| Xin chào, Khách |
Bạn cần phải Đăng ký trước khi đăng bài viết trên diễn đàn.
|
| Thông kê diễn đàn |
» Thành viên: 472,214
» Thành viên mưới nhất: dasbui
» Chủ đề: 483,367
» Bài viết: 539,333
Thống kê đầy đủ
|
| Thành viên Online |
Hiên tại có 843 thành viên online. » 1 Thành viên | 838 Khách Applebot, Baidu, Bing, Facebook, dungcudien
|
|
|
| Lăng chính cung Hoàng hậu, vợ vua Quang Trung ở đâu? |
|
Đăng bởi: Bụt. - 01-26-2011, 05:53 AM - Diễn đàn: Tư liệu khoa học
- Trả lời (1)
|
 |
Vietsciences- Trần Viết Điền 01/01/2011
Những bài cùng tác giả
Bà Chính Cung Hoàng Hậu của vua Quang Trung, nhân vật hậu trƣờng của thời Tây
Sơn, âm thầm gắn bó với sự nghiệp vinh quang và cay đắng của chồng, qua đời trƣớc vua Quang
Trung hơn một năm, đƣợc triều Tây Sơn an táng cùng với chồng ở kinh đô Phú Xuân. Việc tang
ma bà Chính Cung không suôn sẻ là nguyên nhân gần của sự kiện vua Quang Trung đào mồ các
chúa Nguyễn, quá thất nhân tâm! Hậu quả chỉ mƣời năm sau, lăng mộ của hai vợ chồng cùng bị
vua Gia Long quật phá, bêu xác, trị tội thê thảm ở kinh đô bỏ ngỏ mà vua con Cảnh Thịnh bất
đức bất tài không giữ đƣợc… Đa phần ngƣời Việt thừa nhận vua Quang Trung là một anh hùng
dân tộc Việt, đại phá quân Xiêm, đánh bại và quét sạch quân Thanh xâm lƣợc…Vì vậy tìm lăng
mộ của vua Quang Trung là việc cần làm. Thế thì việc tìm kiếm lăng mộ của bà Chính Cung
Hoàng Hậu sẽ góp phần tìm kiếm lăng mộ vua Quang Trung và ngƣợc lại. Lăng mộ bà Chính
Cung Hoàng Hậu của vua Quang Trung ở đâu là một câu hỏi từng đƣợc PSG Tiến sĩ Đỗ Bang,
thuộc Khoa Sử trƣờng Đại học Khoa Học Huế, trả lời trong sách “Những khám phá về
hoàng đế Quang Trung”(NXB Thuận Hóa, Huế , 1988).Tác giả viết: “ Năm 1791, sau một
cơn bạo bệnh, thầy thuốc trong và ngoài nƣớc chữa chạy cũng không qua đƣợc cơn bệnh hiểm
nghèo, bà từ trần vào ngày 29 tháng 3 và chôn ngày 25 tháng 6 năm 1791, mộ chôn dƣới chân
núi Kim Phụng nằm về phía tây của thành phố Huế.” (s đ d, tr.22). Tác giả sách vừa nêu đã cung
cấp những thông tin cần thiết về năm tháng ngày mất và ngày an táng của Chính Cung Hoàng
Hậu, nhƣng tiếc thay khi công bố khu vực có lăng mộ của bà thì tác giả viết quá sơ sài, thậm chí
chƣa xử lý văn bản đầy đủ, dẫn đến sự hoài nghi khoa học. Hơn nữa về hành trạng của bà Chính
Cung Hoàng Hậu vẫn còn những ý kiến trái ngƣợc nhau, càng gây khó khăn trong việc tìm lăng
mộ của bà.
Dẫu rằng PGS. Tiến Sĩ Đỗ Bang đă chỉ hƣớng lăng mộ bà Chính Cung Hoàng Hậu ở núi
Kim Phụng, thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế, nhƣng chƣa chứng minh. Đến nay chƣa có những thông
tin gì mới và tất nhiên giới nghiên cứu chƣa tìm ra lăng mộ bà Chính Cung Hoàng Hậu.
Vài năm gần đây, chúng tôi cố gắng tìm kiếm lăng mộ bà Chính Cung Hoàng Hậu, rà
soát và xử lý tƣ liệu, khảo sát điền dã, thử hình thành một giả thuyết công tác và tìm cách kiểm
chứng giả thuyết trong điều kiện hạn hẹp. Chúng tôi thấy độ tin của giả thuyết chúng tôi nêu ra
càng ngày càng tăng, vì thế xin công bố với hy vọng các nhà khảo cổ thuộc các cơ quan có
thẩm quyền quan tâm. Nếu các nhà chuyên môn của Viện khảo cổ Việt Nam tiến hành thao tác
khảo cổ học tại địa điểm cụ thể, do giả thuyết chúng tôi đề xuất, hy vọng tìm ra lăng mộ bà
Chính Cung Hoàng Hậu và Đan Dƣơng lăng của vua Quang Trung.
Để tiện theo dõi, chúng tôi bố cục bài nghiên cứu nhƣ sau:
I.Thu thập những đặc điểm của lăng mộ bà Chính Cung Hoàng Hậu:
1- Những thông tin hiếm hoi về thân thế của bà Chính Cung Hoàng Hậu.
2- Dựa vào ngày tháng năm mất để dự đoán việc an táng bà Chính Cung Hoàng Hậu:
.
a-Nhị thập bát tú cát, hung và các sao chiếu mệnh trong thiên văn cổ.
b- Xem xét cát hung ngày tháng năm mất của bà Chính Cung Hoàng Hậu.
3-Lăng bà Chính Cung Hoàng Hậu có khả năng thuộc loại “mộ hợp chất” kiểu “trong
quan ngoài quách”:
a-Vài nét về mộ hợp chất ở Việt Nam.
b-Lăng mộ bà Chính Cung Hoàng Hậu phải là mộ hợp chất.
c-Về việc vua Gia Long nhận dạng xác ƣớp bà Chính Cung Hoàng Hậu.
4- Lăng bà Chính Cung Hoàng Hậu tuy bị quật phá nhưng vẫn giữ một số cấu kiện, trên
đó có những ấn chứng trị tội và yểm của vua Gia Long.
II. Có thực lăng mộ Chính Cung Hoàng Hậu ở chân núi Kim Phụng ?
1-Kim Sơn hay Kim Phụng Sơn được nhắc trong Tây Sơn Thực Lục không phải là
Thương Sơn.
2-Nếu Thương Sơn (tức núi Kim Phụng hiện nay) có lăng bà Chính Cung Hoàng Hậu
Tây Sơn thì núi này không được khắc hình tượng lên Chương Đỉnh thuộc Cửu Đỉnh.
3-Lăng Chính Cung Hoàng Hậu, nêú ở núi Kim Phụng, không phù hợp phong thủy
cổ?
4-Có khả năng lăng vua Quang Trung và lăng bà Chính Cung Hoàng Hậu cùng thuộc
Đan Dương lăng, có chung miếu thờ, có chung nhà hộ lăng.
III.Thử tìm kiếm dấu tích lăng mộ bà Chính Cung Hoàng Hậu ở Nam Sông
Hương :
1-Ở vùng Nam Sông Hương có vùng núi Kim Sơn .
2- Khảo sát điền dã quanh chân núi Kim Sơn để tìm dấu tích lăng mộ bà Chính Cung
Hoàng Hậu : a-Ngôi mộ bà họ Trần, chôn nhờ ở ngôi mộ cổ bị quật phá .
b-Phu nhân họ Trần, vợ chính của hoàng thân Bình Phú công, là ai ?
c-Làm bia giả ở lăng Thủy Tiên để chôn nhờ hay tạo mộ giả để đánh lạc hƣớng ?
IV.Phải chăng tiền thân của ngôi lăng Thủy Tiên là lăng mộ bị quật phá của
bà Chính Cung Hoàng Hậu ?
1-Lăng Thủy Tiên là lăng to, bị quật phá và có dấu tích bị trị tội.
2-Bia thờ đã mất, về sau người ta sửa bia ghi năm phụng lập, có dấu trị tội thành bia
thờ của bà họ Trần.
3-Lăng Thủy Tiên nằm ở khu vực bị cấm và hậu vận giống lăng Ba Vành.
4-Nhà Hộ lăng của lăng Thủy Tiên cũng là nhà hộ lăng của lăng Ba Vành và Đan
Dương lăng.
V. Tìm cách kiểm chứng giả thuyết công tác:
1- Khu giải trí Thủy Tiên thông báo di dời mộ bà họ Trần.
2- Ai đã di dời mộ bà họ Trần?Những di vật còn sót lại trên miệng huyệt đã đào bới.
3- Do khu giải trí sẽ xây dựng ở khu vực mộ bà họ Trần đã di dời, buộc chúng tôi xin
giấy phép nghiên cứu hố huyệt đã vét hết di vật.
4-Thảo luận quanh những di vật thu thập được ở lăng Thủy Tiên.
a-Nhựa trám, nhựa thông là tín hiệu Lăng Thủy Tiên thuộc mộ hợp chất.
b- Quách của lăng Thủy Tiên tạo bằng gỗ gì ?
c- Đinh sắt thu đƣợc có vai trò gì ở đáy hố huyệt ?
d- Vữa hợp chất tạo tác nấm mộ và vôi hàu dƣới đáy huyệt.
e-Về vai trò các đồng tiền cổ ở lăng Thủy Tiên.
VI-Thay lời kết.
Tài liệu tham khảo .
I.Thu thập những đặc điểm của lăng mộ bà Chính Cung Hoàng Hậu:
1- Những thông tin hiếm hoi về thân thế của bà Chính Cung Hoàng Hậu ựa vào ghi chép của Đại Nam chính biên liệt truyện của Quốc sử quán triều Nguyễn,
sách Nhà Tây Sơn của các nhà nghiên cứu Quách Tấn, Quách Giao…, PGS Tiến sĩ Đỗ Bang
từng viết về thân thế của bà Chính Cung Hoàng Hậu trong sách Những khám phá về hoàng đế
Quang Trung nhƣ sau:
Bà có tên húy là Phạm thị Liên, sinh năm Kỷ Mão [1759], anh em cùng mẹ khác cha với
Thái sƣ Bùi Đắc Tuyên, thƣợng thƣ Bùi Văn Nhật và nữ tƣớng Bùi Thị Xuân. Bà kết hôn với
Nguyễn Huệ vào năm Giáp Ngọ [1774]. Từ ấy bà vừa là vợ, vừa là “bạn chiến đấu” của Nguyễn
Huệ trong suốt cuộc đời tham gia chinh chiến, suốt mấy mƣơi năm, của chồng.
Bà sinh hạ 5 con, ba trai hai gái, ba con trai là Nguyễn Quang Toản, Nguyễn Quang
Bàn, Nguyễn Quang Thiệu. Con trƣởng Nguyễn Quang Toản đƣợc phong Thái Tử và về sau nối
ngôi.
Năm Kỷ Dậu [1789], bà đƣợc tấn phong Chính Cung Hoàng Hậu và vua Quang Trung
rất mực quí trọng, thƣơng yêu.
Năm Tân Hợi [1791], bà Chính Cung Hoàng Hậu gặp bạo bệnh, vua Quang Trung lệnh
cho các quan ngự y giỏi chữa cho bà, không thành công, nhà vua lại nhờ các bác sĩ Tây y, kết
cục bà qua đời vào ngày 1-5-1791 tức ngày 29-3 năm Tân Hợi. Vua Quang Trung rất đau đớn,
khóc than thảm thiết; có lúc cuồng nộ làm thuộc hạ khiếp sợ. Tang lễ của bà đƣợc tổ chức long
trọng vào ngày 25-7-1791 tức ngày 25-6 Tân Hợi. Bà đƣợc suy tôn miếu hiệu “Nhân cung
Đoan tĩnh Trinh Thục Nhu Thuần Vũ hoàng chính hậu”.
Ảnh chụp nữ tướng Bùi Thị Xuân
(trong Hội thi võ của Festival Huế 2009, diễn viên đóng )
Về họ và tên của bà Chính Cung Hoàng Hậu, mẹ của vua Cảnh Thịnh, vẫn chƣa có sự
thống nhất cao trong giới nghiên cứu. Bà Chính Cung Hoàng Hậu, mất năm 1791, có thuyết nói
là bà Phạm Thị Liên, anh em cùng mẹ khác cha với Thái sƣ Bùi Đắc Tuyên, có thuyết nói là bà
Bùi Thị Nhạn, em út của Thái sƣ Bùi Đắc Tuyên. Vua Cảnh Thịnh là con đẻ của bà nào, vẫn
chƣa khẳng định đƣợc? Còn bà Bùi Thị Nhạn là cô ruột của nữ tƣớng Bùi Thị Xuân hay là chị
em với nữ tƣớng ?
Ảnh chụp nhà thờ họ Bùi ở Bình Định
Một sự kiện lịch sử chắc chắn là có bà Chính Cung Hoàng Hậu của vua Quang Trung
mất ở Phú Xuân vào ngày 1-5 năm 1791 tức 29-3-Tân Hợi và có lăng mộ xây dựng ở Phú
Xuân.Ngày tháng năm mất của bà, sẽ giúp suy đoán một số thủ thuật mà ngƣời xƣa tiến hành
trong an táng.
Theo Đại Nam chính biên liệt truyện, Nguyễn Vƣơng Nguyễn Phúc Ánh ra lệnh quật phá
lăng mộ của bà Chính Cung Hoàng Hậu cùng với lăng vua Quang Trung năm Tân Dậu[1801] ở
Phú Xuân, mở quan tài, lấy thây đem bêu ở các chợ của kinh thành Phú Xuân, sau đó đem giam.
Hơn một năm sau, ngƣời ta đƣa hài cốt của bà ra trị tội, làm nhục trong lễ Hiến phù đƣợc tổ
chức ở Phú Xuân vào tháng 11 năm Nhâm Tuất[1802]. Lăng ông nội của vua Quang Trung ở
Bình Định từng bị quật phá, được tìm thấy gần đây , cũng có ba uynh thành, không hài cốt,
không đến nổi bị cào bằng…bia thờ bị đục chứ không bị hủy và tìm thấy gần lăng… thế thì
lăng bà Chính Cung Hoàng Hậu cũng như lăng vua Quang Trung hy vọng vẫn còn chừa lại
uynh thành, có hình thức trị tội và yểm của vua Gia Long vậy.
2- Dựa vào ngày tháng năm mất để dự đoán việc an táng bà Chính Cung Hoàng Hậu:
a-Nhị thập bát tú cát, hung và các sao chiếu mệnh trong thiên văn cổ.
Để có thêm những thông tin cần thiết trong việc tìm kiếm lăng mộ bà Chính Cung Hoàng
Hậu, cần tra cứu lịch pháp và thiên văn cổ nhằm biết ngày, tháng, năm mất của bà xấu hay tốt
theo quan niệm ngƣời xƣa. Vì ngày, tháng, năm mất thuộc hành gì, sao gì chủ đạo và nếu bị sao
xấu chiếu thì ngƣời xƣa sẽ có những thủ thuật trừ yểm thích đáng theo tập tục.
Để tiện trao đổi, chúng tôi tổng quan một số nội dung cần thiết:
Thiên Văn cổ chia bầu trời ra 4 phƣơng, mỗi phƣơng gồm 7 chòm sao, vì có bốn phƣơng
đông tây nam bắc nên có 28 chòm sao thƣờng gọi là nhị thập bát tú:
Phƣơng Đông với biểu tƣợng con rồng xanh, gọi là Thanh Long, với 7 chòm sao: Giốc
Mộc Giao (Sấu), Cang Kim Long (Rồng), Đê Thổ Lạc Cu (Ly), Phòng Nhật Thổ (Thỏ), Tâm
Nguyệt Hồ (Cáo), Vĩ Hỏa Hổ (Cọp), Cơ Thủy Báo (Báo).
Phƣơng Tây với biểu tƣợng con hổ trắng, gọi là Bạch Hổ, với 7 chòm sao: Khuê
Mộc Lang (Sói), Lâu Kim Cẩu (Chó), Vị Thổ Trĩ (Trĩ), Mão Nhật Kê (Gà), Tất Nguyệt Ô
(Quạ), Chủy Hỏa Hầu (Khỉ), Sâm Thủy Viên (Vƣợn) :
Bảy chòm sao Bạch Hổ chỉ phương Tây
Phƣơng Nam với biểu tƣợng con phƣợng đỏ, gọi là Phượng Các, với 7 chòm sao :
Tỉnh Mộc Hãn (Cầy), Quĩ Kim Dƣơng (Dê), Liễu Thổ Chƣơng (Hoẵng), Tinh Nhật Mã (Ngựa),
Trương Nguyệt Lộc (Nai), Dực Hỏa Xà (Rắn), Chẩn Thủy Dẫn (Giun):
Bảy chòm sao Phượng Các chỉ phương Nam
Phƣơng Bắc với biểu tƣợng con rùa đen, gọi là Hoa Cái, với 7 chòm sao : Đẩu Mộc
Giải (Cua), Ngưu Kim Ngƣu (Trâu), Nữ Thổ Bức (Dơi), Hư Nhật Thử (Chuột), Nguy Nguyệt
Yến (Én), Thất Hỏa Trƣ (Lợn), Bích Thủy Du (Nhím) :
Bảy chòm sao Hoa Cái chỉ phương Bắc
Theo bổn cổ, nhị thập bát tú chia làm hai nhóm sao cát, hung đƣợc thống kê trong
bảng sau :
Phƣơng Nam 1.Giác (T) 2.Cang(X) 3.Đê(X) 4.Phòng(T) 5.Tâm(X) 6.Vĩ (T) 7.Cơ(T)
Phƣơng Đông 8.Đẩu ( T) 9.Ngƣu(X) 10.Nữ(X) 11.Hƣ (X) 12.Nguy(X) 13.Thất(T) 14.Bích(T)
Phƣơng Bắc 15.Khuê(X) 16.Lâu (T) 17.Vị (T) 18.Mão(X) 19.Tất (T) 20.Chuỷ(X) 21.Sâm(T)
Phƣơng Tây 22.Tỉnh(T) 23.Quỷ(X) 24.Liễu(X) 25.Tinh(X) 26.Trƣơng(T) 27.Dực (X) 28.Chẩn(T)
Bảng thống kê các sao cát hung của nhị thập bát tú
Chú thích: …(T) (sao tốt hay cát tinh); ….(X) (sao xấu hay hung tinh)Ngoài ra ngƣời xƣa tin các sao chiếu mệnh thƣờng niên bao gồm: Thái dƣơng, Thái âm,
Mộc đức, La hầu, Kế đô, Thủy diệu, Hỏa tinh, Thổ tú, Thái bạch. Mỗi năm, mỗi ngƣời đều có
một sao chiếu mệnh. Sao hạn có ảnh hƣởng nhất định đến công ăn việc làm, sức khỏe, danh
vọng, tiền tài, tình duyên… Mỗi sao chiếu mệnh đều có ảnh hƣởng cát hung khác nhau, mức độ
cát hung phụ thuộc vào tính chất ngũ hành của từng sao, đồng thời chịu tác động của âm dƣơng
ngũ hành bản mệnh, chƣa kể phúc đức gia đình của đối tƣợng mà sao chiếu…Muốn biết một
ngƣời nào đó, năm này bị sao nào chiếu mệnh thì coi năm này ngƣời ấy là nam hay nữ, bao nhiêu
tuổi theo âm lịch, nếu tuổi lớn hơn 9 thì cọng hai chữ số của tuổi đƣợc một chữ số; tra bảng đánh
số các sao sau đây thì biết ngƣời ấy gặp hạn sao nào.
