậu, còn trong vòng sanh tử luân hồi.
Phước vô lậu do những việc làm có ích lợi cho người, nhưng đồng thời cũng chuyển hóa được con người chính mình, thí dụ như bố thí cúng dường, tụng kinh niệm Phật, tư duy thiền quán, tu tâm dưỡng tánh. Người làm phước với tâm từ bi hỷ xả, không cầu mong được hưởng phước về sau, chỉ cố gắng tu học để tiến dần đến chỗ giác ngộ và giải thoát, đó là phước vô lậu, vượt khỏi vòng sanh tử luân hồi. Trong lúc thực hiện hành động tạo phước, không nghĩ rằng mình đang làm phước, giúp đỡ người khác vì tình thương, do lòng tốt tự nhiên, với tâm bất vụ lợi, vì người quên mình, đó là hành động tạo phước cao thượng nhứt, đem lại "phước báu" vô lượng vô biên, không thể nghĩ bàn.
Phước hữu lậu ví như tiền tiết kiệm, có khả năng giúp con người giàu sang, sung sướng, may mắn, bình yên. Hưởng phước này có ngày cũng cạn, cũng dứt. Khi đó, con người sẽ phải đền trả những nghiệp báo trước kia. Chúng ta đã từng thấy các ông vua, các bà hoàng, các hoàng tử, các công chúa, các nhà giàu có trưởng giả, thế lực quyền quí, cao sang danh vọng, các lãnh tụ chính trị, các lãnh tụ tôn giáo, khi hưởng hết phước báo hữu lậu, họ phải chịu nhiều tai nạn, khổ ách, tán gia bại sản, thân bại danh liệt, thậm chí có thể mất mạng thê thảm, không chỗ chôn thân!
Trong Kinh A Hàm, Đức Phật có dạy:
"Con người khi đang hưởng phước báo, cũng như mũi tên bắn lên không trung. Mũi tên bay lên rất nhanh, rất mạnh, cũng như con người gặp mọi sự may mắn, tốt đẹp, như ý. Đến khi phước báo hết, con người bắt đầu đền trả nghiệp báo, cũng như mũi tên hết trớn thì rơi xuống đất cũng nhanh như vậy", chính là nghĩa phước hữu lậu đó vậy.
Bởi vậy cho nên, Đức Phật dạy chúng ta khi làm phước, đừng mong cầu hưởng phước báo, mà nên nguyện được phước duyên, đời đời gặp Chánh Pháp, gặp thầy lành bạn tốt, giúp đỡ tu tập, cho đến ngày giác ngộ và giải thoát, mà thôi.
Điều dĩ nhiên ai ai cũng có thể hiểu được là: tất cả những hành động nào, những lời nói nào, những ý nghĩ nào, ngược lại với việc tạo "phước báu", chính là hành động, lời nói, ý nghĩ, tạo tội lỗi, tạo nghiệp báo xấu vậy! Tội lỗi là do hành động, lời nói hay ý nghĩ làm cho mình, cho người khác đau khổ trong hiện tại và vị lai, dù vô tình hay cố ý.
Trong Kinh A Hàm, Đức Phật có dạy: "Chỉ có phước báo mới có thể giảm thiểu nghiệp báo mà thôi".
Con người tạo tội nghiệp từ trước, đến lúc phải đền trả quả báo, nhẹ thì bị chửi mắng, đau yếu, nặng thì gặp tai nạn, thậm chí mất mạng. Tội nghiệp do con người tạo tác, sanh ra tội báo nghiệp báo, được ví như một nắm muối. Nếu phải bị nuốt nắm muối đó, thì con người sẽ đau khổ biết là dường nào. Nhưng nếu có thể bỏ nắm muối đó vào trong một tô nước rồi uống, thì có lẽ sẽ dễ chịu hơn một chút. Nếu có thể bỏ nắm muối đó vào trong một lu nước rồi uống, thì chắc sẽ dễ chịu hơn một chút nữa. Nếu bỏ nắm muối đó vào trong một hồ nước lớn, rồi từ từ uống, thì chuyện sẽ không còn thành vấn đề. Tô nước, lu nước, hồ nước tượng trưng cho "phước báu", do chính chúng ta tạo được ít hay nhiều, sẽ giúp chúng ta tai qua nạn khỏi, chịu đựng được quả báo, do tội nghiệp đã tạo trước đây. Chuyện lớn sẽ hóa nhỏ, chuyện nhỏ sẽ hóa không, chuyện khó sẽ hóa dễ. Chứ không phải chúng ta tạo tội nghiệp đầy dẫy trong cuộc đời, gây đau khổ cho không biết bao nhiêu người thân kẻ thù, dù cho nhân danh công lý lẽ phải, trả thù báo oán, gì gì đi nữa, rồi đến lúc giựt mình thức tỉnh, bèn đem tất cả tội lỗi đã tạo, giao cho Trời Phật gánh giùm, chịu tội thế cho mình, bằng cách đi chùa cúng kiến, đi nhà thờ xưng tội, "thì mà là" tất cả tội lỗi đó tiêu tan hết đâu? Con người thường có thói quen "quịt nợ", cho nên mới có ý nghĩ như vậy!
Luật nhân quả không bao giờ sai chạy, dù cho con người tu hành đắc thánh quả, vẫn phải chịu quả báo do những tội nghiệp đã gây nên, từ nhiều đời nhiều kiếp trước kia. "Chỉ có phước báo mới có thể giảm thiểu nghiệp báo mà thôi". Chúng ta nên ghi nhớ lời Đức Phật đã dạy. Đọc lịch sử, chúng ta cũng đã nhận thấy, ngay cuộc đời của Đức Phật, cũng như các vị giáo chủ khác, vẫn bị người đời gièm pha, vu khống, mạ lỵ, chửi bới, ám sát, xét xử, giam cầm, giết hại. Nếu là bậc "phước tuệ lưỡng toàn" như Đức Phật, nghĩa là phước báu và trí tuệ đầy đủ, thì mọi chuyện trở ngại trên thế gian này rồi cũng qua, cuộc đời kết thúc một cách êm đềm, bình an, tự tại. Nếu không có đủ phước báo thì, dù là bất cứ ai, cũng sẽ bị xử chết một cách thê thảm!
Khi Đức Phật còn tại thế, có người ngoại đạo đến hỏi Đức Phật: Ngài có kinh điển nào đem đọc tụng, có thể giúp cho đệ tử của Ngài vãng sanh niết bàn được không? Đức Phật trả lời rõ ràng: KHÔNG! Tại sao vậy? Bởi vì con người hiền thiện, biết tu tâm dưỡng tánh khi còn sinh thời, tâm tư thanh thản, nhẹ nhàng, thì nhứt định kiếp sau sẽ sinh ở cõi lành. Con người hung ác, luôn luôn làm việc lợi mình hại người, bất chấp thủ đoạn, bất kể sự phiền não khổ đau của tất cả mọi người, thì nhứt định kiếp sau sẽ sinh vào tam đồ ác đạo, gồm có: địa ngục, ngạ quỉ và súc sinh. Thí dụ như dầu nhẹ hơn nước thì nổi trên mặt nước, đá nặng hơn nước thì chìm dưới đáy nước, không nghi ngờ gì cả, không thể nào khác hơn được. Đó là chân lý công bằng tuyệt đối vậy.
Cuối cùng, vấn đề sau hết là sự khác nhau giữa "phước báu" và "phước báo". Phước báu là từ ngữ chỉ những hành động, lời nói và ý nghĩ, thiện lành quí báu, tạo phước trong hiện tại, ví như chúng ta làm việc, kiếm tiền sinh sống, có dư dả thì để dành về sau. Phước báo là từ ngữ chỉ kết quả, còn gọi là quả báo lành, quả báo phước đức, do những hành động, lời nói, hay ý nghĩ thiện lành, từ nhiều đời trước cũng như đời này, đến với chúng ta qua các dạng: thới hên, may mắn, bình yên, an ổn, đẹp đẽ, vui vẻ, khỏe mạnh, hạnh phúc, giàu sang, sung sướng, nhàn nhã, trường thọ, trong cuộc đời hiện tại, ví như tiền tiết kiệm chúng ta dành dụm được từ trước đến nay, bây giờ đem ra xử dụng khi cần thiết.
|
|
|
| Người đàn bà chữa bệnh bằng tụng kinh, niệm Phật |
|
Đăng bởi: lyquochoang - 06-06-2013, 03:24 AM - Diễn đàn: Tôn giáo & Tâm linh
- Không có trả lời
|
 |
Bà Lê Thị Tâm (76 tuổi ở ngõ 78, phường Phương Mai, quận Đống Đa, TP Hà Nội) từng bị bệnh ung thư cổ tử cung ác tính, đã đi phẫu thuật tại Bệnh viện Phụ sản T.Ư. Khi phẫu thuật xong, bà ăn chay niệm Phật tự điều trị vết thương cho mình. Cũng bằng phương pháp đó, bà đã giúp đỡ hàng chục người nhiễm HIV trở lại với cuộc sống...
Từng bị 15 bệnh quái ác
Bà Lê Thị Tâm sinh ra và lớn lên ở miền quê nghèo xã Quảng Ngọc, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa. Năm bà 18 tuổi, tỉnh đội Thanh Hóa về thôn bà để tuyển dân quân đi công tác tại tỉnh Thái Nguyên. Khi đó bà Tâm chỉ cao 1m45, nặng 35kg, không đủ tiêu chuẩn tuyển. Thấy bà khóc nức nở, vì không được chọn, người chỉ huy an ủi bà và bảo, nếu bà nâng được cái cối đá nặng gần 50kg họ sẽ đề xuất với lãnh đạo cho bà đi dân quân lần này. Mọi người hoàn toàn bất ngờ trước việc cô gái nhỏ bé lại có thể nâng được một vật lớn hơn cả cân nặng của mình.
Sau đó bà được nhận đi dân quân trên Thái Nguyên. Tuy sức vóc bà nhỏ bé, nhưng trong đơn vị bà làm việc không kém bất kỳ chị em nào. Lần nào đơn vị thi bắn, bà cũng đạt số điểm cao nhất, ba vòng mười. Năm 1965, bà được cơ quan cử đi học cơ điện tại thị xã Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Học xong bà được phân công làm Trưởng ban Giám sát điện năng quận Hai Bà Trưng, TP Hà Nội.
Nhưng rồi bệnh tật đã khiến bà phải rời xa công việc. "Tôi đang khoẻ mạnh bình thường, không hiểu sao bệnh tật lại nhiều thế. Ban đầu là bệnh viêm đầu thống, rối loạn thần kinh tiền đình, sau đó là hàng chục căn bệnh nan y khác. Trong đó, bệnh lao phổi là nguy hiểm nhất, bảy năm trời tôi đi hết bệnh viện này, đến bệnh viện khác để chụp chiếu, điều trị. Khổ nỗi cứ chữa được bệnh này khỏi, bệnh khác lại phát sinh. Lúc cao điểm nhất tôi bị không dưới 15 bệnh", bà Tâm nhớ lại.
Bà Lê Thị Tâm cho chúng tôi xem kết quả chụp phim, khối u đã không còn trên cơ thể bà.
Tìm đường đến Phật
Người viết bài không có ý định cổ súy cho mê tín dị đoan, mà chỉ nói về đức tin về thần Phật của một con người, để chiến thắng bệnh tật. Vốn từng tham gia nhiều hoạt động xã hội, từng vào sinh ra tử trong chiến tranh chống thực dân Pháp, bà Tâm chưa bao giờ tin vào tâm linh, cũng như thánh thần. Khi bệnh tật trong người làm sức lực kiệt quệ, bà Tâm đã đi đến nhờ nhiều bệnh viện chữa trị, trong suốt nhiều năm trời, nhưng bệnh tình càng ngày nặng hơn. Vì thế bà đã tìm đến thần Phật.