Nam: (1): La Hầu, Nữ: (6): La Hầu,
(2): Thổ Tú, (5): Thổ Tú,
(3) Thủy Diệu, (9) Thủy Diệu,
(4): Thái Bạch, (8): Thái Bạch,
(5): Thái Dƣơng (7): Thái Dƣơng
(6): Hỏa Tinh (2): Hỏa Tinh
(7): Kế Đô, (1) : Kế Đô
(8): Thái Âm, (4) : Thái Âm
(9): Mộc Đức. (3) : Mộc Đức
Ngƣời xƣa, từ vua quan chí thứ dân, làm việc gì xoay quanh việc hôn tang quan tế đều
có thói quen coi ngày giờ, soát xét các sao nhị thập bát tú, các sao chiếu mệnh…nhằm tìm một
thời điểm tối ƣu cho việc làm…Triều đình phong kiến có cơ quan Khâm Thiên Giám, có quan
phụ trách việc chọn năm tháng ngày giờ cho các việc lớn nhỏ của triều đình và hoàng gia. Việc
an táng bà Chính Cung Hoàng Hậu của vua Quang Trung cũng phải coi năm tháng ngày giờ vậy.
Dựa vào cách nghĩ cách làm theo tập tục của ngƣời xƣa, trong việc coi ngày giờ, sao hạn,
…chúng tôi tìm thêm những thông tin về lăng mộ của bà.
b- Xem xét cát hung ngày tháng năm mất của bà Chính Cung Hoàng Hậu:
Bà Chính Cung Hoàng Hậu của Vua Quang Trung mất ngày 29 tháng 3 năm Tân Hợi,
tức là ngày Quí Mão, tháng Nhâm Thìn. Ngày Quí Mão thuộc hành kim, sao chủ đạo chiếu là
sao Mão. Bổn cổ Việt Nam, viết về nhị thập bát tú, cho rằng sao Mão tức Mão nhựt kê, rất tốt
cho công việc nhà nông, còn tang ma, giá thú, xây dựng thì xấu. Dân gian có thơ “ Trúng ngày
sao Mão tốt ruộng trâu/ Chôn cất kiện thƣa mãi chẳng thôi/Giá thú hai bên rầu đẫm lệ/Dựng
nhà tai họa nội năm đầu.” Ngày Quí Mão thuộc hành kim, mà theo ngũ hành tƣơng sinh thì kim
sinh thủy, nên ngày 29 tháng 3 là ngày sinh thủy. Bà Chính Cung sinh năm Kỷ Mão, mệnh thổ,
mất ngày Quí Mão là gặp một ngày xấu, mệnh lại tƣơng sinh với kim, thúc đẩy ngày ấy sinh
thủy, và mệnh thổ lại rất khắc thủy. Nhƣ thế bà Chính Cung mất vào ngày xấu rồi! Không
những thế bà Chính Cung lại mất vào tháng 3 năm Tân Hợi (1791), tức mất vào tháng Nhâm
Thìn, tháng chiếu chủ đạo của sao Quĩ. Mà sao Quĩ lại là Quĩ Kim Dương, một sao rất xấu.
Theo bổn cổ Việt Nam thì sao Quĩ là sao đại hung, mọi việc đều gặp hung, hao tài trừ việc an
táng. Dân gian có thơ về cát hung của sao QUĨ: “ Mọi việc việc nào cũng gặp hung/Quĩ tình yêu
quái hại vô cùng…”. Ngày tháng mất của bà Chính Cung Hoàng Hậu gặp hai sao xầu cùng chiếu.
Dẫu không biết giờ mất của bà, nhƣng vì biết đƣợc ngày tháng mất nên biết bà mất ngày xấu
tháng xấu. Mà ngƣời xƣa rất kị ngày tháng xấu nên chắc chắn triều đình Tây Sơn có biện pháp
chế khắc việc bà mất ngày tháng xấu vậy. Vì biết năm sinh của bà Chính Cung Hoàng Hậu là năm Kỷ Mão (1759), tính đến năm
Tân Hợi (1791) bà ở tuổi 33. Chúng tôi thử tìm sao hạn của bà Chính Cung, tức tìm sao chiếu
mệnh theo tập tục xƣa, nhƣ sau:
Năm 1791, bà 33 tuổi theo âm lịch, lớn hơn 9 tuổi, cọng hai chữ số 3 của số tuổi đƣợc
chữ số 6. Nhƣ thế năm 1791, bà Chính Cung Hoàng Hậu bị sao La Hầu chiếu mệnh. Theo khoa
chiêm tinh cổ thì gặp hạn sao La Hầu, nữ giới gặp u sầu trong chuyện tình duyên, gặp tai nạn có
thể thƣơng vong, gặp nguy về thai sản…Có thể suy đoán, năm 1791, bên cạnh Chính Cung
Hoàng Hậu, vua Quang Trung còn có Bắc Cung Hoàng Hậu Ngọc Hân, trẻ đẹp và tài hoa, lại là
công chúa lá ngọc cành vàng của vua Lê. Phụ nữ ghen tuông là thƣờng tình, chắc chắn bà Chính
Cung Hoàng Hậu cũng phải ghen thầm Bắc Cung Hoàng Hậu…Nếu gặp sinh nở thì rất dễ vấp
phải bệnh dẫn đến tử vong mà dân gian gọi là “máu sản hậu”…
Không biết giờ mất của bà Chính Cung, nhƣng chính sử cho biết các ngƣời thân ruột
của bà Chính Cung Hoàng Hậu mất sau năm 1791 một năm là vua Quang Trung (mất năm
1792), mất sau năm 1791 bốn năm nhƣ anh ruột Bùi Đắc Tuyên, cháu gọi cô ruột nhƣ Bùi Đắc
Trụ (1794), và mất sau năm 1791 mƣời năm là hằng loạt anh em, con cháu thân ruột của bà
(1801)… Theo bổn cổ của ngƣời xƣa thì bà Chính Cung Hoàng Hậu khi mất phạm trùng tang
liên táng ! Nếu tính năm, tháng, ngày mất của bà theo bổn cổ thì năm mất gặp cung thiên di,
tháng mất cũng gặp cung thiên di và ngày mất gặp cung nhập mộ nên năm tháng ngày mất của
bà Chính Cung không là nguyên nhân của trùng tang liên táng. Thế thì giờ mất của bà, theo
ngƣời xƣa, tất gặp giờ trùng. Bà tuổi Mão, nếu mất gặp giờ phạm trùng tang liên táng, theo
cách tính của ngƣời xƣa, có thể suy ra bà mất vào giờ Thân. Chắc chắn ngƣời xƣa phải xem kỹ
năm tháng ngày giờ mất của bà để lo việc an táng. Năm, tháng, ngày mất gặp sao xấu chiếu, giờ
mất phạm trùng tang liên táng nên triều đình Tây Sơn buộc phải cẩn trọng trong việc an táng, ắt
có những thủ thuật trừ họa ở huyệt mộ. Thật vậy, chỉ cần nghiên cứu ngày an táng bà Chính
Cung Hoàng Hậu 25-7-Tân Hợi cũng thấy ngƣời xƣa đã chọn ngày tháng tốt. Triều Tây Sơn
chọng ngày 25 có sao Thất chiếu, mà sao Thất là cát tinh; tháng 7 là do sao Trương chiếu, sao
này cũng thuộc cát tinh…để góp phần trừ khử thần trùng hay tác động của các sao xấu nhƣ đã
nêu .
|
|
|
| Chúng ta có "cô đơn" trong vũ trụ rộng lớn? |
|
Đăng bởi: prince.new01 - 01-26-2011, 05:51 AM - Diễn đàn: Thiên văn học & Vũ trụ
- Không có trả lời
|
 |
Chúng ta có "cô đơn" trong vũ trụ rộng lớn?
. Ảnh vũ trụ "đỉnh" nhất tuần qua
. "Chiếc khiên" đối phó với Bão Mặt trời
. Giải mã màn sương bí ẩn trong dải Ngân Hà
. Chúng ta có "cô đơn" trong vũ trụ rộng lớn?
. Trái Đất có thể rối loạn vì Mặt Trời thức giấc
. Năm 2014, Việt Nam phóng vệ tinh viễn thám đầu tiên
Đã rất nhiều hành tinh mới được tìm thấy nhưng vẫn chưa có "ứng viên" nào thực sự nặng kí cho 2 chữ: "Sự sống". ![[Image: 01.png]](http://uhm.vn/Images/EmoticonOng/01.png)
Trong những cuốn truyện và bộ phim viễn tưởng, tỉ lệ tìm thấy người ngoài hành tinh là khá cao. Tuy nhiên, trong thực tế, việc “liên lạc” với những sinh vật ngoài trái đất đang rơi vào bế tắc mặc dù càng ngày con người càng khám phá ra nhiều hành tinh mới.
Các nhà thiên văn học đang đặt khả năng chúng ta “cô đơn” trong vũ trụ là khá cao, họ nghi ngờ về việc tồn tại một hành tinh khác có sự sống ở gần trái đất. ![[Image: 06.png]](http://uhm.vn/Images/EmoticonOng/06.png)
Vừa mới 2 tuần trước, hy vọng được NASA thắp sang khi cơ quan vũ trụ này tuyên bố vừa khám phá ra một vật thể hình cầu có địa hình toàn đất đá với đường kính gấp 1,4 lần trái đất.
Ngôi sao vệ tinh của nó là Kepler-10 nằm cách trái đất 560 năm ánh sáng. Các nhà khoa học của NASA đã đặt rất nhiều nghi vấn cho cả ngôi sao vệ tinh lẫn hành tinh đất đá kia. Nhưng rồi họ lại thất vọng bởi nhiệt độ bề mặt của chúng lên tới 13.000 độ C, chịu sức nóng từ mặt trời riêng nằm cách chúng ta vài triệu dặm. Một điều khẳng định: không thể có bất cứ mầm mống của sự sống nào có thể tồn tại trong môi trường “rực lửa” ấy. Tình hình xấu hơn là gần như 500 hành tinh từng được phát hiện có tình trạng tương tự, thậm chí là còn có nhiệt độ bề mặt kinh hoàng hơn rất nhiều.
Có quá ít những hệ thống hành tinh giống như Hệ mặt trời của chúng ta ở trong vũ trụ (ít nhất là đến lúc này).
Tuy vậy, vẫn còn những ý kiến rất lạc quan như theo giáo sư thiên văn Dimitar Sasselov tại trường Harvard: “Tôi tin rằng những hành tinh giống trái đất chắc chắn có tồn tại, chỉ là chúng ta chưa “với” tới họ mà thôi”.
Hiện nay có khoảng 150 nhà khoa học “cỡ bự” đang làm việc cho dự án SETI (dự án tìm kiếm các sự sống ngoài hành tinh). Họ làm việc dựa trên “lý thuyết’ của nhà thiên văn học nổi tiếng người Mỹ Frank Drake (người đã sử dụng thuật toán để tính tỉ lệ cơ hội gặp gỡ nền văn minh ngoài vũ trụ). Qua đó, SETI tin rằng phải có đến 10 “thế giới mới” đang yên vị trong dải ngân hà. ![[Image: 37.png]](http://uhm.vn/Images/EmoticonOng/37.png)
Phát hiện mới nhất đến từ các nhà khoa học thuộc trường Geneva, hành tinh HD 10180, có đến 5 vệ tinh quay quanh. Một trong số chúng có kích thước giống như trái đất nhưng lại nằm cách mặt trời của nó những 2 triệu dặm. Không những thế, nhiệt độ bề mặt của nó rất nóng và có 1 năm tính bằng 1,2 ngày trên Trái đất.
|
|
|
| Cuộc cách mạng xanh thứ hai cho lúa. |
|
Đăng bởi: Bụt. - 01-26-2011, 05:50 AM - Diễn đàn: Tư liệu khoa học
- Không có trả lời
|
 |
GIỚI HẠN CỦA CÁCH MẠNG XANH HIỆN NAY
![[Image: luaC4.jpg]](http://www.vietsciences.org/timhieu/khoahoc/biologie/images/luaC4.jpg)
Cuộc cách mạng xanh ở lúa bắt đầu từ thập niên 1960s đã giải quyết tốt đẹp một phần nạn thiếu lương thực trên toàn thế giới. Việc lai tạo giống lúa mới, đầu tiên với giống IR8, làm tăng vọt năng suất gấp 2 lần so với các giống cổ truyền nếu tính trên cùng diện tích cho mỗi vụ lúa, và tăng 3-4 lần nếu tính trên diện tích cho cả nguyên năm. Sở dĩ được vậy là nhờ cải thiện giống qua các đặc tính:
- Không quang cảm. Giống lúa cổ truyền chịu ảnh hưởng mạnh của nhật kỳ, chỉ phát động ra hoa khi gặp mùa có ngày ngắn <14 giờ (kể từ lúc rạng đông cho tới chạng vạng tối, trung bình thời gian tính từ lúc mặt trời mọc đến lặn + 8 phút đến 30 phút tùy mùa và vùng địa lý). Vì vậy, giống lúa cổ truyền, như các giống lúa mùa, chỉ tượng đòng vào tháng 10 - 12 dương lịch, là tháng có ngày ngắn, dầu gieo sớm (tháng 4 hay 5 dl) hay muộn (7- 9 dl), và như vậy chỉ canh tác được 1 vụ mỗi năm mà thôi. Ngược lại, các giống cải thiện không quang cảm, tượng đòng khi tới tuổi trưởng thành, trung bình khoảng 40 – 50 ngày sau khi gieo, chu kỳ từ gieo đến gặt chỉ dài từ 90 ngày đến 140 ngày dầu trồng bất cứ tháng nào trong năm, và như vậy có thể canh tác 2 hay 3 vụ lúa/năm.
- Sử dụng hiệu quả ánh sáng mặt trời. Nhờ cải thiện qua kiến trúc hình dạng của lá thẳng đứng, nên tổng số diện tích mặt lá thâu nhận được ánh sáng mặt trời nhiều gần gấp đôi so với các giống lúa cổ truyền có lá rũ. Vì lá thẳng đứng nên có thể trồng dày hơn, lá ít che khuất nhau, nên lá nhận được nhiều năng lượng mặt trời hơn, nhờ vậy sản xuất nhiều chất quang-tổng-hợp (photosyntate) hơn trên cùng một diện tích đất.
- Phân phối hiệu quả chất quang-tổng-hợp qua tuyển chọn giống cây thấp lùn không đổ ngã. Chất-quang-tổng-hợp do lá sản xuất được chuyển đến hột lúa và thân rạ. Với giống lùn, phần thân rạ ít, nên chỉ số thâu-hoạch (harvest index, trọng lượng gié lúa/trọng lượng rơm rạ) cao, hơn 50% chất quang-tổng-hợp tích tụ ở hạt lúa.
Nhờ vị trí lá thẳng đứng, và thân cây thấp lùn nên có thể trồng dày với mật độ cao, và bón nhiều phân đạm mà lúa không bị đổ ngã. Đó là những đặc tính chánh góp phần vào gia tăng năng suất lúa/ha/vụ hay sản lượng/ha/năm.
Cuộc cách mạng xanh ở lúa trong vòng 50 năm nay (1960-2010) được tiếp tục với kỹ thuật tạo giống lúa lai (Hybrid rice) ở thập niên 1970s, đã góp phần gia tăng năng suất lúa đáng kể, tuy quy mô không lớn lắm, vì chỉ áp dụng được ở một số vùng địa lý như ở Trung Hoa, Bắc Việt Nam và một ít quốc gia khác.
Nếu dựa trên sử dụng năng lượng hữu hiệu của các giống lúa cải thiện có hiện nay, tiềm năng năng suất, tức năng suất lý thuyết tối đa, là 12 tấn lúa/ha/vụ mùa nắng và 9 tấn/ha/vụ mùa mưa. Trong thực tế, mặc dầu đã được cải thiện qua những giống kháng sâu, kháng bệnh, chịu đựng thời tiết xấu, áp dụng nhiều phân bón, v. v. trong mấy chục năm qua năng suất thực tế tối đa không vượt quá ngưởng 9 tấn/ha/vụ, và như vậy không giải quyết được nạn nghèo đói và thiếu lương thực trong những thập niên tới với đà dân số gia tăng hiện nay.
Ngoài ra, hiện tượng hâm nóng toàn cầu, với thời tiết bất cập, nhiệt độ gia tăng, hạn hán thường xuyên, thiếu nguồn nước ngọt, diện tích canh tác bị thu hẹp vì nước biển dâng cao, nước mặn xâm nhập, diện tích thành phố lấn dần vào đồng ruộng, và đất đai càng ngày càng cằn cỗi, sa mạc hóa, v.v. nạn thiếu thực phẩm chắc chắn sẽ xảy ra với tình trạng năng suất hiện nay, nhất là các nước Á Châu mà gạo là nguồn thực phẩm chánh. Hiện tại, ở Á Châu 1 ha lúa cung cấp cho 27 người ăn. Trong 40 năm nữa, với đà dân số gia tăng hiện nay, phải làm thế nào để 1 ha lúa cung ứng cho 42 người ăn, nghĩa là phải gia tăng năng suất hơn hiện nay 55% để tình trạng đói mới không xảy ra (2)
Vì vậy, cần phải có một cuộc cách mạng xanh khác nữa mới có thể giải quyết vấn đề lương thực trong tương lai.
TUYỂN CHỌN QUANG-TỔNG-HỢP HỮU HIỆU
Để vượt cái ngưỡng giới hạn năng suất thấp của giống lúa cổ truyền, trong cuộc cách mạng xanh vừa qua các nhà lai tạo đã cài vào giống cải thiện những gen chi phối kiến trúc cây lúa như đặc tính lá thẳng đứng và thân lùn với mục đích gia tăng hiệu năng sử dụng năng lượng mặt trời qua hiện tượng quang-tổng-hợp (photosynthesis) của cả đám lúa.