Bà Tâm đến gặp hòa thượng Thích Tâm Tịch (trụ trì chùa Quán Sứ lúc đó), giảng giải cho bà về kiếp luân hồi của con người, nói về khổ đau của người bệnh là có từ kiếp trước. Đồng thời, hướng dẫn cho bà Tâm cách đọc kinh sách để giảm đi nỗi đau bệnh tật. "Thay vào việc đến các bệnh viện điều trị bệnh, tôi ở nhà tụng kinh. Và điều kỳ diệu đã diễn ra, trong suốt 10 năm tôi không phải đi bệnh viện, sức khoẻ của tôi ổn định", bà Tâm nhớ lại.
Nhưng bệnh tình của bà Tâm cũng chỉ được ổn định được một thời gian. Đến tháng 10/2010, khi bà đang làm việc bỗng thấy âm hộ bị ra máu, các con bà thấy lo lắng quá đưa bà sang Bệnh viện Thanh Nhàn để khám, họ nghi vấn bà bị ung thư cổ tử cung và giới thiệu cho bà sang Bệnh viện K (Hà Nội). Theo kết luận của Bệnh viện K, bà bị bệnh ung thư cổ tử cung ác tính. Cả gia đình giấu không cho bà biết vì sợ bà bị sốc, suy sụp.
Trái với sự lo lắng của mọi người, bà Tâm điềm tĩnh, hằng ngày bà vẫn ăn uống, làm việc bình thường. Mọi người trong gia đình muốn đưa bà đi phẫu thuật càng sớm càng tốt. Nhưng bà Tâm cương quyết không đến viện phẫu thuật, thay vào đó mỗi khi lên cơn đau bà mang kinh sách ra tụng. Mỗi lần tụng kinh cơ thể bà dễ chịu bớt đau đi nhiều. Tuy nhiên, căn bệnh của bà đã trầm trọng, khối u trên cơ thể của bà đã chuyển sang giai đoạn cuối, hoại tử, vỡ ra và chảy như một vòi nước. Nhờ các con đưa đi cấp cứu bà mới thoát khỏi cái chết. Sau đó bà được phẫu thuật tại Bệnh viện Phụ sản T.Ư.
Bà Tâm từng xạ trị tại Bệnh viện Bạch Mai.
Khỏi bệnh nhờ niệm Phật?
Bà Tâm cho biết, bởi căn bệnh ác tính mang phải, ngay sau phẫu thuật xong, bà phải chuyển sang Bệnh viện Bạch Mai để xạ trị bằng máy gia tốc. Theo phác đồ điều trị của BS Phương khi đó, bà phải xạ trị 30 lần. Nhưng bà mới xạ trị chưa được nửa số đó thì vùng tiết niệu bị phù, không thể đi tiểu. Cơ thể mệt mỏi, bà đã xin với bác sĩ không xạ trị nữa. Bà không còn sức lực để điều trị. Về nhà hằng ngày bà mang các loại sách kinh Phật để tụng niệm, kết hợp với ăn đậu đen rang vàng, hạ thổ và uống thuốc Đông y.
Bà Tâm lấy cho chúng tôi tờ giấy kiểm tra sức khoẻ tại Bệnh viện Thanh Nhàn cuối năm ngoái, thật bất ngờ, khối u của bà đã biến mất hoàn toàn trên cơ thể. Sức khoẻ của bà ổn định. Đến khi nhìn vào tờ kết quả đó bà cũng không ngờ kỳ diệu đến thế. Bà Tâm bảo, nhiều người cho rằng bà khỏi căn bệnh nan y đó là nhờ thần Phật cứu giúp. Nhưng với bà đơn thuần đó là sự lạc quan, tin tưởng vào cuộc sống. Bà chưa bao giờ tuyệt vọng kể cả trong sự đớn đau tận cùng của cơ thể. Bà khỏi bệnh nhờ kết hợp Đông y, Tây y và Phật pháp.
Hằng ngày bà Tâm tụng kinh Phật.
Tụng kinh, niệm Phật chữa... HIV
Tôi thực sự bất ngờ khi bà Tâm nói rằng phương pháp niệm Phật đã giúp cho nhiều người có căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS khoẻ mạnh và tin yêu trong cuộc sống. Từ năm 2006, bà Tâm đã kết hợp với GS.TS Phan Thị Phi Phi (trường Đại học Y Hà Nội), Trung tâm Nghiên cứu Tiềm năng Con người, áp dụng phương pháp tụng kinh niệm Phật để chữa trị cho những người bị HIV/AIDS.
Năm 2006, các nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu trên 28 bệnh nhân nhiễm HIV, trong đó có 20 trường hợp nhiễm bệnh sớm và trung gian, 8 trường hợp muộn mới xét nghiệm. 23 bệnh nhân đầu tiên đều được xét nghiệm 2 lần (trước và sau tụng niệm). Kết quả cho thấy, đa số các bệnh nhân khi tụng kinh, niệm Phật đều tăng các thành phần miễn dịch tế bào, đặc biệt họ không chuyển sang giai đoạn AIDS, sức khoẻ của họ tốt hơn trước đó. Tuy nhiên, theo bà Tâm đó là những kết quả ban đầu.
Bà Tâm bảo, căn bệnh này y học hiện đại của thế giới cũng đã phải bó tay, nhưng điều kỳ diệu là bà đã truyền cho họ ngọn lửa của tình yêu cuộc sống. Nhờ tụng niệm mà nhiều người từ sức lực kiệt quệ, muốn tìm đến cái chết đã sống khoẻ mạnh.
Theo sự chỉ dẫn của bà Tâm, chúng tôi đã đến gặp gia đình anh Nguyễn Quốc Khanh (thôn Mạch Tràng, xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, TP Hà Nội). Anh Khanh buồn bã cho biết, mấy năm trước vì bị bạn bè rủ rê đi chơi bời, quan hệ tình dục với gái mại dâm nên anh đã mắc bệnh. Năm 2007, thấy trong người mệt mỏi, đi khám mới biết mình bị nhiễm HIV. Thật buồn bã thay, người vợ và con trai út của anh cũng bị nhiễm bệnh. "Tôi vốn hiền lành, khi bị bệnh mọi người rất bất ngờ. Trước đây sức khoẻ của tôi rất yếu, chỉ nằm một chỗ. Từ khi gặp bà Tâm, bà đã dạy tôi đọc kinh Phật. Vì thế sức khoẻ và tinh thần được nâng cao. Hơn một năm nay tôi đã đi làm, có lương hằng tháng để nuôi vợ con", anh Khanh cho biết.
"Theo đạo Phật thì con người có số phận, bệnh tật là do Nghiệp gây ra. Nếu ai đó tu dưỡng, trì tụng bằng kinh Phật tốt thì Nghiệp có thể thay đổi, bệnh tật có thể sẽ khỏi. Và nếu như ai đó muốn thực hiện phương pháp này đầu tiên phải có đức tin, tin tưởng vào Phật pháp mới giúp con người ta chiến thắng bệnh tật".
Bà Lê Thị Tâm- Báo Kienthuc
__________________
Tôn sư : ĐĐ . Thích Minh Thành
Sớm trống tối chuông, nhắc nhở khách trần qua biển khổ.
Câu kinh hiệu Phật, thúc giục người tục thoát sông mê.
|
|
|
| Tạo Table trong Sql Server bằng Script |
|
Đăng bởi: Uhm.Vn - 06-06-2013, 03:23 AM - Diễn đàn: Source - Script
- Không có trả lời
|
 |
Tạo Table trong Sql Server bằng Script
Để tạo Table trong Sql Server ta có thể dùng rất nhiều cách, cách thường dùng và đơn giản nhất đó là trong Sql Server Management Studio click chuột phải vào Tables của Database chọn New Table và sử dụng tool rất trực quan. Còn một cách khác nữa đó là tự viết Script để tạo Table.
Sau đây là hướng dẫn cơ bản tạo Table bằng Script.
* Cấu trúc cơ bản tạo Table
Create Table tên_bảng
(
Tên_cột_1 kiểu_dữ_liệu [các_thuộc_tính],
Tên_cột_2 kiểu_dữ_liệu các_thuộc_tính,
..
Tên_cột_n kiểu_dữ_liệu các_thuộc_tính,
Các_định_nghĩa
)
tên_cột là tên cột dữ liệu trong bảng,
kiểu_dữ_liệu là kiểu dữ liệu muốn định cho cột đó (nvarchar(50), int, real, ..),
[các_thuộc_tính] là các thuộc tính thiết lập cho cột đó ví dụ như giá trị mặc định (default value), cho phép tự tăng (increase), not null, … các thiết lập này có thể có hoặc không
Các_định_nghĩa có thể là thiết lập khóa chính (Primary key), khóa phụ (Foreign key), …
Ví dụ:
Create Table NhanVien
(
Manv int not null
Tennv nvarchar(50)
)
* Các thuộc tính thiết lập cho cột dữ liệu
- Not Null: không cho phép để trống khi nhập dữ liệu.
- Default: giá trị mặc định cho cột.
- Identity(a,b): giá trị tự động tăng (a: giá trị khởi tạo, b: giá trị mỗi lần tăng).
- …
* Các định nghĩa thiết lập cho Table
- Thiết lập khóa chính (Primary key)
Primary key (tên_cột)
- Thiết lập khóa phụ (Foreign key)
Foreign key (tên_cột) References tên_bảng_tham_chiếu(tên_cột)
- Thiết lập khóa chính gồm nhiều cột
Constraint tên_khóa Primary key (tên_cột_1, ..)
Ví dụ:
Create Table NhanVien
(
Manv int Not Null Identity(1,1), -- Mã nhân viên kiểu int, không cho phép null, tự tăng 1,1
Tennv nvarchar(50) Not Null,
Diachi nvarchar(255),
Ngaysinh datetime,
Ngayvaolam datetime Default Getdate(), -- Ngày vào làm, mặc định là ngày nhập.
Maphong int Not Null,
Primary Key (manv), -- đặt manv là khóa chính
Foreign Key (maphong) References PhongBan(maphong) -- đặt maphong là khóa phụ tham chiếu cột maphong bên Table PhongBan
)
Trên đây chỉ là một số khái niệm cơ bản nhất khi tạo Table bằng Script, nếu muốn chi tiết và nâng cao hơn, xin mời bạn tham khảo thêm tại http://www.w3schools.com/sql/default.asp
Xin cảm ơn!
|
|
|
| Gái mại dâm cắn lực lượng chức năng khi bị bắt |
|
Đăng bởi: thanh0 - 06-06-2013, 03:21 AM - Diễn đàn: Hình Sự
- Không có trả lời
|
 |
Bị bắt quả tang khi đang hành nghề bán dâm, Phạm Thị Tuyết Mai (SN 1984) trú tại Văn Chấn, Yên Bái đã điên cuồng tấn công lực lượng làm nhiệm vụ bằng chiêu cắn vào người.
Sự việc xảy ra vào khoảng 10h30 phút sáng nay tại phòng 702 khách sạn Hoàng Lâm có địa chỉ tại Đình Thôn, Mỹ Đình, Từ Liêm khi tổ công tác của Đội ĐTHS CAH Từ Liêm kiểm tra hành chính khách sạn này và phát hiện 2 đôi nam nữ đang có hành vi mua bán dâm. Khi bị lập biên bản, Mai liên tục có hành vi chống đối như không mặc quần áo, chửi bới lực lượng làm nhiệm vụ và đỉnh điểm là cắn vào tay đồng chí Nguyễn Mạnh Cường và định cắn vào bụng đồng chí Trần Anh Huy nhưng chỉ làm rách áo đồng chí Huy.