Trong cuộc cách mạng xanh sắp tới các nhà sinh học sẽ tìm cách biến đổi bản chất quang-tổng-hợp của cây lúa để sử dụng năng lượng mặt trời hữu hiệu hơn nữa.
Hiện tại, cây hoa màu chỉ sử dụng có hiệu quả khoảng 0,3% năng lượng của ánh sáng mặt trời để sản xuất ra thành phẩm nông nghiệp như hạt hay củ v.v., mặc dầu lá thâu nhận được 40% năng lượng của mặt trời (7).
Thực vật sống nhờ ánh sáng, khí CO2 và nước qua hiện tượng quang-tổng-hợp để tạo chất bột, rồi từ đó các phản ứng dây chuyền khác biến đổi thành chất đạm và chất béo, căn bản cho sự sống.
Khí CO2 vào nhu mô lá để quang-tổng-hợp khi khí-khổng (stomata) trên biểu bì lá mở. Gia tăng lượng khí CO2 trong không khí và gia tăng nhiệt độ (như hiện tượng hâm nóng toàn cầu hiện nay) làm gia tăng quang-tổng-hợp, cho tới lượng bão hòa. Cường độ quang-tổng-hợp tối đa xảy ra ở một nhiệt độ tối hảo, không xảy ra ở nhiệt độ tối thiểu hay nhiệt độ tối đa. Các nhiệt độ này thay đổi tuỳ loại cây thích ứng của mỗi vùng khí hậu. Đại khái, nhiệt độ tối hảo cho cây vùng ôn đới khoảng 20-25°C, vùng nhiệt đới khoảng 25-32°C. Khi quang-tổng-hợp đạt độ bão hòa, khí-khổng đóng, và nhờ vậy ngăn thoát hơi nước, cây sử dụng nước có hiệu quả hơn.
Song song với hiện tượng quang-tổng-hợp chỉ xảy ra khi có ánh nắng, hiện tượng hô-hấp xảy ra cả ban ngày lẩn ban đêm, đốt một phần chất bột do quang-tổng-hợp tạo thành, nhả CO2 lại vào không khí. Như vậy, thực vật chế tạo chất bột thật sự để làm chất khô chính là hiệu số giữa quang-tổng-hợp và hô-hấp.
Năng suất chất quang-tổng-hợp còn tuỳ thuộc loại cây. Trên phương diện quang-tổng-hợp, thực vật chia làm 3 nhóm, nhóm thực vật C3, C4 và CAM.
Quang-tổng-hợp C3
Ở nhóm thực vật C3, khí CO2 được lá hấp thụ qua khí-khổng, đến lục-bào (mesophyll) ở ngay dưới lớp biểu bì lá để quang-tổng-hợp. Khí-khổng chỉ mở vào ban ngày khi có nhiệt độ mát và khi cây có đầy đủ nước. Khí-khổng có nhiệm vụ vừa hấp thụ CO2 vừa nhả O2 trong hiện tượng quang-tổng-hợp (khi có ánh sáng, ban ngày), vừa hấp thụ O2 và nhả CO2 trong hiện tượng hô-hấp (cả ngày lẫn đêm), và nhả hơi nước trong hiện tượng thoát hơi nước.
Ở lục-bào, dưới ảnh hưởng của ánh sáng và enzyme Rubisco, khí CO2 phản ứng với Ribulose bisphosphate (RuBP, đường chứa 5 Carbon) để tạo thành 2 phân tử 3-phosphoglycerate (đường chứa 3 Carbon). Phản ứng này được mang danh là chu trình Calvin với sản phẩm 3-C (3-phosphoglycerate).
Ở nhiệt độ cao và ánh sáng mạnh, enzyme Rubisco hấp thụ CO2 đồng thời cũng hấp thụ nhiều O2 nên làm gia tăng hô-hấp. Phần ảnh hưởng gia tăng hô-hấp do ánh sáng được gọi là quang-hô-hấp (Photorespiration). Như vậy, khi gia tăng cường độ ánh sáng, quang-tổng-hợp ở thực vật C3 gia tăng, nhưng đồng thời hiện tượng quang-hô-hấp cũng gia tăng, từ 1,5 đến 3,5 lần nhiều hơn hô-hấp bình thường trong bóng tối, do đó làm mất đi khoảng 20% CO2 cố định bởi chu trình Calvin.
Khi gặp nhiệt độ cao, hay thiếu nước, khí-khổng đóng để ngăn cản thoát hơi nước, quang-tổng-hợp vì vậy không hoạt động được.
Như vậy, thực vật với quang-tổng-hợp C3 sản xuất chất khô tối hảo ở nhiệt độ tương đối mát (khoảng 20-25ºC), ở nồng độ CO2 thấp (như hiện nay 350 ppm), ánh sáng trung bình và phải đầy đủ nước.
95% thực vật trên thế giới thuộc nhóm quang-tổng-hợp C3, đặc biệt chiếm đa số ở thực vật thích ứng vùng ôn đới, như các ngủ cốc ôn đới (lúa mì, lúa mạch), hay thực vật thích ứng cường độ ánh sáng yếu. Đậu nành, cỏ dại, cây ăn trái, cây rừng, lúa Á châu (Oryza sativa), cây cho củ, v.v. của vùng ôn đới và nhiệt đới cũng thuộc nhóm C3.
Thực vật nhóm C3 hưởng lợi nhiều nhất khi lượng CO2 tăng gấp đôi, nhất là thực vật thích ứng vùng ôn đới, năng suất chất khô toàn cây có thể gia tăng 20-30% so với lượng CO2 hiện nay. Điều này có lợi trong tương lai với đà gia tăng lượng CO2 trong khí quyển, tuy nhiên sẽ bất lợi khi có gia tăng nhiệt độ.
Tại vùng ôn đới, quang-tổng-hợp nhóm thực vật C3 trung bình biến 1 MJ năng lượng mặt trời thành 1 g chất bột (8). Cường độ tăng trưởng chất khô tối đa của thực vật nhóm C3 ở ôn đới khoảng 13 g/m2 /ngày.
Hiện tại, các giống lúa cải thiện vùng nhiệt đới (C3) thâu nhận được 90 % ánh sáng mặt trời chiếu vào lá, nhưng quang-tổng-hợp chỉ sử dụng 1,5% năng lượng mặt trời này để biến thành chất khô, trong lúc trên lý thuyết cây lúa có khả năng hấp thụ 3-5%.
Quang-tổng-hợp C4
Ở nhóm C4, quang-tổng-hợp xảy ra lần lượt ở 2 loại tế bào của lá. Lá C4 có kiến trúc đặc biệt, gồm lục-bào và tế-bào-bó-bẹ-lá (bundle sheath), được mang danh “Kiến trúc Kranz”.
Lục-bào là nơi chu trình C4 xảy ra: khí-khổng mở vào ban ngày, khí CO2 vào lục-bào được cố định nhờ enzyme Phosphoenol pyruvate carboxylase (PEPC) để tạo thành acid C4 (acit chứa 4 Carbon), như OAA (Oxaloacetic acid, C4H2O52−)
CO2 + PEP carboxylase OAA
Tại tế-bào-bó-bẹ-lá, chu trình Calvin C3 xảy ra: OAA được chuyển tới tế-bào-bó-bẹ-lá. Tại đây, OAA phóng thích malic acid và aspatic acid, rồi phóng thích CO2 và Pyruvate (CH3COCOOH). CO2 vừa được phóng thích đi vào vào chu trình Calvin để tạo đường (như quang-tổng-hợp C3), còn Pyruvate được chuyển tới lục-bào, biến thành PEP để tiếp tục cố định khí CO2 cho một chu trình mới.
OAA malic acid, và aspartic acid phóng thích CO2 + pyruvate
CO2 vào chu trình Calvin để tạo đường; còn Pyruvate chuyển lại lục-bào biến thành PEP để cố định thêm CO2
Tóm lại, quang-tổng-hợp C4 hiệu quả hơn bởi vì:
• Khí-khổng chỉ mở vào ban ngày, CO2 được hấp thụ vào lục-bào.
• Chu trình Calvin xảy ra ở tế-bào-bó-bẹ-lá, ở đây không có Oxy để kết hợp với Rubisco, nên không có quang-tổng-hợp.
• Ngược lại, nồng độ CO2 rất cao tại tế-bào-bó-bẹ-lá.
• PEPC có tính kết hợp mạnh với CO2 nên khí-khổng không cần mở rộng toàn diện mà vẫn hấp thụ nhiều CO2, nhờ vậy làm giảm việc thoát hơi nước, điều này rất quan trọng cho thực vật vùng khô hạn.
• Vì không có Oxy ở tế-bào-bó-bẹ-lá, quang-hô-hấp ở nhóm C4 xảy ra ít hơn nhóm C3, nhờ vậy quang-tổng-hợp-thực-sự cao và hiệu quả hơn C3.
Tại vùng nhiệt đới, trong điều kiện hiện nay về CO2 (370 ppm) và nhiệt độ (30-32ºC), với cường độ ánh sáng mạnh, quang-tổng-hợp ở nhóm C4 hữu hiệu hơn nhóm C3, và sử dụng nước cũng hiệu quả hơn.
Ở cường độ ánh sáng càng cao, quang-hô-hấp càng trở nên không đáng kể. Nhờ vậy, cùng một năng lượng mặt trời, thực vật C4 sản xuất chất khô nhiều hơn thực vật C3 khoảng 50%. Chẳng hạn cứ mỗi megajoule năng lượng mà cây hấp thụ được thì lúa nước Á châu (thuộc C3) sản xuất được 2,2 g, lúa mì (thuộc C3) 2,7 g, và bắp (thuộc C4) 3,3 g chất khô (6).
Trong điều kiện về ánh sáng tối đa và nhiệt độ tối đa trong ngày ở mùa hè Anh quốc, thực vật C3 tăng trưởng tối đa 34-39g/m2/ngày, trong lúc C4 khoảng 50-54 g m2/ngày, còn nếu tính đồng đều cho suốt mùa canh tác thì C3 sản xuất 13 g/m2/ngày, còn C4 khoảng 22 g m2/ngày (7, 8). Tương tự như vậy, trong điều kiện hoàn hảo về khí hậu và điều kiện canh tác, tiềm năng năng suất hạt của bắp (C4) tới 13,9 t/ha, trong lúc của lúa (C3) chỉ 8,3 t/ha. Do đó, nếu tạo ra được giống lúa có quang-tổng-hợp C4 như bắp, thì việc gia tăng năng suất lúa thêm 50% sẽ ở trong tầm tay.
Tuy nhiên, nếu nhiệt độ gia tăng thì thực vật C4 bị mất nhiều chất bột do gia tăng hô hấp, bởi vì nhiệt độ tối hảo của quang-tổng-hợp của C4 thấp hơn nhiệt độ tối hảo của hô-hấp. Khi gia tăng gấp đôi CO2 và tăng 1°C (như trong tương lai với hiện tượng hâm nóng toàn cầu), quang-tổng-hợp nhóm C4 không gia tăng nhiều bằng nhóm C3, nhất là loài thực vật thích ứng vùng nhiệt đới. Quang-tổng-hợp nhóm C4 chỉ gia tăng 5-10% trong điều kiện này, trong lúc nhóm C3 có thể tăng 20-30%.
Thực vật C4 cũng sử dụng nước hiệu quả gấp đôi so với thực vật C3: Khi trồng trong cùng điều kiện, ở 30°C, C3 sử dụng 833 phân tử nước cho mỗi phân tử CO2 hấp thụ, trong lúc C4 chỉ sử dụng 277 phân tử nước. Vì vậy, để sản xuất 1 g chất khô, C3 sử dụng 550-850 g nước, C4 sử dụng 250-350 g nước, nhất là trong môi trường có ánh sáng mạnh, nhiệt độ cao, và hạn hán.
Thực vật C4 cũng sử dụng ít phân bón hơn 40%, nhưng cho 50% năng suất chất khô nhiều hơn thực vật C3.
Thực vật C4 không thích ứng môi trường ngập nước, nên lúa C4 có thể không phát huy tất cả tiềm năng của quang-tổng-hợp C4. Ngược lại lúa rẫy C4 phát huy được tiềm năng này ở môi trường khô hạn và thiếu nước.
Tóm lại, thực vật C3 thích ứng cho môi trường có cường độ ánh sáng thấp (chẳng hạn như loại cây mọc chen chúc thành đám như cỏ, lúa, cây mọc dưới rừng) và nhiệt độ lạnh (thực vật ôn đới). Ngược lại thực vật C4 thích ứng nơi có ánh sáng mạnh (cây mọc nơi lộ thiên, hay mọc thưa) và khí hậu nóng (nhiệt đới).
Quang-tổng-hợp C4 xảy ra ở thực vật có kiến trúc Kranz ở lá. Kiến trúc này gồm bó-mạch-bẹ-lá (vascular sheath) bao quanh bởi 2 vòng tế bào, vòng bên trong là một lớp tế bào gọi là tế-bào-bó-bẹ-lá giàu tinh-bột và lục-lạp- không-chứa hạt, và vòng bên ngoài là lớp lục-bào chứa lục-lạp thông thường. Nhiệm vụ chính của kiến trúc Kranz là nơi tập trung khí CO2 với nồng độ cao chung quanh enzyme RuBisCO để quang-tổng-hợp, và giảm thiểu hiện tượng quang-hô-hấp.
![[Image: luaC401.jpg]](http://www.vietsciences.org/timhieu/khoahoc/biologie/images/luaC401.jpg)
Lục-bào của lá C3 (trái) và kiến trúc Kranz ở bắp (C4) (phải)
Về mặt kiến trúc của lá, lá C4 có nhiều gân hơn lá C3. Ở lá C4 cứ mỗi 2 mm chiều ngang có khoảng 20 gân, trong khi C3 chỉ 10-12 gân. Ngoài ra, lục-lạp tập trung ở lục-bào nằm giữa các gân của bẹ lá của C3, trong lúc lục-lạp chứa đầy đặc trong lục-bào ở C4, lại tập trung bao quanh các gân bẹ lá thành nhiều bó, tạo thành tế-bào-bó-bẹ-lá. Chính nhờ chứa nhiều lục-lạp hơn, lại hấp thụ và tích tụ nhiều CO2 hơn, nên quang-tổng-hợp C4 hiệu quả hơn, mặc dầu không khí có cùng nồng độ CO2 .
Vì vậy, C4 có thể quang-tổng-hợp ở nồng độ CO2 rất thấp, tối thiểu khoảng 10 ppm, trong lúc cây C3 cần tối thiểu 50 ppm mới quang-tổng-hợp được. Dưới nồng độ này, cây không quang-tổng-hợp được và sẽ chết.
Có khoảng 7.600 loài cây có quang-tổng-hợp C4, chiếm khoảng 3% loài thực vật trên đất liền, thấy trong nhóm Hiển hoa, đa số ở Đơn-tử-diệp (chiếm 40%) hơn Song-Tử-Diệp (chỉ chiếm 4,5%). Mặc dầu đa số trong Đơn-tử-diệp, nhưng chúng chỉ hiện diện trong 3 họ (Poaceae, Cyperaceae và Hydrocharilaceae) trong khi hiện diện trong 15 họ của Song-tử-diệp.
Trong Đơn-tử-diệp, chúng hiện diện nhiều nhất trong họ cỏ (Poaceae, khoảng 46%). Trong nhóm cây hoa màu hòa-bảng, C4 quan trọng nhất là bắp (ngô), mía, millet và sorghum (lúa miến). Họ cỏ Năng Cyperaceae cũng có một số loài có quang-tổng-hợp C4.
Trong Song-tử-diệp, chúng hiện diện nhiều nhất trong họ Chenopodiaceae (trong số 1.400 loài thì có 550 loài có quang-tổng-hợp C4), kế tiếp là họ Rau Dền Amaranthaceae (với 250 loài trong số 1.000 loài). Ngoài ra, quang tổng-hợp C4 còn hiện diện ở một số loài trong họ Asteraceae, Brassicaceae (Cải) và Euphorbiaceae. Loài tảo xanh (blue alga) cũng thuộc loại C4.
Trong cùng một họ (như họ Đậu, Leguminosae), hay cùng một giống (genus) (như Atriplex), hay cùng chung một loài (species) có dòng thuộc C3, có dòng thuộc C4. Hay ngay cả trên một cây, có cả 2 loại C3 và C4, như bắp (Zea) và nhiều loại lúa hoang dại.
Hầu hết, thực vật C4 có kiến trúc Kranz. Tuy nhiên, vẫn có thực vật có quang-tổng-hợp-C4 nhưng không có kiến trúc Kranz.
Suaeda aralocaspica, Bienertia cycloptera và Bienertia sinuspersici (thuộc Chenopodiaceae) là loại thực vật vùng khô hạn, đất nhiểm mặn, sa mạc ở Đông Nam Á có quang-tổng-hợp tương tự C4 nhưng không có kiến trúc Kranz.
Hydrilla verticillata, một loại thủy thực vật cổ đại, không có kiến trúc Kranz, nhưng vẫn thực hiện quang-tổng-hợp tương tự C4 nhờ khả năng hấp thụ nhiều CO2 và không có quang-hô-hấp (10).
Quang-tổng-hợp CAM (Crassulacean Acid Metabolism).
Là loại cây thích ứng vùng khô hạn, cây có cơ nguyên ngăn chận hiện tượng thoát hơi nước. Khí-khổng đóng vào ban ngày khi có ánh sáng, chỉ mở vào ban đêm khi có nhiệt độ mát. Ngay cả ban đêm, khi có nhiệt độ nóng khí-khổng vẫn đóng. Vào ban đêm, khí-khổng mở, CO2 hấp thụ biến thành acid và tồn trử dưới dạng malate trong không bào (vacuole). Ngày hôm sau, khi có ánh sáng, lúc khí-khổng còn đóng kín, acid này phóng thích CO2 để sử dụng cho quang-tổng-hợp như nhóm C3.
Nhóm thực vật quang-tổng-hợp CAM chiếm khoảng 5%, gồm khoảng trên 1.000 loài, tập trung khoảng 17 họ, thích ứng vùng sa mạc, hay vùng khô hạn, như các họ Crassulaceae, Cactaceae, Bromeliaceae, Orchidaceae, một số rong, rêu mọc trên thượng tầng cây cối trong rừng. Tiêu biểu thực vật CAM là thơm khóm (pineapple) và xương rồng (cactus).
Nhiều loại cây có cả C3 và CAM ở trên cùng một cây. Chẳng hạn, Mesemryanthemum crystallinum (họ Aizoaceae) có C3 và CAM, bình thường hoạt động với C3, nhưng khi gặp nước mặn thì chuyển qua CAM.