![[Image: cancongan1.png]](http://media.tinmoi.vn//2013/06/05/cancongan1.png)
Vết răng trên tay đồng chí Nguyễn Mạnh Cường
Đưa Mai cùng gái mại dâm và khách mua dâm về trụ sở CAH Từ Liêm, Mai vẫn tiếp tục có hành vi chống đối, giả vờ ngất lăn ra sàn nhà, gào thét kêu đau để lực lượng công an không thể thực hiện việc tạm giữ.
Khi được hỏi tại sao lại có thái độ chống đối lực lượng làm nhiệm vụ, Mai nại ra rằng, lúc Mai 10 tuổi, đã bị bố dượng tra tấn, treo lên nóc nhà và dùng điện thắp sáng gí vào người nên thần kinh đôi lúc không bình thường. Khi tấn công lực lượng làm nhiệm vụ là do Mai không làm chủ được bản thân.
![[Image: cancongan2.png]](http://media.tinmoi.vn//2013/06/05/cancongan2.png)
Đối tượng Phạm Thị Tuyết Mai
Mai cùng với Đỗ Thanh H. đi cùng hiện đang làm tại một cơ sở kinh doanh tẩm quất thư giãn ở phố Cát Linh, quận Đống Đa. Trong cơ sở còn có Đinh Thị Ngọc Lan (SN 1993) trú tại Hà Nam và chính Lan là người đã rủ Mai và H. đi bán dâm, thỏa thuận và nhận tiền của khách mua dâm với giá 700.000/người một lượt bán dâm. Tổng cộng Lan đã thu của khách mua dâm là 2,3 triệu đồng.
Cơ quan CSĐT CAH Từ Liêm đã thu giữ tang vật, lấy lời khai các đối tượng liên quan, lập hồ sơ ban đầu, ra lệnh tạm giữ hình sự đối với Phạm Thị Tuyết Mai về hành vi chống người thi hành công vụ, Đinh Thị Ngọc Lan về hành vi môi giới mại dâm để tiếp tục điều tra làm rõ.
Theo: Tin Mới
|
|
|
| Thưởng thức cá tuyết tại Sài Gòn |
|
Đăng bởi: sunlight878 - 06-06-2013, 03:20 AM - Diễn đàn: Ẩm Thực
- Không có trả lời
|
 |
Thời mở cửa, người tiêu dùng thông minh gặt lợi nhiều hơn hại. “Hứng” cá tuyết là một minh chứng điển hình.
Cá tuyết, một loại sinh vật máu lạnh sống được và tập trung nhiều nhất dưới lòng biển Bắc cực lạnh giá đang tấp nập “lội” ngược về các nước nhiệt đới. Vì sao?
![[Image: catuyet-b.jpg]](http://saigonamthuc.vn/Pictures20136/NgocLinh/catuyet-b.jpg)
Mê mải cá tuyết hấp muối Hồng – Kông! - Ảnh: Tạ Tri
Nhiều trang mạng chuyên theo dõi trữ lượng hải sản đã phân tích và dự báo: “Trữ lượng cá tuyết đã tăng đến mức quá cao. Cá tuyết thường ăn các loài như cá ốt vảy lông, cá trích, cá redfish, cá tuyết haddock, tôm và thậm chí cả cá tuyết con, gây khó khăn trong việc quản lý các nguồn lợi thủy sản khác... Cá tuyết cỡ vừa và cỡ lớn chủ yếu được bán dưới dạng cá muối và cá khô tại Na Uy. Cá cỡ nhỏ hơn được dành làm nguyên liệu XK (xuất khẩu) sang Châu Âu và Trung Quốc. Phần lớn cá khai thác được là cá cỡ lớn và cỡ vừa, ngoài ra còn nguồn cá cỡ lớn NK (nhập khẩu) từ Nga...” (Lược trích: “Nguồn cung cá tuyết đang ở mức quá cao”, từ IntraFish.com).
Đồng thời, ngày 03/08/2012, Globalcentury.com.vn đã đăng: “...Năm 2013, hạn ngạch khai thác cá tuyết biển Barents (phía Bắc Na Uy và Nga) - ngư trường cá tuyết lớn nhất thế giới, là 940.000 tấn, tăng 25% so với năm 2012. Iceland (thuộc Bắc Âu) cũng dự định tăng nguồn cung cá tuyết. Từ 1/9/2012, chính phủ nước này nâng hạn ngạch cá tuyết lên 196.000 tấn, tăng 22,5% so với hiện tại. Dự kiến năm 2016, Iceland sẽ khai thác 250.000 tấn cá tuyết.” ( Trích: “Cá tuyết: sản lượng khai thác tăng, giá giảm”).
Thế nhưng ông Trần Quang Hùng, giám đốc Tiếp thị một công ty xuất nhập khẩu ở quận Phú Nhuận, TP.HCM, chuyên cung cấp cá tuyết Nga thì cho rằng, đó là “chiêu trò” của các nhà cung cấp lớn. “Ở xứ Bạch Dương, chính phủ chỉ cho phép ngư dân khai thác cá tuyết theo mùa, mùa khai thác cá tuyết Nga từ tháng 05 đến tháng 10. Cấm đánh bắt vào mùa sinh sản từ tháng 12 đến hết tháng 02”, ông Hùng cho biết.
Lên tàu, cá phải được cấp đông ở âm 40 độ C, để giữ độ tươi tuyệt đối. Đến khi nằm trong vỉ/khay, những khoanh hoặc cả con cá tuyết được đóng gói, hút chân không cẩn thận, chỉ “ngủ” ở kho lạnh, đúng “hai mươi lăm độ âm”. “Có vậy, lúc “thượng đế” cố... đánh thức (xả đông) thì cá vẫn còn máu tươi, có thể ăn tái ngon lành.”, ông Hùng quả quyết.
Được biết, khu vực châu Á, Nhật Bản và Trung Quốc là hai quốc gia tiêu thụ mạnh cá tuyết. Riêng một số doanh nghiệp đất nước “hoa anh đào” còn mua cá nguyên liệu của Nga, thuê nhà xưởng và công nhân Việt gia công rồi xuất đi khắp thế giới.