Chỉ Portulaca oleracea (Rau sam, họ Portulacaceae) là loài cây duy nhất có C4 và CAM trên cùng một cây, và tuỳ theo môi trường mà C4 hay CAM hoạt đông.
Thực vật C4 có lợi thế trong môi trường có cường độ ánh sáng cao, thực vật CAM có lợi thế vừa ở nhiệt độ cao, vừa ẩm độ không khí thấp (khô hạn) và đất nhiểm mặn.
Thực vật nhóm CAM sẽ hưởng lợi khi gia tăng CO2 và nhiệt độ, ngay cả ở điều kiện hạn hán trong môi trường tương lai.
SỰ TIẾN HÓA CỦA QUANG-TỔNG-HỢP
Sự khác biệt về kiến trúc mô tế bào giữa C3 và C4 là sự hiện diện thêm kiến trúc Kranz ở C4.
Thực vật trên đất liền bắt đầu sống tự lập nhờ quang-tổng-hợp sơ khai cách đây khoảng 2,7 tỷ năm, và tiến hóa đến quang-tổng-hợp-C3 cách đây khoảng 450 triệu năm (9). Khởi thủy, ở Rêu (moss) quang-tổng-hợp xảy ra ở tế bào trong kiến trúc sợi đơn giản, tương tự như lá, và trao đổi khí CO2 qua các lỗ (pores) trên biểu bì. Qua tiến hóa, đến loài Dương Xỉ (Fern) lá trở nên đa dạng, phức tạp và quang-tổng-hợp hữu hiệu hơn (2).
Quang-tổng-hợp ở thực vật C3 khởi thủy được phát sinh từ trong môi trường không khí giàu CO2, khoảng 100 lần nhiều hơn hiện nay (11), và nghèo O2 của thời nguyên thủy. Vì vậy, ở thời nguyên thủy này thực vật tăng trưởng nhanh nhờ quang-tổng-hợp mạnh và ít quang-hô-hấp. Rồi địa cầu trải qua bao chu kỳ địa chất biến đổi; lượng CO2 trong khí quyễn giảm lần, rồi lại gia tăng, rồi lại giảm, rồi gia tăng thành nhiều chu kỳ. Vì vậy, quang-tổng-hợp phải tự-diễn-biến để thích ứng với môi trường mới có chứa ít hay chứa nhiều CO2, từ từ tạo loại thực vật vừa có đặc tính của C3 và C4, gọi là quang-tổng-hợp-trung-gian C3-C4. Sau đó, thực vật tiến hóa dần dần đến quang-tổng-hợp C4 và CAM.
Quang-tổng-hợp-C4 bắt đầu xảy ra cách đây khoảng 25-32 triệu năm vào thời Oligocene, khi lượng CO2 trong khí quyển hạ thấp, biến đổi giữa 180 và 320 ppm (ngày nay là 370 ppm), nhưng mải tới 6-7 triệu năm trước đây thực vật C4 mới thật sự chiếm phần quan trọng. Vào thời nguyên thủy, cả địa cầu là rừng rậm, chỉ toàn thực vật C3. Qua bao thời kỳ biến đổi địa chất, một số rừng bị hủy diệt, một số thành đất trống và sa mạc. Sự diển biến thành thực vật C4 khởi đầu từ các loài cỏ có quang-tổng-hợp C3 sống nơi thiếu ánh sáng dưới tầng cây rừng rậm, thoát li ra ngoài đồng trống, nơi có nhiều ánh nắng và thường thiếu nước. Một số tiến hóa đến thực vật CAM để thích ứng với điều kiện khô hạn và sa mạc, hay nhiểm mặn.
Lá vì vậy cũng phải diễn biến về cấu trúc, kiến trúc, cũng như hình dạng để có quang-tổng-hợp hữu hiệu. Càng tiến hóa lá càng chứa nhiều loại tế bào khác nhau. Ở loại Hiển hoa, quang-tổng-hợp diển tiến từ C3 qua thời kỳ quang-tổng-hợp-trung-gian C3-C4, để tới C4 và trãi qua tổng cộng 45 thời kỳ độc lập (2).
Giống Flaveria, trong họ Compositae (Họ hoa Vạn Thọ) gồm khoảng 18 loài, vừa có quang-tổng-hợp C3 và C4, lại vừa có quang-tổng-hợp-trung-gian C3-C4.
Trong giống lúa Oryza, lúa canh tác Á Châu (O. sativa) và lúa Phi Châu (O. glaberrima) đều là thực vật C3. Tuy nhiên, trong số 22 loài lúa hoang dại có một số loài có quang-tổng-hợp-trung-gian C3-C4 (11).
KHUYNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU TẠO GIỐNG LÚA CÓ QUANG-TỔNG-HỢP-C4
Ý niệm tạo giống lúa có quang-tổng-hợp-C4 bắt đầu từ 1999. Ngày nay, khoa học cho biết ở vài loại mô đặc biệt của thực vật C3, như ở cây thuốc lá và rau cần tây (celery), cũng có đầy đủ enzymes của thực vật C4 để cố định CO2 theo quang-tổng-hợp C4 mặc dầu không được hoàn hảo như thực vật C4. Ngược lại, ở thực vật C4 lục-bào nào không nằm kế cận tế-bào-bó-bẹ-lá thì vẫn quang-tổng-hợp C3.
Nếu thành công chuyển được gen chi phối quang-tổng-hợp C4 vào cây lúa thì sẽ làm biến đổi sinh hóa qua các enzymes, kiến trúc lá như kiến trúc Kranz, kiến trúc tế bào như lục bào, v.v. ở cây lúa trong tương lai, vì vậy tạo giống lúa C4 là một thử thách khó khăn cần thời lâu dài mới có thể khắc phục được (1).
Chuyển một gen hay nhiều gen của một loài C4 hay C3-C4 vào cây lúa chỉ có khả năng thành công với các giống hay loài C4 hay C3-C4 có bà con thân thuộc với lúa (1). Họ hàng càng xa thì càng khó thành công.
Vì thực vật C3 và C4 khác biệt nhau về tộc họ, nên không thể hay khó chuyển gen qua phương pháp lai phấn cổ điển. Cách duy nhất là chuyển gen chi phối quang-tổng-hợp C4 như của bắp, qua C3 như lúa, qua kỹ thuật chuyển gen sinh học (genetic engineering). Ngày nay, vi khuẩn Agrobacterium được áp dụng thành công trong kỹ thuật chuyển gen từ một tế bào của sinh vật này đến tế bào của một sinh vật khác, và vì vậy được áp dụng rộng rải trong kỹ thuật chuyển gen vào giống lúa canh tác.
Ba giải pháp được đề nghị:
(i) Triệt tiêu hay giảm thiểu hoạt động của cơ chế quang-hô-hấp ở lúa hiện nay, nghĩa là lúa vẫn giữ quang-tổng-hợp C3 nhưng không có quang-hô-hấp.
(ii) Tạo giống lúa có quang-tổng-hợp C4 như mía, bắy hay sorghum.
(iii) Tạo giống lúa mà lá có kiến trúc Kranz để có quang-tổng-hợp C4.
TÌM NGUỒN GEN CHI PHỐI QUANG-TỔNG-HỢP HỮU HIỆU
Quang-tổng-hợp-trung-gian C3-C4 và quang-tổng-hợp C4 hữu hiệu từ 30 đến 50% hơn quang-hô-tổng-hợp C3. Vì vậy, các nhà khoa học tìm nguồn gen quy định các quang-tổng-hợp hữu hiệu này để chuyển vào bộ gen của lúa.
Lúa Á Châu thuộc loại C3, không có kiến trúc Kranz như lá bắp , vì vậy việc tìm gen chi phối kiến trúc Kranz từ bắp để chuyển vào lúa không phải là chuyện dễ và cần phải có thời gian nghiên cứu lâu dài.
Loại thủy thực vật Hydrilla verticillata vốn không có kiến trúc Kranz nhưng vẫn thực hiện quang-tổng-hợp-C4 hữu hiệu được trong lục-bào qua cơ nguyên giảm thiểu quang-hô-hấp tương tự như bắp. Vì vậy, cải thiện quang-tổng-hợp ở lúa bằng cách bắt chước giảm thiểu quang-hô-hấp như của Hydrilla verticillata là một giải pháp đang được theo đuổi ngày nay.
Có khoảng 6.000 loài cỏ hòa bảng có bà con với lúa là mục tiêu tuyển chọn nguồn gen cho lúa. Chẳng hạn, cỏ Echinochloa crus-galli (cỏ lông công, lòng vực trong ruộng lúa), Echinochloa colona, Echinochloa glabrescens, Digitaria ciliaris đều có quang-tổng-hợp C4. Rottboellia cochinchinensis (cỏ lắt léo) cũng là C4.
Trong Panicum, thì P. bisulcatum thuộc C3, trong lúc P. maximum (cỏ voi), và P. miliaceum thuộc C4, còn P. milioides thì thuộc C3-C4.
Quan trọng hơn cả và nằm trong tầm tay kỹ thuật ngày nay là nguồn gen từ trong các loài lúa hoang dại. Hiện tại, Viện Nghiên Cứu Lúa Gạo Quốc Tế IRRI đang có bộ sưu tập 6.000 dòng của 22 loài lúa hoang dại.
Chưa có nhiều nghiên cứu chi tiết, nhưng kết quả sơ khởi cho biết có nhiều loài lúa hoang có quang-tổng-hợp-trung-gian C3-C4. Chẳng hạn, O. rufipogon, mặc dầu không có kiến trúc Kranz, nhưng có quang-tổng-hợp-trung-gian C3-C4, theo đó quang-hô-hấp thấp hơn 25% so với lúa canh tác O. sativa.
TIÊU CHUẨN TUYỂN CHỌN QUANG-TỔNG-HỢP HỬU HIỆU TRONG CÁC GIỐNG LÚA HOANG DẠI
IRRI tuyển chọn sơ khởi từ trong số 6.000 dòng lúa hoang dại được 130 dòng để tìm dòng nào có quang-tổng-hợp C4 hoặc C3-C4, dựa vào các tiêu chuẩn sau đây (11):
(i) Cho cây mạ hấp thụ đồng vị phóng xạ 13C. Bởi vì thực vật C4 phân biệt được và ít hấp thụ đồng vị phóng xạ 13C hơn thực vật C3, nên sử dụng tỉ số 13C/12C trong tuyển chọn. Các giống C4 có tỉ số này biến thiên giữa 0.252 và 0.320.
(ii) Số gân của lá C4 nhiều gấp đôi so với C3, nên tỉ số giữa số lượng gân/chiều ngang (mm) của lá được sử dụng. Lá C4 có tỉ số này 11, lúa hoang dại có tỉ số là 5.
(iii) Khoảng cách giữa các mạch (interveinal spacing) ở C4 như cỏ lông công là 93-136 µm, giống lúa IR72 khoảng cách 170 µm, còn lúa hoang dại biến thiên từ 113 – 332 µm.
(iv) Bởi vì lục-lạp chứa trong lục-bào ở C4 chiếm trên 80% diện tích, nên có thể dùng làm tiêu chuẩn tuyển chọn. Dùng kính hiển vi đếm số lục-bào và tính số bách phân (%) của tế-bào-bó-bẹ (BSC) có chứa lục-lạp, và số bách phân diện tích lục-lạp chứa trong mỗi tế-bào-bó-bẹ. Ở thực vật C4, 100% tế-bào-bó-bẹ chứa lục-lạp, và trong mỗi tế-bào-bó-bẹ lục-lạp chiếm trên 80% diện tích. Ngược lại ở lúa canh tác như IR64, các trị số trên lần lượt là 100% và 21%. Các giống lúa hoang dại như O. longistaminata có trị số lần lược là 100% và 48%, gần bằng trị số 100% và 50% của Panicum milioides của nhóm quang-tổng-hợp-trung-gian C3-C4.
Các kết quả sơ khởi cho biết không có một giống lúa hoang dại nào có quang-tổng-hợp-C4, nhưng trong số này có một số có quang-tổng-hợp-trung-gian C3-C4, và từ những dòng tuyển chọn này có thể ghép gen chi phối C3-C4 vào lúa canh tác để có quang-tổng-hợp hữu hiệu hơn (11).
HIỆN TRẠNG NGHIÊN CỨU TẠO GIỐNG LÚA C4
Dự án tạo giống lúa C4 cho cách mạng xanh thứ 2 trong tương lai là một tham vọng to lớn, theo đó con người sẽ biến đổi cây lúa toàn diện từ sinh hóa qua du nhập các enzymes của C4, qua kiến trúc lá với kiến trúc Kranz với lá có nhiều gân, đến cơ cấu tế bào của lục-bào chứa toàn lục-lạp v.v.
Sử dụng Agrobacterium làm phương tiện chuyên chở gen trong kỹ thuật biến đổi di truyền (GM, genetic modification) cho lúa. Chuyển một hay nhiều gen chi phối enzymes của C4 vào lúa đã thực hiện được, nhưng vẫn chưa đưa đến kết quả mong muốn về gia tăng quang-tổng-hợp hay gia tăng sản xuất chất khô.
Kiến trúc Kranz có vai trò chánh trong quang-tổng-hợp-C4, vì chỉ ở kiến trúc này lá mới hấp thụ nhiều CO2 để cho Rubisco hoạt động hữu hiệu, và vô hiệu hiên tượng quang-hô-hấp. Việc đi tìm gen chi phối kiến trúc Kranz ở C4 hiện đang tiến hành, mặc dầu bản đồ gen của lúa đã biết rõ từ 2003. Và việc chuyển những gen chi phối kiến trúc Kranz vào lúa cũng cần phải nhiều thời gian để khắc phục khó khan.
Nghiên cứu so sánh kiến trúc của gen Pdk chi phối pyruvate ở lúa, và Pdk chi phối orthophosphate dikinase (PPDK) ở bắp, cho biết những gen này giống hệt nhau, chỉ có một điểm khác là gen ở lúa có chứa thêm hai introns (intron là một vùng của DNA mà không diễn dịch thành protein). Tuy nhiên, gen ở bắp hoạt động mạnh 4 lần tạo enzymes phosphoenolpyruvate carboxylase (PEPC) và PPDK nhiều hơn ở lúa, vì vậy các nhà khoa học tìm cách chuyển gen này từ bắp vào cây lúa (5).
Ngày nay, các nhà khoa học đã thành công chuyển 3 gen chi phối quang-tổng-hợp-C4 là PEPC, PPDK và NADP-malic enzyme (ME) của bắp vào cây lúa (3).
Nghiên cứu trong việc chuyển gen chi phối PEPC từ cây bắp qua cây lúa tăng quang-tổng-hợp ở lúa-chuyển-gen lên 30% và làm giảm quang-hô-hấp. Tương tự như vậy, chuyển gen chi phối PPDK của pyruvate ở lục-bào làm gia tăng quang-tổng-hợp ở lúa-chuyển-gen tới 35%. Kết quả thí nghiệm ngoài đồng trong điều kiện ánh sáng mặt trời tối đa, khả năng quang-tổng-hợp của lúa-chuyển-gen-PEPC gấp đôi lúa dẫn chứng, và năng suất hạt gia tăng 10-30% ở lúa chuyển-gen-PEPC, và 30-35% ở lúa-chuyển-gen-PPDK hơn lúa không chuyển gen (4).
Mặc dầu được hợp tác chặt chẽ giữa nhiều Đại học, nhiều Viện nghiên cứu nỗi danh trên thế giới, được tài trợ bởi nhiều công ty kỹ nghệ hàng đầu trên thế giới (Như Quỹ Bill & Melinda Gates của hãng Microsoft tài trợ 11 triệu US$ cho khởi đầu dự án lúa C4) và nhiều chánh phủ, phải còn một thời gian dài nữa, khoảng 15-20 năm nữa giống lúa C4 mới có thể phát động canh tác quy mô. Bởi vì, còn phải có thời gian 3-5 năm nữa để còn xét nghiệm là giống lúa C4 có an toàn cho sức khỏe con người và môi8-|
|
|
|
| 10 phát minh vĩ đại của người Trung Quốc xưa (Phần cuối) |
|
Đăng bởi: prince.new01 - 01-26-2011, 05:49 AM - Diễn đàn: Có thể bạn chưa biết
- Không có trả lời
|
 |
10 phát minh vĩ đại của người Trung Quốc xưa (Phần cuối)
Nhiều sản phẩm quen thuộc như lụa và rượu cũng được cho là xuất hiện đầu tiên ở Trung Quốc. ![[Image: 09.png]](http://uhm.vn/Images/EmoticonOng/09.png)
Máy ghi động đất
Dù họ không phải là người nghĩ ra đơn vị đo sức mạnh của động đất nhưng công cụ đo sức mạnh đó lại xuất hiện đầu tiên ở Trung Quốc. Nó ra đời từ thời Hán, khoảng đầu thế kỷ thứ 2 và được làm rất tỉ mỉ. Nó có hình dạng một cái bình nặng bằng đồng với 9 con rồng hướng mặt xuống. Ở phía dưới mỗi con rồng là một con ếch đang há miệng. ![[Image: 10.png]](http://uhm.vn/Images/EmoticonOng/10.png)
Phía trong bình có một quả lắc, nó sẽ dao động khi có các cơn địa chấn và làm cho đòn bẩy hoạt động. Khi đó, các viên đá được giữ trong miệng 9 con rồng sẽ rơi xuống các con ếch phía dưới. Nghe có vẻ thô sơ nhưng phải 1.500 năm sau đó, phương Tây mới chế ra các cỗ máy tương tự.
Rượu
Trước đây, người ta tin rằng khoảng đầu thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên, người Trung Quốc đã nghĩ ra cách chế biến các thực phẩm như đậu nành và giấm sử dụng kỹ thuật lên men hay chưng cất. Không lâu sau đó, rượu ra đời. Các khám phá khảo cổ gần đây thậm chí còn cho thấy họ đã tạo ra rượu từ trước đó rất lâu. Một số mảnh vỡ đồ gốm 9.000 năm tuổi mới được tìm thấy đã mang trên đó các dấu hiệu của rượu và biến người Trung Quốc thành những kẻ “say sưa” đầu tiên trên thế giới. Người A Rập cổ đại đã phải mất thêm 1.000 năm nữa để chế ra đồ uống có cồn.
Diều
Vào thế kỷ thứ 4 trước Công nguyên, Lỗ Ban và Mặc Tử đã chế ra các con diều mang hình dạng cánh chim một cách riêng rẽ. Cảm hứng của hai ông đã nhanh chóng được người khác đón nhận. Dần dần, người Trung Quốc tạo ra thêm các thiết kế mới và các hình thức sử dụng mới cho các cánh diều như dùng diều để câu cá hay mang thuốc nổ và pháo đài của địch. Diều cũng là cảm hứng để họ tạo ra một phát minh lớn khác là tàu lượn. ![[Image: 46.png]](http://uhm.vn/Images/EmoticonOng/46.png)
Tàu lượn
Khoảng 800 năm sau khi diều ra đời, người Trung Quốc đã thành công trong việc tạo ra các cánh diều đủ lớn và có hình dạng khí động học phù hợp để chở các vật nặng tương đương con người. Chỉ là vấn đề thời gian trước khi ai đó quyết định thử bỏ đi dây diều và buộc mình vào đó.
Thời xưa, tàu lượn được dùng theo cách rất khác ngày nay. Các vị bạo chúa bắt tội phạm và tù nhân chiến tranh, buộc chặt họ vào diều và bắt nhảy từ vách đá cao. Lịch sử ghi lại rằng có một người đã bay tới 2 dặm và hạ cánh an toàn, tuy nhiên không phải ai cũng có may mắn như thế. Các “chuyến bay” của người Trung Quốc sớm hơn người châu Âu tới trên 1.300 năm. ![[Image: 33.png]](http://uhm.vn/Images/EmoticonOng/33.png)
Lụa
Người Mông Cổ, người Byzantine, người Hy Lạp và người La Mã đều cảm thấy sợ hãi khi phải đối mặt với các phát minh quân sự “made in Trung Hoa” như thuốc súng. Nhưng một phát minh khác lại đóng vai trò giống như sứ giả hòa bình, đó là lụa. Nhu cầu lụa từ các nước phía Tây cao đến mức nó giúp tạo ra mối liên hệ giữa Trung Quốc và thế giới. Con đường tơ lụa huyền thoại ra đời chính là vì mục đích buôn bán lụa, sau đó mở rộng sang các loại hàng hóa khác. Từ Trung Quốc, người ta mang lụa tới tận Địa Trung Hải và châu Phi.
Người ta đã tìm ra cách tạo ra lụa từ cách đây 4.700 năm và đã giữ bí mật suốt thời gian dài. Tuy nhiên, các thầy tu châu Âu cuối cùng cũng tìm ra trứng của các con tằm tạo ra lụa và mang chúng về phương Tây.
|
|
|
| Linh Hồn Và Cõi Âm |
|
Đăng bởi: Bụt. - 01-26-2011, 05:49 AM - Diễn đàn: Tư liệu khoa học
- Không có trả lời
|
 |
Người ta đã sinh ra thì tất sẽ chết. Nên mọi người đều rất quan tâm và đa số sợ chết. Do đó sinh ra các triết nhân và triết thuyết về cái chết, các thánh nhân và tôn giáo về thiên đàng, địa ngục, các mê tín dị đoan về ma quỷ.
Chúng tôi cũng như mọi người thường suy nghĩ về Cái chết, về Linh hồn, về Cõi đời sau khi chết, nhưng hơi nhiều hơn mọi người.
Tôi, Bùi Duy Tâm, sinh ra trong một gia đình ba đời theo Đạo Thiên Chúa, đã đọc Thánh Kinh (Cựu Ước và Tân Ước) ba lần, đi nhà thờ rất đều mỗi sáng chủ nhật cho đến năm 30 tuổi. Sau này làm bạn tâm giao với cố Linh mục Bửu Dưỡng và Hoà thượng Thích Mãn Giác, nên tôi có điều kiện đàm luận về Thiên Chúa Giáo và Phật Giáo. Tôi đã được hiểu cái tinh tuý của Lý Dịch và Đạo Nho với cố Bác sĩ Nguyễn Văn Ba. Tôi đã đọc rất kỹ các cuốn Tử Thư của Ai Cập và Tây Tạng cũng như nhiều sách khác cùng loại. Tôi đã sang Ai Cập, Ấn Độ, Tây Tạng… để tìm hiểu thêm về Huyền Bí Học và Siêu Hình Học. Nhưng tất cả đều mù mờ về “Linh hồn” và “Cõi đời sau khi chết”. Không có đủ chứng cứ cụ thể có thể thuyết phục tôi. Tôi không chấp nhận các giáo điều của chính trị và tôn giáo. Tôi không yên tâm với tín ngưỡng và chán ngấy các loại sách viết huyên thuyên xích đế chẳng có gì cụ thể.
Tôi trở thành một người theo phái bất khả tri: “Con người nhận biết thế giới và vũ trụ với khả năng rất giới hạn nên không thể biết được sự tuyệt đối về Thượng Đế, Linh hồn và Cõi đời sau khi chết”.
Và như vậy, việc nghiên cứu tìm hiểu sự hiện hữu của Linh hồn và Cõi Âm của tôi chưa đi đến đâu cả, chưa thấy một sự kiện gì đủ thực tế để bấu víu.
Đầu thế kỷ 21, tình cờ cầm tờ Y Tế Nguyệt San số 5, tháng 5, 2001 của Hội Y Sĩ Việt Nam tại Hoa Kỳ và đọc bài viết “Thế giới vô hình và việc tìm kiếm mồ mả ở Việt Nam” của Bác sĩ Nguyễn Lưu Viên (nguyên Phó thủ tướng đặc trách Văn hoá, Giáo dục, Y tế, Xã hội thời Việt Nam Cộng Hoà). Trong bài báo, Bác sĩ Viên tả lại việc tìm mộ gia đình của Kỹ sư Trần Lưu Cung (nguyên Tổng giám đốc Giáo dục kỹ thuật và Thứ trưởng Đại học thời Việt Nam Cộng Hoà) do hướng dẫn của các nhà ngoại cảm (ông Ngà, cậu Liên, cậu Nguyện…). Các nhà ngoại cảm tìm mộ đều nói chính vong linh của người quá cố đã chỉ cho họ những chi tiết để hướng dẫn gia đình tìm mộ. Đặc biệt trong bài báo, Bác sĩ Viên còn đề cập đến bài tự thuật “Tôi đi gặp người thân đã mất (vong) tại nhà cô Phương ở Bắc cầu Hàm Rồng tỉnh Thanh Hoá
Ông Nguyễn Hùng Phong. Ông Phong đã tường thuật lại việc ngày 16-12-1999 đến nhờ cô Phương giúp cho được gặp lại vong linh của vợ là bà Vũ Thị Hạnh, nguyên Trưởng phòng Giáo dục quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, đã mất đột ngột tại nơi làm việc tháng 3 năm 1999 do bệnh tim…
Sau khi đọc xong bài báo, tôi mừng quá, liền gọi điện thoại ngay cho ông Trần Lưu Cung. Ông Cung xác nhận sự kỳ diệu của việc tìm mộ và còn gửi cho tôi xấp tài liệu riêng của gia đình kèm theo rất nhiều hình ảnh.
Như vậy là đề tài “Linh hồn và Cõi âm” đã có cơ hội hé mở sau bao thất vọng. Còn đợi gì nữa mà không về Việt Nam , đến cầu Hàm Rồng để tìm gặp cô Phương cho ra nhẽ?
***
Tháng 10 năm 2003 tôi về Hà Nội để làm lễ Cửu Tuần Đại Thọ cho mẹ tôi. Tới Hà Nội đêm hôm trước, thì sáng sớm hôm sau tôi lên đường đi Thanh Hoá để gặp cô Phương. Tôi mời mẹ tôi đi cùng, lấy cớ đưa mẹ đi Sầm Sơn để ôn lại các kỷ niệm xưa. Trước khi rời Hà Nội, mẹ con tôi ghé lại tiệm may áo dài. Tôi mang từ Mỹ về xấp vải nhung đỏ để may cho mẹ một áo dài mặc trong lễ Cửu Tuần Đại Thọ sắp tới.
Trên đường đi Thanh Hoá, tôi ghé vào em Bùi Duy Tuấn nhằm cầu xin cha tôi (mất năm 1990 tại Sài Gòn) về điện cô Phương, cầu Hàm Rồng để các con và mẹ được gặp cha. Chúng tôi không dám nói với mẹ mục đích của chuyến đi vì mẹ tôi sùng Đạo Chúa (Tin Lành), không chấp nhận những chuyện “ma quỷ” như vậy.
Khi đến nơi, hai anh em tôi thấy quang cảnh đúng như trong bài báo của Bác sĩ Nguyễn Lưu Viên: Khoảng 30-40 người ngồi im lặng, nghiêm chỉnh, có vẻ lo âu chờ đợi trước một cánh cửa đóng kín. Một người đàn bà (sau này tôi biết là chị chồng cô Phương) dáng mập ngồi chắn trước cửa, thỉnh thoảng hô lên “Nhà ai có vong tên… thì vào”. Thế là vài ba người hay dăm bảy người mừng rỡ hấp tấp đi vào…
Chúng tôi mời mẹ vào ăn sáng tại một nhà nghỉ khá lớn ở ngay trước điện cô Phương (nhà nghỉ này của nhà chồng cô Phương tiếp các khách ở xa đến phải chờ đợi vong nhà mình có khi tới ba ngày, cả tuần lễ hay đôi khi thiếu may mắn không gặp được vong, đành phải ra về tay không). Hai anh em tôi lén đi thắp nhang trước điện để cầu khẩn cha tôi về theo thủ tục như mọi người. Thỉnh thoảng cửa hé mở để dăm ba người đi ra. Người thì tỏ ra hớn hở. Người thì nước mắt sụt sùi.
Tôi sốt ruột đi hỏi xem có phải đăng ký hay làm thủ tục gì nữa không, thì mọi người đều xác nhận không phải làm gì cả, mà cứ kiên nhẫn ngồi chờ. Khi vong nhà mình về thì người ta gọi vào.
Tôi thắc mắc là tôi chưa khai tên của cha tôi thì ai biết mà gọi. Mọi người cười, chế nhạo tôi là hỏi thật ngớ ngẩn!
Chúng tôi chờ từ 10 giờ sáng đến ba giờ chiều thì người đàn bà ngồi trước cửa đứng lên nói to: “Cô Phương nghỉ làm. Xin mời quý vị ngày mai trở lại”. Thế là anh em tôi ngao ngán cùng với vài ba chục người đứng dậy ra về.
Chúng tôi đưa mẹ ra Sầm Sơn nghỉ ngơi và thăm lại cảnh xưa chốn cũ. Thật cảm động khi trở về nơi mà tôi đã sống những ngày thơ ấu cách đây hơn nửa thế kỷ (gần 60 năm).
Sáng hôm sau chúng tôi trở lại điện cô Phương. Lần này chúng tôi phải thú thật với mẹ chuyện hai anh em đang làm. Mẹ tôi dẫy nảy lên: “Đến chỗ ma quỷ! Tao không vào đâu!”. Chúng tôi lại phải đành mời mẹ ngồi ăn sáng ở nhà nghỉ như ngày hôm trước.
Lần này tôi sốt ruột lắm rồi. Tôi đi ra đi vào, hỏi chuyện người này người nọ. Tôi gặp bố mẹ chồng cô Phương. Ông Nghinh (bố chồng) mời tôi uống nước, đang kể chuyện cô Phương thì bỗng nghe có tiếng gọi: “Bà Tỉnh đâu, người nhà ông Tỉnh đâu?” (cha tôi tên là Bùi Văn Tĩnh, nhưng vì nói giọng Thanh Hoá nên nghe gọi tên là Tỉnh). Phải gọi đến vài ba lần thì anh em tôi mới biết là gọi mình. Tôi chạy tới cánh cửa. Em Tuấn chạy ra hối hả gọi mẹ: “Mợ ơi, Cậu về gọi mợ đấy!”. Mẹ tôi hốt hoảng đứng bật dậy chạy theo em tôi, quên mất lập trường chống ma quỷ của mình.
Qua cánh cửa, chúng tôi bước vào một căn phòng khá rộng rãi, trống rỗng. Ngoài cái bệ trên tường để trái cây và các phong bì (chắc là tiền thưởng), thì không có bàn thờ hay trang trí gì khác của một cái am, cái điện. Cô Phương ăn mặc diêm dúa như các cô gái Hà Nội, mặt hoa da phấn, đang ngồi tỉnh táo trên chiếu cùng với một gia đình đông trên chục người. Cô cất tiếng: “Gọi mãi mà các bác không vào, nên vong nhà khác tranh vào trước. Thôi, các bác vui lòng ngồi chờ nhé!”.
Thế cũng tốt, chúng tôi có dịp được quan sát thêm. Cô Phương gọi tên hết người này đến người nọ trong gia đình ngồi chung quanh cô. Khi gọi trúng tên ai thì giơ tay thưa: “Dạ, con đây (hay em đây, cháu đây…)”. Và người đó nói chuyện với vong (qua miệng cô Phương). Tôi nghe thấy đa số trả lời: “Dạ, đúng vậy…” có vẻ cung kính lắm.
Có một chuyện cười ra nước mắt. Vong gọi: “Thằng Thanh đâu?”. Một thanh niên chừng 25 tuổi đứng bật dậy: “Dạ, con đây!”. Vong nói: “Mày không biết thương vợ con. Mày tằng tịu với con Mai ở cùng cơ quan”. Chàng thanh niên sợ hãi líu ríu nhận tội. Người phụ nữ ngồi cạnh (chắc là vợ) oà lên khóc nức nở. Sau gần một giờ, gia đình đó mới kéo nhau ra.
Bỗng cô Phương nhìn chằm chằm vào mẹ tôi rồi kêu to lên: “Mợ ơi! Con của Mợ đây! Thắng đây! (Thắng là đứa em út của chúng tôi, mất lúc chưa đầy một tuổi.)
Mẹ tôi vừa xúc động vừa ngạc nhiên: “Trời ơi! Con tôi… Nhưng con mất từ hồi mới… tám tháng…”.
Vong nói qua miệng cô Phương: “Bây giờ con lớn rồi. Hôm qua con biết Mợ và hai anh đến, nhưng con phải đi mời Cậu. Cậu không chịu về. Con phải nói: Mợ già yếu, còn anh Tâm ở xa về nên Cậu mới chịu. Cậu và Ông Nội cũng về đây với con”.
Rồi quay sang phía hai anh em tôi, cô Phương nói: “Hai anh chẳng nhớ gì đến em. Hai anh chỉ khấn Cậu thôi!”.
Đúng vậy! Chúng tôi đâu có nghĩ đến thằng em út đã mất từ lúc tám tháng. Thật bất ngờ cho chúng tôi.
Quay trở lại mẹ tôi, cô Phương nói: “Con thích tên là Bùi Duy Thắng như các anh con là Bùi Duy Tâm, Bùi Duy Tuấn. Sao Mợ lại đặt tên con là Bùi Tất Thắng?”.
Mẹ tôi luống cuống: “Tại bố con đấy! ”. (Hồi đó cả nhà trách bố tôi vì đặt tên thằng út là Tất Thắng. Tất còn có nghĩa là hết, tức là chết. Nên nó mới mất sớm. Nhân tiện tôi nói thêm là việc đặt tên rất quan trọng, còn quan trọng như thế nào thì tôi không biết. Nhưng tôi có biết ông Đỗ Trí ở Sơn Tây có tài chỉ cần đọc tên là ông biết con người ấy như thế nào, như xem chỉ tay hay số tử vi vậy.)
Vong em tôi nói tiếp qua cô Phương: “Thôi, Mợ đã khắc tên con trên bia mộ rồi!”.
Đúng thế. Tên em tôi đã được khắc trên bia mộ, nằm cạnh ông bà ngoại tôi trong nghĩa trang Bất Bạt.
Đến lượt bố tôi vào. Vong bố tôi qua thân xác cô Phương nắm tay mẹ tôi, rồi nói: “Hơn mười năm rồi mới gặp lại bà. Tôi nhớ bà lắm…”. Mẹ tôi khóc nức nở. Chúng tôi cũng khóc. Bố tôi bỗng trách đùa mẹ tôi: “Bà diện lắm! Mới đi may áo đỏ…”.
Trời ơi! Sao bố tôi biết nhanh thế? Trong gia đình tôi đã có ai biết chuyện may áo đỏ của mẹ tôi đâu! Tôi mới về Hà Nội tối hôm trước thì sáng hôm sau trên đường đi Thanh Hoá ghé qua tiệm may, bỏ xấp vải nhung đỏ để may áo cho mẹ kịp mặc vào Lễ Đại Thọ. Mẹ tôi đương líu ríu chống chế thì bố tôi bồi thêm một câu đùa yêu tiếp: “Bà còn muốn tô son đánh phấn nữa!”.
Mẹ tôi rên rỉ: “Cái gì ông cũng biết! Đúng rồi! Tôi vừa xin con cháu Trinh Hương, con gái anh Minh, một chút son phấn để hôm Lễ Đại Thọ thoa một chút. Mặt mũi răn reo quá, sợ thằng con trai cả của ông nó ngượng với bạn bè”. (Chuyện này mẹ tôi giấu kín mọi người, trong khi anh em tôi không hay biết gì, thế mà bố tôi cũng biết!)”
Rồi cô Phương quay sang tôi: “Tâm ơi! Cậu buồn quá vì chuyện con Hà nhà con. Nó lôi thôi với chồng nó thì chỉ khổ cho ba đứa con thôi”. (Hà là con gái tôi. Chuyện của nó mới xảy ra trước khi tôi về Hà Nội. Vợ chồng tôi nghe phong phanh, nhưng chưa có dịp trao đổi với nhau. Thế mà mọi chuyện người Âm đều biết, không giấu giếm được!)
Một lúc sau thì ông nội tôi về. Qua miệng cô Phương: “Tao là Bùi Văn Khanh, ông nội đây. Cả bà nội Nguyễn Thị Ngọt cũng về đây!”.
Tôi vội thưa: “Thưa Ông, con nghe anh Đại con cô Hai nói tên Ông là Khánh, nhưng lâu ngày trên giấy khai sinh của Bố con mất dần dấu sắc, nên đọc là Khanh” (cô Hai là chị ruột bố tôi.)
Ông nội tôi gắt lên: “Tên tao là Khanh, chứ không phải là Khánh”.
Rồi quay sang mắng mẹ tôi: “Chị về làm dâu nhà tôi mà không đoái hoài mồ mả tổ tiên nhà chồng. Từ ngày cưới chị, chị chỉ về quê nội có một lần!”.
Mẹ tôi sợ hãi chống chế: “Gia đình con ở Hà Nội, Hải Phòng. Quê nội ở mãi Bái Đô, Lam Kinh – Thanh Hoá, nên đi lại khó khăn. Và, con sinh con đẻ cái đều đều ba năm hai đứa nên không về thăm quê được. Con xin nhận tội với ông bà”.