Bởi thế người Nhật có một loại nước tương đặc chế (sauce teriyaki), rất hợp với da thịt cá tuyết. Khiến một số đầu bếp gốc Hoa giàu kinh nghiệm ở Sài Gòn, cũng phải mỉm cười... “hỉ xả”, đi mua thứ nước sốt này. Đó là loại nước tương đậu nành được lên men thủ công có màu nâu đen sóng sánh, pha với ít nước đường thắng, sữa chua, bột ngọt... tạo hương vị thơm béo dịu dàng cùng độ chua thanh, hậu ngọt. Khoảng giữa, là những cung bậc: mặn, đắng nhẹ và beo béo. Có bán ở các cửa hiệu chuyên bán hàng cho người Nhật khu Lê Thánh Tôn - Thái Văn Lung (Q.1), với giá tầm 82.000 đồng/chai 300ml.
![[Image: catuyet-2b.jpg]](http://saigonamthuc.vn/Pictures20136/NgocLinh/catuyet-2b.jpg)
Áp chảo với nước tương Nhật cực ngon! - Ảnh: Tạ Tri
Bạn chỉ cần rưới vài ba muỗng cà phê nước xốt ấn tượng này lên khứa cá tuyết cỡ 300gr, sau khi khử tanh bằng nướng ấm pha nước cốt gừng củ (đã) nướng sơ và ớt hiểm giã, đem áp chảo khoảng 10 -15 phút, có thể ... “đoái công chuộc tội” với người ấy!
Gặp size cá 3kg/con, xả phi - lê làm món lúc lắc cùng ít khoai tây, ớt Đà Lạt hoặc chiên lửa lớn ngập dầu (để cá nhanh vàng, không kịp mất chất ngọt béo tự nhiên), rưới ít xốt nước cam nóng hôi hổi và thơm quyến rũ lên... Ăn chơi hay ăn thiệt đều ngất ngây!
Thịt cá trắng như bông bưởi, phô bày những sớ thịt chắc nịch, “bùa ngải” bằng vốn tự có: ngọt bùi lẫn béo đậm mà thanh thoát, không gây ớn ngán như mỡ các loại cá nuôi bị thúc ép thức ăn viên.
Dường như có luật bù trừ, ngư tuyết da đen tựa thổ dân châu Phi (Patagonian toothfish) thịt luôn hấp dẫn hơn tuyết chấm đen (cod). Bởi thế, giá chúng cũng một trời một vực: 840.000 đồng/kg so với 250.000 - 270.000 đồng/kg. Gặp thời buổi “thắt lưng buộc bụng”, nên “tuyết bông” được nhiều đôi tay hiền dịu “nâng đỡ” lẫn ánh nhìn thân thiện hơn.
Nếu chưa tiếp cận nguồn cá tuyết Nga giao lẻ tận nhà hay quá bận rộn, bạn có thể thưởng thức với giá chấp nhận được tại các nhà hàng bình dân Nướng Nam bộ (Q.3 và Q.5, TP.HCM).
Cũng không hiểu tụi gấu Bắc cực dạo này bận rộn việc gì, mà để đám cá “tuyết đốm” tăng đàn đến chóng mặt như vậy. Hay chúng bắt đầu ngán “cơm - ngư tuyết”? - Thế lại hay, dân ta có dịp thưởng thức hương vị những “nàng” tuyết tươi nguyên, giá vừa phải.
Những ai chịu khó sống chậm, có thể gia tăng thêm nghị lực phấn đấu trước nghịch cảnh tiền mất giá - việc kén người; cũng như trong giá lạnh đến tê buốt, đàn cá tuyết tự... “đẻ” ra một hoạt chất chống đông, thong dong “an cư lạc nghiệp”.
Tạ Tri
Nguồn: Ẩm thực
|
|
|
| Đâm chết người vì nghĩ ở tù được ăn no ngủ kỹ |
|
Đăng bởi: thanh0 - 06-06-2013, 03:15 AM - Diễn đàn: Hình Sự
- Không có trả lời
|
 |
Sau một hồi cãi vã bất phân thắng bại, anh Dui đã lôi việc trước đây Thu có nhận của Dui nửa con lợn rừng với lời hứa vào rừng xẻ gỗ cho Dui, nhưng Thu cố tình không thực hiện. Dui hăm dọa: "Mi mà không đi xẻ gỗ cho tao, tao sẽ tố mi với làng phát vạ".
Những xã vùng cao của huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam vốn được coi là rốn hủ tục của tỉnh Quảng Nam. Dư luận cả nước vẫn còn chưa hết bàng hoàng trước sự việc một bé trai suýt bị chôn sống theo người mẹ đã chết tại xã Trà Cang, huyện Nam Trà My, Quảng Nam, thì mấy hôm gần đây, nơi vùng núi cao hẻo lánh này, hung thủ Nguyễn Văn Thu (SN 1979, nóc (xóm) Ông Tiến, thôn 4, xã Trà Dơn, huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam) lại thản nhiên gây ra một thảm án chỉ vì tức nhau chuyện nửa con lợn rừng. Bằng một nhận thức về pháp luật hết sức lệch lạc, hung thủ cho rằng chuyện giết người là chuyện bình thường, rằng "được đi tù, có khi còn sướng hơn ở nhà phải chịu đói"...! Nhưng lần gây án này, hắn đã để lại một nỗi đau quá lớn, khiến 2 người vợ mất chồng, con mất cha...
Trọng án nơi "rốn" hủ tục Quảng Nam
Xuất phát từ thành phố Tam Kỳ lúc 7h sáng, nhưng mãi đến 3h chiều chúng tôi mới đến được trung tâm của xã Trà Dơn, huyện Nam Trà My (Quảng Nam). Để đến được nóc Ông Tiến, chúng tôi còn phải lội bộ đường rừng mất 3 tiếng đồng hồ nữa, theo cách nói của người dân nơi đây là đi đoạn đường khoảng 2 khăn vắt vai. Nghĩa là, thời gian đi hết quãng đường này bằng 2 lần vắt khăn ướt trên vai cho đến khi khăn khô. Đường núi gập ghềnh, khúc khuỷu, cái nắng mùa hè ở miền Trung như thiêu như đốt. Điều khiến chúng tôi muốn đến tận nơi thảm án, là bởi nạn nhân và kẻ gây án đều là người dân tộc Ca Dong, sống ở nơi được gọi là "rốn" hủ tục ở Quảng Nam.