Cứ như thế trong 90 phút vui buồn, khóc lóc…
Hai anh em tôi và mẹ hớn hở ra về. Có lẽ vì cao hứng nên chúng tôi ghé thăm nhà thơ Hữu Loan, người bạn cũ ở Thanh Hoá. Đáng nhẽ về thẳng Hà Nội, nhưng chắc còn luyến tiếc những giờ phút quý báu xúc động buổi sáng đó nên chúng tôi quay trở ngược lại cầu Hàm Rồng để chụp ảnh với cô Phương. Kỳ này mẹ tôi không phản đối nữa mà còn hăm hở muốn gặp cô Phương.
Cô Phương vui vẻ cho biết thêm: “Cụ ông lại vừa về cho biết đã đăng ký chỗ dạy học cho bà rồi”.
Lại thêm một ngạc nhiên: Mẹ tôi vốn là một giáo viên hồi hưu. Ngày xưa, mẹ tôi là người đàn bà Tây học. Khi lấy chồng, sinh con thì ở nhà. Khi các con khôn lớn thì bà mới đi dạy lại vì sự khuyến khích của bố tôi. Thôi, không còn nghi ngờ gì nữa. Đúng là vong linh của bố tôi rồi! Lúc nào bố tôi cũng muốn mẹ tôi sử dụng cái tri thức của mình.
Ngày hôm đó là ngày trọng đại của đời tôi. Tôi thấy cụ thể sự hiện hữu của Linh hồn và cõi âm. Dù cho sau này cô Phương có nói bậy gì đi nữa, các cô gọi hồn khác, các nhà ngoại cảm khác đôi khi có nói bậy vì mưu sinh thì kết quả của ngày hôm đó vẫn không thể chối cãi được, nếu không nói là được tuyệt đối chấp nhận.
Khác nào như ta cố gắng gọi điện thoại cho người thân, đường dây rất khó khăn, rất xấu, nhưng chỉ một lần thôi ta nghe rõ tiếng người thân trò chuyện với ta về những chuyện gia đình mà người ngoài không thể biết được, thì cũng khá đủ cho ta biết rằng người thân của ta vẫn tồn tại. Tuy ta không nhìn thấy được vì giới hạn của ngũ quan, nhưng người thân quá cố của ta vẫn tồn tại với các ký ức, với các kỷ niệm dưới một dạng nào đó mà ta không biết, ta tạm gọi là “Linh hồn”, trong một thế giới nào đó mà ta cũng không biết, tạm gọi là “cõi âm” (để phân biệt với cõi Dương mà ta đang sống) hay theo kiểu Tây Phương gọi là “Cuộc đời sau khi chết” (“Life after death”).
Sau này mỗi lần về thăm quê hương, tôi đều đưa mẹ tới gặp cô Phương. Lần sau cùng mẹ tôi gặp cô ấy là cuối năm 2005. Khi đó mẹ tôi vẫn còn khoẻ mạnh, nhanh nhẹn. Trước khi ra về, cô Phương nói nhỏ với tôi: “Cụ ông nhớ bà lắm. Cụ ông sắp đưa bà về rồi. Một cách bình yên”. Ít lâu sau, mẹ tôi mất rất nhanh.
Sau này tôi có gặp nhiều nhà ngoại cảm khác ở Việt Nam, họ cũng có khả năng như cô Phương – cô Bằng, cô Thao, cô Mến trên đường từ Hà Nội qua Hải Dương đến Hải Phòng.
Tôi cũng đã gặp các nhà ngoại cảm tìm mộ như Cậu Liên, anh Nguyễn Khắc Bảy, cô Phan Thị Bích Hằng…
Tôi cũng đã gặp các nhà khoa học nghiên cứu về tâm linh như TS Nguyễn Chu Phác, GS Ngô Đạt Tam, GS Phi Phi, TS Ngô Kiều Oanh… làm việc ở các cơ quan khác nhau. Tôi đã được đọc câu kết luận của một tài liệu ở Việt Nam (không phổ biến công khai) như sau: “Thế giới tâm linh là có thật. Đó là một thực tế khách quan cần được các nhà khoa học nghiên cứu nghiêm túc. Chúng ta hãy bình tĩnh, khách quan lắng nghe những lời nhắn nhủ từ thế giới tâm linh để có cuộc sống nhân ái hơn, lương thiện hơn“.
Bùi Duy Tâm
thank nào các bạn :">
|
|
|
| Hoa Cỏ May |
|
Đăng bởi: Bụt. - 01-26-2011, 05:46 AM - Diễn đàn: Truyện đọc
- Không có trả lời
|
 |
Tác Giả: Trịnh Thị Lan
Nắng lơ mơ nhìn Chấm. Chấm nheo mắt vẻ thú vị. Cỏ may líu ríu bên bước chân Chấm. Cuối xuân, đồng cỏ thẫm màu hơn, càng bát ngát, hiền hoà.
Chấm mỉm cười một mình. Cứ như đang đi đến nơi cảm thực tại. Ðồng cỏ này là của Chấm, nhưng là con bé Chấm của mùa hè năm trước kia. Cô Chấm, nhưng là con bé Chấm của của mùa hè năm trước kia. Cô Chấm bây giờ có thể nào còn xô vào ôm cứng lấy được những cậu bé cùng tuổi, rồi cùng ngã đùng ra, lăn cù cù trên thảm cỏ để cướp cho bằng được chùm quả mây, quả dút dót. Chấm khẽ nhún vai. Buồn cười thật! Chỉ có bốn, năm đứa con gái giữa một lũ con trai lộc ngộc to tồ, thế mà bọn Chấm luôn luôn giành phần thắng. "Ðúng là lũ mặt săng đá!" - Có lúc thua đau, Vĩnh đã nổi khùng lên mà nói như thế. Lúc ấy, nào Chấm đã biết thế mạnh, điểm yếu của mình đâu, thấy người khác lăn xả vào, Chấm cùng lăn xả vào, giành được phần thắng thì nhảy cẫng lên, cười khanh khách, nếu bị đẩy bật ra, Chấm sẵn sàng bệt ngay xuống cỏ, đạp chân lia lịa và "nhè mồm ra". Hoạch bảo sợ nhất là khi cái Chấm nhè. Nó khóc dai kinh. Khóc mà chẳng có tí nước mắt nào, chỉ toàn dỗi. Ðã thế lại "khoẻ" dỗi vặt. Bao giờ cũng thế, Hoạch là đứa đầu tiên ngừng cuộc giành giật để dỗ Chấm. Chấm chẳng đếm xỉa những lời ấy. Cả lũ bạn chăn trâu xúm lại. Cũng chẳng ăn thua. Chúng nản lòng, tản đi cả. Còn lại mình Hoạch: "Thôi nào, đứng dậy đi!". Ðến khi đó, dường như cực chẳng đã, Chấm mới đứng dậy. Hay vớ vẩn thế nhưng chẳng đứa nào giận Chấm cả. "Nó nhóc con nhất hội mà lị!". Hoạch cứ nói như phân bua. Bao giờ chia phần, Hoạch cũng giành phần hơn cho Chấm. Ðôi khi, Chấm cũng hơi thấy mếch lòng vì Hoạch cứ mãi coi Chấm là trẻ con....
Chấm lững thững trên đồng cỏ. Gió chiều lành lạnh. Ðàn cò xếp xong hàng ngũ hình mũi tên đang bắn về phía Tây. Trẻ mục đồng ồn ã đánh trâu về.
- Ôi! Chị Chấm!
Cái Hà "sún" bé tanh tách kêu toáng lên. Hoạch quay lại nhìn Chấm:
- Cu Ðiểm đã cho trâu về rồi!
-....
Cái Hà quất thừng vào lưng trâu, chạy lồng lên cho kịp với chúng bạn.
- Chấm về từ bao giờ?
-... Chấm nhớ đồng cỏ quá nên ra thăm đó! Chấm tưởng chỉ mình Chấm đi học không chăn trâu nữa, hoá ra cũng chẳng còn mấy ai. Còn mỗi Hoạch!
- Hôm nay, tôi chăn đỡ cho Hoạch và Ðiểm thôi! Còn "chúng nó" lớn cả rồi, ai còn đi chăn trâu nữa.
- Xì! Lớn gì! Chưa được một năm.
Hoạch nhìn vào mắt Chấm. Cô bé hay nhõng nhẽo vẫn thế: Ngang như cua, vẫn rất dễ thương. Chấm đi chân đất, hai ống quần dệt kín hoa cỏ may. ánh mắt kiêu hãnh nhìn thẳng lại Hoạch. Chẳng biết cô bé đang nghĩ gì?
- Bây giờ Hoạch làm gì? Có còn chơi với Lý, Vĩnh, Gái, Hoè... nữa không? Sao dạo này ít nói thế?
Hoạch giật mình. Anh chàng nghĩ về từng đứa bạn theo thứ tự Chấm điểm danh. Anh bối rối:
- Chẳng làm gì cả... Mà tôi đang đóng gạch với mọi người.
- Ðóng gạch? Ðể xây nhà.Và cưới vợ. Phải không?
- Sao Chấm lại hỏi tôi thế?
- Hoạch đừng xưng tôi với Chấm, nghe xa cách lắm. Ngày trước Hoạch nói nhiều với Chấm cơ. Ngày trước là năm ngoái ấy mà! Sao bây giờ Hoạch lại cứ.... Hoạch ít nói hẳn?
Hoạch đỏ nhừ mặt. Anh quấn đầu thừng vào mấy ngón tay, cúi đầu không nói. Bỗng nhiên Chấm cũng lúng túng. Mới một năm qua mà Hoạch khác đi nhiều quá. Nhưng với vóc dáng cao lớn, vạm vỡ thừa hưởng ở người cha không dễ làm người ta khẳng định anh là nông dân bởi vầng trán cao thông tuệ và sống mũi rất thẳng của anh.
- Sang năm đủ tuổi, tôi xin đi làm công nhân trên tỉnh.
Chấm không nói gì. Chỉ mấy giờ trước đây, suy nghĩ của cô rất khác. Hình như giữa mình và Hoạch giờ đây đã có khoảng cách?...
- A! Một tên dế cụ! Mơ ước của cu Ðiểm đây!
Chấm chưa hoàn hồn, cau có nhìn Hoạch. Hoạch vẫn ngồi, trầm ngâm nhìn con dế trong tay:
- Ngày trước, đấu dế với chọi cỏ gà là những trò vui nhất của bọn mình. Hôm trước khi lấy chồng, Gái và cả lũ bạn ra đây, hồn nhiên tìm cỏ gà để chọi....
- Buồn cười nhỉ? Gái đã lấy chồng thì Chấm biết nhưng không hề biết chuyện này đâu.
- Không ai biết chuyện đó ngoài chúng mình. RồiÕ mỗi đứa sẽ có mỗi nơi hết đó thôi. Tất nhiên, Chấm vẫn là người sướng nhất. Vĩnh rất khao khát được học đại học. Chấm có biết không?
- Chấm biết! Chấm vẫn là đứa em út ít của mọi người đấy thôi!
- Tất nhiên rồi! Có thể Chấm thay đổi về cái gì, nhưng con mắt nhìn mọi người, nhất là bạn bè thì đừng thay đổi Chấm nhé! Không ai có hai thời ấu thơ đâu Chấm ạ!
- Vì thế mà ban nãy Hoạch trầm tư, ít nói? Chấm hiểu.
- Không phải... nhưng...
- Chấm sẽ đổi khác, Hoạch ạ! Nếu lên tỉnh, Hoạch đừng ngạc nhiên, trách cứ Chấm điều gì! Nhưng về đây, Chấm vẫn chỉ thế này thôi: chân đất, quần đen, quê hơn cả những người ở quê. Chấm yêu đồng cỏ này ghê gớm, Chấm thèm ăn quả dút dót vô cùng.
Hoạch sững sờ. Anh chẳng nói thêm được gì. Những điều dự định nói với Chấm, giờ anh đã quên béng mất. Anh chăm chú nhìn chấm. Bóng chiều loang loáng trong đôi mắt ngợp đen. Cô bé đã ngồi đối diện với Hoạch từ lúc nào, chống tay xuống cỏ vững chãi. Trong tay cô, một cọng cỏ gà khẽ rung rung, dù trước đó, Hoạch đã cố tìm nhưng không thấy.
Ðồng chiều đã thưa người. Con trâu đủng đỉnh đi trước, ve vẩy đuôi khoan khoái. Chấm và Hoạch lững thững cùng đi về. Cỏ may rạp dưới chân Hoạch, lại vùng dậy, xô tới áp vào chân Chấm. Chấm khẽ hít hà. Không khí có hương vị lạ lắm! Ðồng quê! Bảo rằng nó có hương thì càng hít sâu càng thấy đậm đà. Thế mà có lúc Chấm tưởng chỉ có mùi bùn tanh tanh, mùi phân ngai ngái trên những bờ vùng, bờ thửa lầy lội.
Con dế trong tay Hoạch cựa mình ọ ẹ. Bất giác Chấm đưa tay lên trán. Ðầu Chấm vẫn còn u vì cú đụng đầu vào Vĩnh lúc cổ vũ trận đấu dế năm ngoái đây!
|
|
|
| Quãng vượt |
|
Đăng bởi: Bụt. - 01-26-2011, 05:45 AM - Diễn đàn: Truyện đọc
- Không có trả lời
|
 |
Tác Giả: Lê Công
Tốn nhận được tin qua Thắm: Khâm bảo vệ thành công luận án phó tiến sĩ đã trở về. Tốn kinh ngạc vì Khâm chỉ đi nước ngoài có ba tháng mà Việt Hàn lâm Khoa học nước ấy lại cấp bằng Doctor cho anh. Thắm bảo: "Chúng mình đến chúc mừng anh Khâm chị Hương đi anh!". Tốn nói: "Ðể từ từ xem đã!".
Hôm về Viện, bác bảo vệ của Viện nói: "Thằng Khâm rồi sẽ tiến xa đấy!". Tốn giật mình: "Nó bao giờ cũng là chướng ngại vật của ta".
Tốn đến Viện để nắm thêm thông tin. Hà Nội mùa thu: đi trên con đường Nguyễn Du, mùi hoa sữa thơm ngào ngạt mà lòng Tốn quặn đau. Tốn nhớ lại ngày nào, Tốn, Hương và Khâm cùng đạp xe dàn hàng ngang trên con đường này; bao giờ Hương cũng đi giữa, Tốn đọc thơ, Khâm kể chuyện tiếu lâm, Hương cười như nắc nẻ. Bấy giờ Tốn đã thấy Khâm là đối thủ của Tốn. Tốn tìm cách tách Hương ra nhưng Khâm còn có sức mạnh ghê gớm vì Khâm đẹp trai, lại học giỏi.
Hương vừa xinh lại vừa thông minh. Da trắng, hai hàm răng trắng đều như hạt sen. Tốn cứ nghĩ nếu Khâm không chen vào thì Hương đã yêu hắn.
Một lần Tốn hỏi Hương: "Hương có yêu Khâm không?. Hương bảo: "Em không biết nữa". Tốn lại hỏi: "Thế Hương có yêu tớ không?". Hương nói: "Em chưa xác định". Thế là Tốn chờ đợi, hy vọng. "Thằng Khâm được cái mã nhưng đẹp trai không bằng chai mặt". Hương khéo. Khi đi chơi với Khâm, khi đi chơi với Tốn không bao giờ để cho ai mất lòng. Vì vậy Tốn cứ nghĩ Hương yêu hắn hơn.
Chẳng hiểu từ bao giờ Tốn đã ghen ghét, đố kỵ với Khâm. Lúc nào cũng sợ kém hơn. Hồi cùng học với nhau, Khân đã học giỏi lại khoẻ mạnh. Tốn thì bệnh gan. Lần đó Khâm bị lây bệnh cũng vì chăm sóc Tốn. Học lực của Khâm xuống hạng nhì.
Thắm hỏi: "Ngày trước anh yêu Hương lắm phải không?". Tốn gắt: "Sao cô cứ cứa vào nỗi đau của người khác thế". Thắm im.Õ Ngày ấy Tốn đã bảo Khâm: "Tớ yêu Hương đấy. Mày phải rút lui khỏi "vũ đài" đi. Khâm tái mặt. Anh rút lui và cũng không hề giận Tốn. Trận đấu không còn đối thủ. Tốn liền dùng các ngón nghề học được ở những cuốn sách rẻ tiền để chinh phục Hương. Tốn nào có biết tình yêu không phải là một thứ nghệ thuật mà là sự chân thật. Hương lãnh đạm khiến Tốn không chịu được. Một hôm Tốn trèo qua cửa sổ vào phòng ngủ của Hương....
Tốn ngồi với Thắm ở sân của Viện. Thắm cứ nằn nì: "Mình đi mừng họ đi anh". Tốn bảo: "Ðể chờ mọi người đến xem sao!". Ngay từ hồi ấy Hương đã tìm cách gán ghép Thắm cho Tốn mà không biết Tốn không thích Thắm. Cô người thô lại ăn nói linh tinh. Cái miệng thì đánh ngoắt ra sau ót. Cũng tội, cô đã theo đuổi Tốn gần mười năm chẳng chịu lấy ai. Mặc dù Tốn làm ra vẻ nói: "Anh đã hy sinh cho khoa học rồi. Cuộc đời anh chỉ có khoa học mà thôi". Thắm nói: "Thế thì em cũng hy sinh cho khoa học". Rồi toe toét cười.
Tốn nhớ mãi cái ngày Khâm cưới Hương bởi vì trùng vào ngày sinh nhật của Tốn. Thật là trớ trêu. Trời mùa đông mà Tốn thấy nóng nực. Tốn cứ muốn giật phăng cái sơ mi ra. Cái cà vạt như cột chặt cổ Tốn. Tốn ngồi trong góc hội trường không muốn Khâm nhìn thấy. Không khí ngột ngạt. Tốn đốt thuốc liên tục cháy cả tay. Hương trong bộ áo dài truyền thống đẹp đếnÕ mức Tốn như điên tiết lên. Khâm nâng chén rượu cùng với bạn bè. "Hôn nhau đi". Những kẻ quá khích kêu ầm lên. Khi hai làn môi chạm vào nhau, Tốn phải quay mặt đi. Trái tim Tốn bùng nổ. Tốn đứng dậy ra khỏi hội trường.