Dù đã là thế kỷ XXI, nhưng nơi đây vẫn còn những quan niệm và hành xử đến xót xa. Phụ nữ "đến tháng" không được sang nhà khác, không được bước lên nhà trên. Đàn bà lỡ mang bầu "không chính chủ" thì phải rời làng vào rừng mà sinh nở, không được cung cấp gạo muối, thuốc men. Con sinh ra chưa rụng rốn, vợ chồng chưa mổ heo cúng đặt tên con thì không được uống nước chung với làng. Sinh con được 7 ngày thì mẹ phải đặt chân con xuống đất rồi cõng lên lưng mà đi làm nương rẫy...
Thấy cán bộ ở dưới xuôi lên, người dân trong nóc tò mò kéo đến rất đông. Những khuôn mặt đen đúa, tiếng Kinh pha lẫn tiếng Ca Dong, Xê Đăng, M'Nông... Họ thật thà, chất phát đến lạ... Dù diễn đạt không trôi chảy nhưng anh Hồ Văn Lim (SN 1985, thôn 4, Trà Dơn) kể khá rành rọt những gì anh chứng kiến sau buổi tiệc cưới kinh hoàng ấy.
Vào sáng 17-4-2013 tại nhà ông Máy ở thôn 4, xã Trà Dơn, huyện Nam Trà My có tiệc cưới, bà con trong thôn đến tụ tập uống rượu từ 7h30 cho đến 15h30 mới chịu kéo nhau ra về. Ngà ngà say, trên đường về, Nguyễn Văn Thu (SN 1979, nóc (xóm) Ông Tiến, thôn 4, xã Trà Dơn, huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam) đã va chạm với anh Hồ Văn Dui (SN 1975). Sau một hồi cãi vã bất phân thắng bại, anh Dui đã lôi việc trước đây Thu có nhận của Dui nửa con lợn rừng với lời hứa vào rừng xẻ gỗ cho Dui, nhưng Thu cố tình không thực hiện. Dui hăm dọa: "Mi mà không đi xẻ gỗ cho tao, tao sẽ tố mi với làng phát vạ".
Rồi khi Thu bị Dui đánh cho một cú đấm trời giáng vào mắt, Thu liền hậm hực bỏ chạy về nhà, lục tìm trong bếp con dao thái thịt mũi nhọn, cán gỗ dài 37cm để quay lại quyết chiến với Dui. Đến nơi, không để Dui kịp phản ứng, Thu vung dao chém vào vai trái của Dui. Và rồi trong con say tức, Thu tiếp tục bồi thêm một nhát dao chí mạng vào bên lồng ngục trái của Dui... Sau khi gây án, Thu thản nhiên về nhà, thay chiếc áo dính máu đang mặc trên người rồi lên giường đi ngủ. Đến 21h, khi bị Công an xã Trà Dơn bắt giữ Thu vẫn tỏ ra vô cùng bỡ ngỡ về hành vi giết người của mình...
![[Image: dsfdsfdsfdfsdfdg.png]](http://media.tinmoi.vn//2013/06/05/dsfdsfdsfdfsdfdg.png)
Hung khí gây án
Chúng tôi tìm được nhà của Hồ Văn Dui và Nguyễn Văn Thu cũng là lúc hoàng hôn ở nóc nghèo đã dần trở nên tím ngắt sau khi có án mạng xảy ra. Nhà Dui và nhà Thu đều sơ sài, trống hoác. Gạo, muối là hai thứ quan trọng nhất cũng cạn vơi. Tôi không biết hai người phụ nữ vợ của Thu và Dui sẽ làm gì để nuôi những đứa con nheo nhóc, khi cha chúng không có ở nơi này. Nghe tôi hỏi, Hồ Thị Hiếu (SN 1982), vợ kẻ sát nhân Nguyễn Văn Thu òa khóc. Người đàn bà tội nghiệp phân trần rằng, khi thấy chồng hớt hải chạy về nhà rồi lại cầm dao chạy đi, dù không hiểu chuyện nhưng chị biết sẽ xảy ra chuyện chém giết nên chị vừa khóc, vừa chạy theo can ngăn.
Tuy nhiên, cũng như từ khi lấy nhau đến giờ, chị chưa bao giờ khuyên nhủ được gã đàn ông ương bướng, ngang tàng như con mãnh thú trên rừng này. Khuyên chồng không được, chị liền chạy về nhà dẫn các con đi trốn. Vì nếu không trốn, có thể chị và các con sẽ mất mạng. Luật túc ở nóc là vậy, nếu người gây án chưa bị chính quyền bắt và trừng trị, thì người dân trong nóc sẽ "lấy mạng đền mạng". Mãi 2 ngày sau, khi nghe ngóng được tin chồng bị Công an bắt, mẹ con chị Hiếu mới dám dắt díu nhau trở về. Về đến nhà, chị lại đối mặt với việc nộp phạt theo quy định của nóc.
Chị Hồ Thị Hồng (SN 1980), vợ Dui đã đề nghị nóc buộc chị Hiếu - vợ hung thủ Thu phải nộp phạt tất cả những tài sản gồm quế, heo, gà và các vật dụng trong nhà... Cũng may nhờ có cán bộ xã đến kịp, đã giải thích và vận động bà con, nên mẹ con chị Hiếu mới tiếp tục được cuộc sống, chứ nếu lấy hết những gì gia đình chị đang có thì mấy ngày tới đây mẹ con chị Hiếu lấy gì nuôi thân? Tuy vậy, chị Hiếu cũng đã phải bán đi vườn quế hơn 40 gốc để nộp cho làng làm mai táng anh Dui.