Suốt cuộc chạy đua với Khâm, Tốn luôn níu chân Khâm lại mà không được. Tốn đã nói xấu Khâm tại cuộc họp xét đi nghiên cứu sinh lần đầu của Viện. Ðể tìm cách đánh gục đề án của Khâm ngay trước khi trình lên Bộ. Thế mà Tốn vẫn không thoả mãn. Khâm bình tĩnh nói: "Tốn này, chỉ duy nhất có hai đứa mình là cùng lớp ở Viện. Chúng mình phải giúp đỡ nhau để vươn lên chứ". "Giúp đỡ cái con khỉ". Tốn cáu: "Ganh đua với bạn, bao giờ chơi trội lại cướp người yêu của bạn mà còn lên giọng đạo đức giả". Khâm bảo: "Tớ đâu có ganh đua, đấy là cậu tưởng tượng ra đấy thôi. Bây giờ cậu là trưởng phòng, tớ chỉ là kỹ sư quèn. Làm sao cậu bảo tớ chơi trội". Khâm dừng lại châm điếu thuốc hút một hơi rồi tiếp" "Còn chuyện tớ với Hương. Tớ đã rút lui ngay từ đầu khi cậu đề nghị. Nhưng cậu không chinh phục được là lỗi ở cậu. Cậu biết Hương không yêu cậu mà còn định làm nhục cô ấy là đi quá xa rồi đấy....". "Thôi im đi". Tốn nổi xung: "Tao biết cái bộ mặt của mày. Mày cậy sự thông minh, đẹp trai, tài năng. Nếu không có mày thì Hương đã yêu tao". Khâm bảo: "Hình thức không quan trọng. Cái chính là cậu phải thể hiện được cái gì hay ho để cô ấy yêu". "Cút khỏi nhà tao!". Tốn đuổi Khâm ra như thế.
Hồi Khâm cưới Hương, ai cũng bảo: "Thật là một cặp uyên ương". "Thằng Khâm đẹp trai, đức độ. Con Hương yêu nó là phải rồi". Cưới được một năm thì Hương sinh con gái, bỗng cả Viện xôn xao: "Con gái thằng Khâm giống đúc thằng Tốn". "Trẻ con làm sao mà đã biết được". "Thì giỏ nhà ai quai nhà nấy chứ!". Nhưng rồi dư luận bị dập tắt ngay vì họ không nỡ làm nhục Khâm, một người hiền lành như đất. Ðáng lẽ như thế thì Tốn phải im đi. Tốn lại đi loa khắp nơi: "Ðứa con gái của Hương là con tớ đấy". Bấy giờ Tốn cứ tưởng như thế là vinh quang lắm.
Tốn nhớ lại cái đêm trèo qua cửa sổ vào phòng ngủ của Hương. Cô hết hồn định kêu lên nhưng Tốn đã đặt tay lên miệng cô. "Suỵt, Bình tĩnh Hương. Anh không làm gì em đâu". Hương với tay định bật đèn, Tốn bảo: "Ðừng làm mọi người thức giấc. AnhÕ muốn hỏi em chuyện này?". "Chuyện gì thì để sángÕ mai. Anh ra đi không em kêu lên đây này". Hương bật tung chăn đứng lên. Bộ đồ ngủ mỏng manh của cô dưới ánh trăng mờ qua cửa sổ toát lên một sự hấp dẫn kỳ lạ. Tốn đặt tay lên vai Hương ấn cô ngồi xuống. "Anh muốn hỏi em một lần cuối. Hôm nay em phải nói thực đi. Em có yêu anh không?". Hương nhìn thẳng vào mặt Tốn: "Không! Tôi không bao giờ yêu một người đàn ông thô bạo như anh. Anh ra đi". "Nói dối!". Tốn vẫn lì lợm: "Chẳng lẽ bấy lâu anh theo đuổi em mà em không có chút cảm tình nào với anh sao". Chưa kịp để Hương trả lời. Tốn chớp thời cơ ghì đầu cô hôn lên môi. Hương vùng vằng rồi xô mạnh, Tốn phải buông ra. Không kiềm chế được mình cô giáng một cái tát vào mặt Tốn. Tốn ôm má sững sờ. Hương chạy ra mở cửa, bật điện. Tốn buộc phải ra về như một con thú bị thương.
Vào dịp đó Khâm đi công tác ở Sài Gòn. Tốn nhờ Hoàng cùng vào để bắt Khâm phải cắt đứt quan hệ với Hương. "Mày phải chuyển đi cơ quan khác để cô ấy quênÕ mày đi!" Khâm kiên quyết không chịu. "Tình yêu không thể ép buộc được. Nếu Hương yêu cậu thì tớ đi khỏi Viện cũng vậy thôi". Lần đó ở nhà khách của Viện, Tốn bịÕ mất tiền. Số tiền Tốn và HoàngÕ bán xe máy buôn từ Hà Nội vào, không có cánh mà bay. Phòng khách chỉ có ba người. Tốn đã nghi cho Khâm. "Mày lấy tiền của chúng tao giấu ở đâu?". Tốn văn hỏi. Khâm tái mặt: "Chúng mày đồ trẻ con!". Tốn bảo: "Nếu mày chịu trả số tiền cho chúng tao, tao sẽ nhường con Hương choÕ mày và sẽ không nói cho ai biết việc mày ăn cắp".
Mặt Khâm từ tái chuyển sang đỏ bừng: "Ðồ mất dạy. Chúng bay muốn làm gì tao thì làm chứ không được động đến cô ấy!". Cao thượng ghê nhỉ?". Tốn nói rồi nháy mắt cho Hoàng ra đóng cửa và xắn tay áo lên đe doạ. Nhưng Tốn biết Khâm không phải là thằng ăn cắp. Từ ngày học với nhau Khâm chưa hề lấy cáiÕ gì của bạn.
Cuối cùng Tốn bảo: "Tao đã ngủ với con Hương rồi đấy! Mày dám cưới nói không?". Khâm sững người đi một lúc. Tốn đoán chắc lần này Khâm sẽ bỏ Hương.
Khâm về viện thì tin ăn cắp của anh đã lan khắp. Ai cũng nhìn Khâm với con mắt dò xét. "Sếp" của anh cũng thành kiến với anh. Khâm ít nói đến trầm lặng. Từ ngày cưới Hương, Khâm lấy khoa học làm vui. Anh mày mò vớiÕ mấy cái nguồn phóng xạ nguy hiểm hòng nghiên cứu vấn đề gì đó nhưng Tốn cười mỉa vì Khâm đâu biết để có được thí nghiệm chính xác phải cần tiền tỷ mà người trình đề án lên Bộ xét duyệt lại là Tốn.
Một cú bất ngờ đột biến trong đời Khâm: Người Viện trưởng mới quan tâm đến vấn đề anh đang theo đuổi vì vậy đã cho anh đi dự hội thảo khoa học ở nước ngoài ba tháng. Thế mà Khâm bảo vệ được luận án phó tiến sĩ.
Thắm nói: "Chú Duy, Viện trưởng kể anh Khâm bảo vệ được phó tiến sĩ là nhờ những báo cáo tính toán lý thuyết gì đó được Viện nước ngoài đánh giá cao".
Tốn vẫn ngồi im.
Thắm giục: "Ði đi anh, mọi người đi hết rồi đấy!".
Tốn bật dậy: "Cô đi với họ đi. Hãy để cho tôi yên!".
Mặc Thắm ngạc nhiên, Tốn đi ra cổng Viện, vẫy xe tắc xi về nhà. Tốn chợt để ý đến những cây trụ điện bên đường, cứ đều đều từng quãng một, chống đỡ những luồng cây cao thế. Rồi để vượt qua sông, người ta phải xây trụ cao cấp nhiều lần. Tốn liên tưởng đến Khâm, bây giờ khoảng cách giữa Tốn và cậu ấy đã quá xa.
|
|
|
| Thấy gì từ “thảm họa” teen... đẻ rơi? |
|
Đăng bởi: prince.new01 - 01-26-2011, 05:43 AM - Diễn đàn: Đọc Suy Ngẫm, Xưa & Nay
- Không có trả lời
|
 |
Thấy gì từ “thảm họa” teen... đẻ rơi?
Sau cú sốc về một teen girl sinh con rồi bỏ lại luôn trong nhà vệ sinh trường, giờ lại thêm vụ 9x mang thai 9 tháng mà cả nhà không ai hay biết, đẻ “rơi” luôn ở nhà tắm...
Yêu hết mình, rồi “ngây ngô” dính thai là hệ lụy cực dễ gặp từ những mối tình tuổi học trò. Khi chưa có đủ kiến thức về tình dục an toàn, về sức khỏe sinh sản và cách phòng tránh, teen vẫn hồn nhiên yêu, quan hệ không có biện pháp phòng tránh và hồn nhiên chẳng biết xử lý thế nào nếu nhỡ may mang bầu. Chính điều đó đã đem lại những “thảm họa” đẻ rơi, teen vì sợ mà giấu tịt đi sự thật, còn bố mẹ hoàn toàn không biết chuyện gì đang xảy ra với con mình.
Tháng 11 năm 2010, một teen lớp 10 (tỉnh T) đã để lại một... bào thai 7 tháng tuổi trong nhà vệ sinh của trường. Sau khi trải qua chuyện đau đớn, bạn nữ về nhà nói với mẹ là “con bị ngã, đau lắm” rồi về phòng nằm nghỉ. Chuyện trở nên ầm ỹ khi các chú công an tới nhà hỏi han, bạn mới thú nhận với mẹ là mình vừa bỏ lại bào thai 7 tháng tuổi trong nhà vệ sinh trường. Mẹ bạn hoảng hồn đưa con vào viện cấp cứu, chính bác ấy cũng bị sốc tới mức ngất lên ngất xuống.
Người mẹ thì nghĩ rằng đứa con 14 tuổi của mình ngây thơ có biết gì đâu. Thực ra, ngay cả chính bạn nữ này cũng không hề biết mình đã “dính thai”, chỉ tới em bé phát triển, đạp chân vào bụng thì bạn mới biết. Mặc dù vậy bạn cũng chưa từng đi khám thai để biết mình đang “làm sao, thế nào”.
Hầu hết các trường hợp teen sinh con bất đắc dĩ bây giờ đều còn quá ngây ngô với kiến thức về sức khỏe sinh sản. Ngay cả khi biết mình có thai, nhưng vì quá sợ hãi không dám đối mặt với hậu quả, với gia đình nên teen cứ im lặng che giấu. Suốt thời gian giấu diếm đó, teen phải sống cực kỳ căng thẳng, lo lắng, tâm trạng không hề tốt nên rất dễ bị đẻ non, sức khỏe suy giảm. Nguy hiểm đến thế mà các bạn vẫn không chịu đến cơ sở y tế khám thai, và cuối cùng, nỗi sợ hãi đã kéo theo thảm họa mà các bạn phải gánh chịu sau này. Khi mọi chuyện vỡ lở cũng là lúc teen girl rơi vào tình trạng sức khỏe cực xấu, có thể bị đẻ non ở bất cứ đâu, thường là trong nhà vệ sinh trường, hay sinh con ngay ở nhà như vụ mới đây của bạn nữ tên L – 19 tuổi tại Hà Nội.
Như mọi lần, L đi học về là chuẩn bị vào nhà vệ sinh tắm rửa. Hôm đó, thấy L tắm quá lâu, lại có tiếng kêu nên người nhà đẩy cửa bước vào. Một cảnh tượng hãi hùng đang diễn ra, L nằm dưới sàn nhà và đang cho ra đời một... em bé. Mẹ L thì sợ quá nên ngất xỉu, còn bố bạn gọi ngay cấp cứu đưa L vào viện.
Rất may, đứa trẻ đã được cấp cứu, nặng 2,9kg và đang nằm ở khoa điều trị để theo dõi sức khỏe. Cảnh sinh nở của L trong nhà tắm đã khiến bố mẹ bạn sốc hoàn toàn. Mọi người đều không hay biết L có bầu (có thể do mùa đông bạn mặc nhiều áo rộng để che bụng), L cũng khẳng định bạn không biết. Nhưng điều này rất vô lý, bởi mang thai đến tháng thứ 9 mà chẳng biết gì thì quả thực không tin nổi. Chính L phải biết rõ nhất những thay đổi trong cơ thể mình (đã quan hệ với bạn trai, tắt kinh quá lâu, nghén, bụng to ra, em bé đạp), có thể vì quá sợ hay vì những lý do tế nhị khác mà L không dám nói với mẹ.
Bố mẹ thì không để ý đến những thay đổi của con gái, thời gian gần đây, mẹ L thấy L có gì đó khang khác, ít ngồi trò chuyện cùng gia đình, ăn cơm xong là chui ngay vào phòng riêng nhưng không ai nghĩ đến khả năng L bị dính bầu, mà lại còn để đến tận tháng thứ 9. Và cuối cùng, “thảm họa” xảy ra khiến mọi người đều vô cùng bối rối. Hiện tại, gia đình L muốn giữ bí mật về đứa trẻ để không ảnh hưởng đến tương lai của L bằng cách cho cháu đi làm con nuôi. Liệu còn biết bao nhiêu trường hợp đau lòng như thế này, bố mẹ thì vô tâm nghĩ rằng “con mình không thể mang bầu ở tuổi teen”, còn teen thì dại dột giấu diếm sự thật đến phút cuối cùng?
Vậy là ở cái tuổi non nớt của mình, cả bạn nữ bỏ lại bào thai 7 tháng và L nói trên đều đã trải qua thời gian kinh khủng nhất đời mình, cứ giấu diếm gia đình để rồi rốt cuộc sự thật vẫn “vỡ” ra với bao nhiêu ê chề, nhục nhã cho cả gia đình lẫn bản thân. Hơn nữa, điều này còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của teen girl, và cũng thật tội nghiệp cho những đứa trẻ bị đẻ non khi người mẹ tuổi teen không muốn sự ra đời của chúng, nhưng lại vì sợ hãi, ngây ngô mà im lặng.
|
|
|
| 17 Năm và 17 ngày |
|
Đăng bởi: Bụt. - 01-26-2011, 05:43 AM - Diễn đàn: Truyện đọc
- Không có trả lời
|
 |
Tác Giả: Ái Dung
Dù cuộc đời có bao nhiêu biến động đi nữa, ánh mắt đầu tiên mà anh dành cho cô sau mười bảy năm vẫn không hề thay đổi. Tuy nhiên, cô lại không nghĩ thế.
Mười bảy năm trước, vào một chiều giông bão, có hai người bạn đồng hành nép dưới một cái lán tranh cô độc bên đường để tránh cơn thịnh nộ của đất trời.
Con đường trải dài trước mắt, bùn đất lầy lội. Hai bên đồng ruộng mênh mông, lấp xấp nước, không một bóng người. Cơn giông tháng 6 ập tới tựa một người đàn bà quyền uy và ngạo mạn.
Hai chiếc xe đạp quăng chỏng chơ ngoài đường cái. Cô gái với mớ tóc ướt, vừa rũ quần áo, vừa ríu rít cười nói.
Người đàn ông mặc bộ đồ ka-ki cũ chỉ lặng yên hút thuốc. Ánh mắt dịu dàng và trìu mến của anh không rời khuôn mặt cô.
“Đây là đâu anh?” “Đại Điền”. “Đi đường vòng xa quá, hơn cả chục cây số chớ ít gì, mình không lỡ chuyến đò ngang Phú Cốc là đã về Nha Trang từ tám kiếp". "À, có vậy em mới biết thêm những con đường và nhiều vùng đất mới".
"Thôi đi anh, nếu đi thám hiểm thì cũng không đi bằng hai chiếc xe đạp cọc cạch này đâu. Ô, anh có nhìn thấy vệt gì đỏ rực ở ngay trên sườn núi không? Hình như mái ngói mới thì phải!".
"Cô giáo cận thị à, hàng phượng đỏ đó".
"Em chưa thấy phượng mọc tự nhiên trên núi".
"Tức là em cũng chưa đến đó phải không?".
"Hừm, em chưa phải lên núi làm rẫy đốt than đâu".
Mưa ngừng đột ngột. Người đàn ông nhìn trời, nhìn đồng hồ, trầm ngâm: "Có thể được đấy, bây giờ em có đi đến đó cùng anh không?”.
"Đi đâu?".
"Không phải em vẫn ước được viếng am Chúa trên núi Đại An sao?".
"Em đi với!", cô gái reo lên sung sướng, rũ áo mưa loạt soạt, ào ra dựng xe đạp lên.
Cô chỉ móc cái xách tay vào ghi-đông là xong. Cô quay đầu lại chờ anh thận trọng cột cuốc, rựa, ga-men và thêm hai cái sọt đầy ắp chuối, mít, đu đủ, khoai mì.
Đường lên am Chúa khá quang đãng. Họ tìm được nơi gửi xe, vượt qua mấy chục bậc tam cấp bằng đá mới đến cổng.
Ngay trước khuôn viên, mấy gốc phượng già đang vươn tán, bung nở chói chang giữa ngàn xanh. Thấp thoáng trên cao, ngôi chánh điện khiêm tốn.
Cô thầm thì: "Ngại quá, em chưa đi lễ chùa bao giờ".
Cửa đền rộng mở, hai người đi vòng vòng chung quanh, đọc kỳ hết văn bia được dựng lên ở các miếu thờ phía ngoài.
"Em đã thấy những ruộng dưa trên đường mình lên núi. Lẽ ra người ta phải cắm biển giới thiệu rằng thời thiếu nữ của nữ thần Thiên-Y-A-Na đã từng chịu nắng mưa ở đất này. Đây cũng là nơi bà giáng trần. Dòng sông đã đưa khúc trầm hóa thân của bà ra biển lớn phải không anh?”.
"Ừ, rồi từ biển lớn, bà tìm về dòng sông quê mình. Bao đời nay, Tháp Bà Ponagar bên sông Cái vẫn nhìn ra cửa biển, trấn giữ thái bình...".
Họ xin được vào lễ Bà. Ông trị sự trang nghiêm: “Cô chú mỗi người thắp tám cây nhang, tới tám bàn". Cô lúng túng đi theo anh.
Anh đứng bên cô, chắp tay trước ngực thành khẩn. "Mình cũng phải cầu xin điều gì chứ” - cô thầm nghĩ.
Một phút trôi qua, cô cũng làm y hệt anh. Cô không biết rằng, đây là lần đầu tiên người đàn ông bên cạnh cô quỳ trước đấng thiêng liêng để cầu xin một phép lạ.
*
Tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm, Tâm nhận quyết định về một ngôi trường nhỏ ven sông thuộc huyện Diên Khánh, cách Nha Trang 18 cây số. Hằng ngày, từ 5 giờ sáng, Tâm đã phải đạp xe đi. Mùa đông năm đầu tiên rét cóng, đến được bến sông, tay chân, mặt mũi cô dường như đông cứng lại.
Cũng ở cái bến sông này, Tâm nhiều lần ứa nước mắt, thấm thía câu nói: "Muốn qua sông phải lụy đò".
Có lần Tâm về trễ, gặp đêm tối trời, gió lành lạnh, cô cắm cúi đạp xe.
Vài gã thanh niên ngông cuồng rú ga xe máy vọt lên, ép sát một bên làm Tâm mấy lần suýt xuống ruộng.
Linh tính báo cho cô biết, hình như cô đang bị một tay đi xe đạp kèm sát từ lúc rời khỏi bến đò.