Nỗi đau mang tên kém hiểu biết
Có lẽ do không nhận thức đầy đủ về pháp luật, Thu đã hành xử theo suy nghĩ thiển cận của mình. Một người dân trong nóc kể rằng, sau khi đâm anh Dui chết, Thu chạy về nhà và cố thủ với ngọn giáo. Đây là đặc tính chung của các đối tượng vùng này. Sau khi gây án thì chúng thường dùng dao cố thủ trong nhà hoặc tự sát. Trong trường hợp bị dân làng bắt mà trốn thoát được, chúng sẽ quay trở lại làng và tiếp tục gây án. Chính vì vậy, khi nghe tin Thu cố thủ trong nhà với ngọn giáo trên tay, người dân trong nóc rất lo lắng, một số người còn hớt hải tìm chỗ trú ẩn ngay sau khi Thu đâm chết Dui. Vì họ cho rằng nếu Thu xuất giáo thì ắt sẽ có người chết hoặc con vật nào đấy thế mạng. Đến khi cơ quan Công an vào bắt giữ và đưa Thu đi thì mọi người mới thở phào nhẹ nhõm.
Khi bị cán bộ điều tra thẩm vấn, Thu cũng ngô nghê không kém, y chẳng hề lo nghĩ cho hậu quả của những việc làm sai trái của mình.
- Anh có thường đọc báo, xem tivi không?
Em không đọc báo vì em không biết chữ. Tivi thì em ít xem lắm, vì nhà em không có tivi.
- Anh đã bao giờ đi tù chưa?
Dạ em đi tù được 6 tháng, ở Nam (Nam Trà My) 2 tháng, ở tỉnh 4 tháng.
- Vì sao anh đi tù?
Vì em đốt nhà ông Long.
- Thế tại sao anh lại đốt nhà ông Long?
Vì người ta nói em uống rượu không trả tiền.
- Thế còn với anh Dui, tại sao anh đâm anh Dui?
Vì anh Dui đánh em nên em đánh lại. Tại anh Dui chứ không phải tại em.
![[Image: khjkhkjhkjhk.png]](http://media.tinmoi.vn//2013/06/05/khjkhkjhkjhk.png)
Hung thủ Nguyễn Văn Thu
Mặc dù chúng tôi đã cố khơi gợi để tìm sự hối hận trên khuôn mặt của Thu, nhưng y vẫn ráo hoảnh không hề một chút hoảng sợ. Y mô tả về việc đâm Dùi trong sự gãy khúc của trí nhớ. Có lẽ lúc gây án, y đã bị ma men làm chủ.
- Khi đâm anh Dui, anh có nghĩ là anh Dui sẽ bị chết không?
Em không biết, đâm xong em rút dao ra và về nhà. Sau đó em mới nghe mọi người trong nóc nói anh Dui chết.
- Khi nghe tin đó xong anh làm gì?
Dạ... em lên giường ngủ.
- Anh có hối hận vì mình đã làm chết anh Dui không?
(Im lặng).
- Nhà anh Dui nghèo hay giàu?
Dạ nghèo lắm ạ. Nghèo có khi còn hơn gia đình nhà em.
- Thế anh có nghĩ đến cuộc sống của vợ và 4 đứa con của anh Dui, khi anh Dui bị anh giết chết không?
Da em chưa từng nghĩ đến.
- Anh bị bắt mấy ngày rồi? Vào đây, anh có ăn cơm được và ngủ được không?
Em bị bắt 3 ngày rồi. Dạ em ăn cơm no cái bụng lắm, em cũng ngủ rất thoải mái nữa...!
Qua tìm hiểu chúng tôi biết được rằng, Nguyễn Văn Thu sinh ra trong một gia đình dân tộc Ca Dong nghèo, cha mẹ lại mất sớm. Thu cũng không hề được đến trường, nên một chữ bẻ đôi cũng không biết. Với bản tính lì lợm, man dại của mình cộng thêm cái thói nghiện rượu, nên Thu thường xuyên gây gổ với người khác mỗi khi nhậu say. Thu còn nổi tiếng khắp vùng về câu chuyện "Đi tù sướng lắm" của hắn.
Chuyện là vào năm 2006, sau một bữa rượu "hoành tráng", bị ma men đưa đường dẫn lối, Thu đã đốt nhà một người dân trong thôn. Với hành vi phá hoại tài sản công dân, Thu đã bị tuyên án 6 tháng tù giam. Án tù là hình thức răn đe, giáo dục những kẻ phạm pháp. Không ai muốn đi tù, bởi vì họ sẽ bị hạn chế một số quyền cơ bản của mình. Thế nhưng với Nguyễn Văn Thu lại khác.
Sau lần vào trại năm 2006 trở về, Thu đi đâu cũng khoe chuyện hắn "được đi tù" và kết luận: "Đi tù sướng lắm". Ai hỏi sướng thế nào, Thu trả lời, vào tù không phải làm gì mà lại được có cơm ăn, được cán bộ cho quần áo mặc...
Đằng sau câu chuyện kỳ án nửa con heo rừng bi hài này là nỗi đau tê tái đối với sự đói nghèo và nhận thức Pháp luât thấp kém của một số đồng bào vùng cao, mà điển hình chính là kẻ thủ ác Nguyễn Văn Thu.
19h ngày 17-4-2013, Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội (PC45) Công an tỉnh Quảng Nam nhận được thông tin, tại nóc Ông Tiến, thôn 4, xã Trà Dơn, huyện Nam Trà My xảy ra vụ trọng án. Nạn nhân là người dân sống tại nóc, tên là Hồ Văn Dui (SN 1975), đã bị Nguyễn Văn Thu dùng dao đâm vào lồng ngực trái gây thủng tim dẫn đến tử vong. Sau khi gây án, Thu về nhà ngủ và đến 21h cùng ngày, Nguyễn Văn Thu đã bị Công an xã Trà Dơn bắt giữ về hành vi giết người.
Theo: Tin Mới
|
|
|
|