Ban đầu cô không để ý, vì vào giờ khắc này, trên đường vẫn còn nhiều người qua lại. Song những thanh âm kẽo kẹt phát ra từ cái xe ấy khiến cô không nén được tò mò.
Đó là một chiếc xe đạp đòn giông không vè chắn, gồng gánh nào cuốc, rựa, thúng, mủng, bao tải. Chủ nhân của nó là một người đàn ông trẻ, ăn mặc theo kiểu dân làm rẫy không chuyên. Đôi mắt sáng của anh nhìn cô thân thiện.
Tâm ngơ ngác, dường như cô đã gặp anh ở đâu đó. Bất giác, cô cũng nhoẻn miệng cười lại. Tay lái của cô bỗng chao đi vì một cái ổ gà nằm chễm chệ trên đường.
"Trời tối, cô giáo phải cẩn thận đó nghe".
"Ủa, nhưng anh là ai?".
Người đàn ông cười nhẹ: "Tôi làm bảo vệ cho cô lâu nay mà cô không biết sao?".
Tâm rất đỗi ngạc nhiên.
Sau này nhắc lại, Phục nói: "Lúc đó anh không có ý định làm quen vì mặc cảm thân phận, nhưng ánh mắt và nụ cười của em trong trẻo quá".
Họ quen nhau giản dị như thế. Phục làm rẫy ở khu kinh tế mới Đất Sét, cách trường Tâm dạy hơn 5 cây số. Gia đình, vợ con anh ở Nha Trang. Một tuần, anh về nhà được đôi ba lần.
Phục là luật sư của chế độ cũ, chưa hết thời gian tập sự đã chịu cảnh thất nghiệp. Vợ anh là cô nuôi dạy trẻ. Con gái đầu lòng của họ mới lên hai. Tổ ấm gia đình anh thực sự là thiên đường thu nhỏ.
Từ đó, mỗi buổi chiều về nhà, Tâm thường thấy Phục chờ sẵn dưới bến đò. Đi bên anh, cô cảm thấy tin cậy.
Phục cũng thường kể về vợ con anh. Chị là tiểu thư con nhà giàu, đem lòng yêu chàng gia sư mồ côi, học giỏi và đầy nghị lực. Bé Nâu là kết tinh của một tình yêu chân thành.
Phục đúng là mẫu người đàn ông lý tưởng của gia đình. Có lần nhìn thấy anh chở một bó lá sau xe, Tâm tò mò hỏi. Phục cười: "Lá để chằm nón".
Cao hứng, anh giảng cho cô một bài về nghệ thuật làm nón ở quê anh. Tâm háo hức: "Nhớ làm cho em một cái nhé!".
Thỉnh thoảng, Tâm cũng ghé ăn với gia đình Phục bữa cơm, dắt bé Nâu đi chơi. Chị Trinh, vợ anh, là một phụ nữ nhiệt tình và chu đáo. Chị xem Tâm như đứa em gái nhỏ cần sự chăm sóc chở che.
Tâm nghĩ họ hạnh phúc biết chừng nào. Đôi khi cô thấy mình có lỗi và mơ hồ nhận ra mình đang phạm phải một sai lầm nào đó.
Nhưng Tâm tin vào bản chất hướng thiện trong con người cô.
Trong mắt Phục, cô hãy còn trẻ con lắm. Anh vẫn tự nghĩ: “Mình không phải con người lãng mạn”.
Anh thù ghét sự phản trắc, chung chạ và chưa bao giờ dành sự quan tâm của mình đến một người phụ nữ nào khác ngoài vợ con. Cái đẹp thể xác của người phụ nữ đối với anh hoàn toàn phù phiếm và giả tạo.
Thế nên Phục không thể nào hiểu nổi vì sao hình ảnh của Tâm khi vừa thoáng gặp đã gieo vào anh một sự rung động mãnh liệt đến vậy. Mãi mãi, Phục vẫn không quên giây phút gặp Tâm lẻ loi ngồi chờ đò trên bến sông vắng giữa bóng chiều.
Cô như tách khỏi thực tại, không ăn nhập gì với thế gian, mông lung đắm chìm vào cõi riêng tư của mình.
Sự mỏng manh của cô gái trước dòng sông màu rêu thẫm cuồn cuộn chảy xiết và những bụi tre um tùm gai góc cứa vào lòng anh một nỗi xót xa kỳ lạ.
Không ai dám gọi tên tình cảm của mình.
Tâm vẫn cứ là cô em gái nhỏ hồn nhiên của vợ chồng Phục. Và họ cứ mong cuộc đời mãi mãi êm trôi như thế.
Đôi khi trước ánh mắt nồng nàn đăm đắm của anh, Tâm quay đi khóc thầm. Nhưng những giọt nước mắt tan đi rất nhanh, như mưa bóng mây vậy.
*
Hai năm sau, Phục nhận được lời mời về làm việc tại một cơ quan lớn ở TPHCM. Công việc phù hợp với chuyên môn của anh và khả năng thăng tiến rất cao.
Cả gia đình nhỏ của anh sẽ cùng đi theo. Tâm đến giúp vợ chồng anh thu dọn nhà cửa. “Hẹn gặp lại!”, bé Nâu òa khóc trong tay Tâm: “Cô Tâm, cô đi với Nâu!”.
Chỉ có người lớn là tươi cười rạng rỡ, chúc nhau may mắn, thành đạt. Tâm biết làm gì hơn. Họ đã đi rồi.
Ánh mắt của Phục vẫn bỏng rát, thiết tha. Nó nhấn chìm Tâm trong nỗi đau đớn. Cả hai đều biết rằng họ không thể nào quên nhau, nhưng không ai dám nghĩ đến ngày gặp lại.
Và cuộc đời có bao nhiêu biến động đi nữa, ánh mắt đầu tiên của Phục sau mười bảy năm dành cho Tâm vẫn không thay đổi. Họ gặp lại nhau không bất ngờ, cũng chẳng tính toán, cứ như là cuộc đời vốn phải như thế, có tan có hợp.
Họ đã kịp biết đôi điều về nhau và cùng tự hỏi: “Phải chăng đây cũng là sự sắp đặt trớ trêu của đấng tối cao”.
Sợi dây ràng buộc ngày xưa đã đứt. Phục ghì chặt Tâm trong vòng tay, hôn lên khuôn mặt đẫm nước mắt của cô. "Em, em à, em có biết là anh đã yêu em từ cái nhìn đầu tiên cách đây 17 năm không?".
Tâm im lặng, nuốt đắng cay vào lòng. Thế là cuối cùng, điều đó đã được thốt ra từ chính miệng Phục. “Em nói đi, em nói yêu anh đi!". Tâm chỉ biết gật đầu, lắc đầu, rồi ngoảnh đi nơi khác.
“Em có biết ngày ấy khi cùng vào làm lễ ở am Chúa, anh cầu xin điều gì không?”.
Tâm mở to mắt nhìn Phục. Anh thì thầm bên tai cô: “Anh khấn rằng nếu Bà linh thiêng thì cho con được đời đời kiếp kiếp ở bên cạnh người con gái này. Nếu kiếp này không được, kiếp sau xin cho cô ấy làm vợ con”.
Tâm lau nước mắt, phì cười: "Còn em thì ngược lại, em nói là Bà ơi, con là người lớn lên trong am điện, nhưng sao con chẳng có đức tin gì cả. Có gì xin Bà chỉ bảo, đừng quở phạt con".
Phục cười hì hì, vẫn cái nét hiền lành nhẫn nhịn của ngày nào. "Em yêu, anh yêu em lắm, em là của anh!". Phục nhắc đi nhắc lại một cách say mê và đầy dứt khoát.
Phục quanh quẩn bên cô hết thời gian cho phép. Anh phải trở về với công việc và hoàn cảnh hiện tại của mình. Tâm biết sẽ không có gì cản trở anh việc tiếp tục tìm đến cô như thế này và chỉ như thế này mà thôi.
Họ đã từng có với nhau những ngày xa xưa rất đẹp và cả mười bảy năm không ngừng mộng tưởng. Mười bảy năm không là của nhau ấy cũng rất đẹp.
*
Rồi Tâm sực nhớ đến kỷ vật ngày xưa bị bỏ quên trên gác xép. Cô bới tung những thứ không tên lên để lôi nó ra ánh sáng.
Tâm không nhầm, nó vẫn còn nguyên vẹn, âm thầm chờ ngày được bàn tay cô vuốt ve. Tâm thận trọng nhấc nó lên tay. Kỷ vật nhẹ bâng mà sao cô cảm thấy như mình đang phải gánh gồng nặng nợ.
Ngày ấy, khi trao cho cô cái nón lá, Phục đùa: “Tình thư một bức phong còn kín". Tâm cũng trả treo lại: "Kín mà hở, nhưng em không thèm mở ra đọc đâu".
Tâm không "đọc" vì có lý do riêng của mình. Cô mang cái nón lá về nhà, thẫn thờ ngắm nó rồi lấy giấy báo gói lại thật kỹ. Khi Phục đi xa, cô cất hẳn nó lên gác xép.
Những lớp giấy báo ố vàng rơi lả tả. Tim Tâm thót lại. Cô lại phạm thêm một sai lầm nữa. Lẽ ra cô không nên bới nó ra. Thật vậy, cái nón lá không còn như ngày xưa nữa, nó nát vụn trong tay cô.
Sau đó, Phục vẫn tiếp tục tìm cách liên lạc, nhưng Tâm không còn để ý đến điều đó nữa. Ngẫu nhiên, họ chỉ có đúng mười bảy ngày để giãi bày những gì chôn kín trong mười bảy năm, rồi lại tiếp tục chia xa. Chỉ có khác một điều, đó là sự chia xa chủ động và tự nguyện.
Mười bảy năm trước, có lẽ Tâm cũng khác bây giờ, Phục cũng vậy.
|
|
|
| "Khách lạ" trong thế giới ảo II: Cuộc sống ảo và cái chết thật |
|
Đăng bởi: Bụt. - 01-26-2011, 05:42 AM - Diễn đàn: Tin công nghệ
- Không có trả lời
|
 |
Second Life (Cuộc sống thứ hai) là một game nhập vai trực tuyến mô phỏng cuộc sống ngoài đời thực với kỹ thuật không gian ba chiều 3D. Người chơi có thể tạo ra hình ảnh đại diện của mình và điều khiển theo ý mình. Mọi người có thể tương tác với nhau thông qua hình ảnh đại diện đó.
![[Image: img-1295975063-1.jpg]](http://vtcdn.com/files/imagecache/med/images/2011/1/26/img-1295975063-1.jpg)
Bức ảnh của Carmen Hermosillo (Phải) và một trong những avatar của cô tại lễ truy điệu
Hấp lực của thế giới ảo
Trước khi bước vào Second Life, Carmen Hermosillo, một phụ nữ sống tại California, Mỹ từng tham gia một cộng đồng ảo trên Internet có tên The Well - một trong những cộng đồng ảo lâu đời nhất và nổi tiếng với những diễn đàn internet. Thời gian đó cô đã viết rất nhiều bài phê bình về The Well để cảnh báo ảo tưởng về tính chân thực trong những mối quan hệ ảo. “Những phụ nữ trong The Well cảm nhận sự quan tâm của người đàn ông ở một vài mức độ. Nhưng quan trọng hơn hết, họ tin vào sự chân thực ở cái biểu tượng của người đàn ông và cố gắng làm cho nó trở nên thật nhiều ý nghĩa, bằng cách để avatar làm thật nhiều hành động lãng mạn, trong đó có cả làm tình với biểu tượng của người đàn ông. Và mối quan hệ trong game đã ảnh hưởng đến họ. Trong khi các avatar hành động thì những chủ nhân của nó lại luôn có cảm giác đang làm thế. Họ cảm thấy đau đớn khi nó kết thúc một cách đáng thất vọng...”. Carmen thấu hiểu điều đó bởi chính bản thân cô đã từng “thất tình” vì những mối quan hệ ảo trên mạng.
Một ngày khi tìm thấy Second Life, Carmen thấy đó là một thế giới tuyệt vời hơn cả The Well. Người sử dụng được trao cho “quyền năng” tạo ra những gì họ muốn. Tạo ra những vật thể với hình dạng bất kỳ, dệt ra chúng, thậm chí viết ra cả một kịch bản cho chúng. Như ngoài đời thực, họ có thể làm tất cả những gì mình muốn. Xây nhà, lập công ty, buôn bán... Và người chơi có thể tùy ý thay đổi diện mạo cho nhân vật để trông xinh đẹp và nóng bỏng nhất.
Tham gia Second Life, Carmen không chỉ xây nhà, cô tập hợp cả một đội quân những người bạn giúp cô xây dựng một thành phố Pháp cổ xưa tráng lệ trên một hòn đảo. Và họ cùng nhau nhập vai thành các nhân vật trong thành phố ảo ấy: công tước, hiệp sĩ, vệ sĩ riêng và cả thượng tướng hải quân.
Một vài thành viên của vương quốc Second Life như Carmen, với hiểu biết sâu về công nghệ thông tin liên lạc và lập trình đã bắt tay để xây dựng những tiểu vương quốc ảo. Ở đó avatar của Carmen đã gặp và kết đôi với Riz - một avatar khác. Cả hai là đồng sáng lập một cộng đồng nhập vai khổng lồ được biết đến với cái tên Gor - tên một địa điểm hư cấu trong loạt tiểu thuyết khoa học viễn tưởng của John Norman, tiểu thuyết gia người Anh. Nô lệ của Gor (The slaves of Gor) là cuốn bán chạy nhất trong loạt tiểu thuyết nói về một hành tinh với chế độ chiếm hữu nô lệ tình dục. Khoảng 300 hòn đảo trong Second Life với khoảng 50.000 cư dân đã tham gia cộng đồng mang tên Gorean. Cộng đồng Gorean gắn chặt với những giáo điều có trong thế giới quyển tiểu thuyết của Norman.
Theo nguyên tắc chung, những giáo chủ Gorean chọn nô lệ để phục vụ nhu cầu tình dục của mình. Những nô lệ trong Second Life mặc trang phục gợi cảm và phải phục dưới chân giáo chủ cho đến khi được yêu cầu nói hay phục vụ giáo chủ. Họ có cả một ngôn ngữ riêng, Ví dụ như từ nữ nô lệ tình dục gọi là “kaijira”. Nhưng sản phẩm văn hóa gây ấn tượng mạnh nhất trong Gorean là từ “collar” - quan hệ tình dục. Khi giáo chủ chọn một nô lệ, ông ta “collar” cô ta. Trong Gorean, Riz là giáo chủ và Carmen là một kaijira.
Carmen hoàn toàn ý thức được những gì cô đang làm trong Second Life sau những gì cô đã trải qua khi tham gia The Well. Nhưng lẽ ra phải luôn tỉnh táo trong một trò chơi ảo thì Carmen lại ngày càng chìm đắm trong mối quan hệ với Riz. Mối quan hệ của cô và Riz vượt khỏi tường rào Gorean vào trong thế giới thực. Họ nói chuyện điện thoại với nhau vài lần trong ngày và rõ ràng Carmen đã yêu Riz sâu sắc. Bạn bè cô chờ đợi mối quan hệ này đổ vỡ để kéo cô ra khỏi trò chơi này.
Bến bờ ảo vọng
Đã có lúc xảy ra vài chuyện tưởng như là tín hiệu khả quan chứng tỏ Carmen đã sáng suốt và hoàn toàn làm chủ bản thân. Cô trở thành một thành viên nhiệt tình trong việc lập ra nơi lưu trú cho những người bị hành hạ trong cộng đồng Gorean. Cô trả tiền thuê cả một nhà tâm lý học, đưa vào trong thế giới Gorean để nói chuyện với những nô lệ trong Gorean, giúp họ vượt qua sự lạm dụng của giáo chủ. Cô đã cảnh báo mọi người. Trong thời gian đó Carmen thậm chí tâm sự với em gái cô sẽ rời bỏ Second Life. Nhưng ý thức được không có nghĩa là có thể giữ cho mình khỏi sai lầm. Công việc không tốt, mẹ cô qua đời, Carmen nộp đơn tìm việc mà không có kết quả. Và với tất cả chán nản cô lại tìm đến với Riz.
Trước đó Carmen đã viết một bài báo cho Second Life Herald với tiêu đề “Lời thú tội của một nô lệ Gorean”, kể chi tiết về những trải nghiệm làm một nô lệ trong trò chơi. “Những nô lệ không dễ dàng rời bỏ giáo chủ nhưng trên thực tế họ có thể bị bỏ rơi bất cứ lúc nào. Một giáo chủ già dặn từng nói: “Bạn nên nhận ra rằng khi bạn đặt một collar lên một ai đó, ngay cả khi chỉ là online thì thực tế bạn đang giao cấu với con người thực”. Tôi không muốn bàn cãi lời nói của giáo chủ. Tôi chỉ muốn nói rằng: có quá nhiều điều kỳ bí trong thế giới này”. Cô rõ ràng đã lường trước được nguy hiểm của mối quan hệ ảo, nhưng khi Riz biến mất khỏi trò chơi thì Carmen đau khổ thật sự. Cô đã bị loại bỏ bởi chính giáo chủ của mình!
Hai tuần sau khi bị Riz bỏ rơi, suốt buổi chiều 8-8-2008 cô bắt đầu xóa hết tài khoản trên mạng của mình, ít nhất là chín cái và sau đó ra đi trên chiếc giường trong căn hộ ở California. Theo kết luận từ cơ quan điều tra, nguyên nhân chính thức gây ra cái chết của cô là chứng loạn nhịp tim và chứng lupus ban đỏ. Họ không khám nghiệm tử thi của cô và một số người thân cận với cô không tin đây chỉ là một tai nạn.
Nhà văn - nghệ sĩ người Mỹ Stephen Meadows, người từng viết cuốn sách nổi tiếng về những cộng đồng ảo và giáo sư triết học Peter Ludlow cho đó là vụ tự tử. Em gái của Carmen, một cựu nhân viên trong ngành cảnh sát, cũng nói chị cô từng có kết quả xét nghiệm và không nghĩ chị ấy bị lupus ban đỏ. Nhân viên điều tra nói rằng Carmen chết ngày 10-8-2008 nhưng cô em gái biết chị mình đã ra đi từ ngày 8-8-2008, ngày Carmen không còn trả lời email cho em gái lúc 4 giờ chiều nữa.
Có một thực tế là Carmen đã sống gần như cả quãng đời trưởng thành của mình trong thế giới ảo. Và cô đã bị bao trùm trong những bi kịch cùng những nguy hiểm bởi chính cái avatar mà cô tạo ra. Trong sự tổn thương, Carmen đã nhầm lẫn giả thành thật, nó đã đưa cô đến bến bờ của cái chết đầy ảo vọng...
Theo TTO:-*
|
|
|
|